skkn một số kinh nghiệp giáo dục trẻ 5 6 tuổi có ý thức bảo vệ môi trường - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐAOG TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI CÓ Ý
THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Người thực hiện: Đặng Thị Định
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Quang Trung
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA NĂM 2016
1


MỤC LỤC

NỘI DUNG
I.MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Các phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1.Cơ sở lý luận
2.Thực trạng của vấn đề
2.1.Thuận lợi
2.2.Khó khăn
2.3.Kết quả thực trạng

10
12
13
14
14
14
14

2


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Chúng ta biết rằng: Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng bỏng của
toàn cầu. Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang chịu ảnh hưởng
nặng nề của tình trạng ô nhiễm môi trường. Bảo vệ môi trường là việc làm
không riêng của một quốc gia mà là việc của cả thế giới con người. Vậy bảo vệ
môi trường là gì? Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn và khắc phục hậu
quả của con người gây ra cho môi trường.
Đối với trẻ mầm non, mà đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo lớn, “giai đoạn
quan trọng” trong quá trình hình thành nhân cách con người thì việc giáo dục
bảo vệ môi trường cho trẻ là rất cần thiết. Bởi trẻ lứa tuổi này rất thích tiếp xúc
với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh nhưng còn non nớt về thể lực, nhận
thức và khả năng thích ứng với những biến đổi môi trường còn hạn chế nên là
đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Môi trường sống ngày mai phụ thuộc vào chính
hành động của trẻ ngày hôm nay. Vì vậy việc giáo dục hình thành ý thức, thái
độ, đặc biệt là hành vi đúng đắn bảo vệ môi trường sống cần phải bắt đầu từ lứa
tuổi mầm non.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều giáo viên, phụ huynh chưa nhận thức

Bởi ở giai đoạn này nhân cách của trẻ đang phát triển, trẻ hay bắt chước các hoạt
động của người xung quanh, do vậy để có một nhân cách tốt cần phải dạy trẻ một
cách khoa học, có kế hoạch trong đó có nội dung giáo dục trẻ bảo vệ môi trường.
2. Thực trạng của vấn đề.
Con người là nhân tố chính trong việc bảo vệ môi trường và cải thiện môi
trường sống nhưng cũng là yếu tố chính làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường
ngày càng gia tăng. Với từng đối tượng khác nhau cần có các hoạt động bảo vệ
môi trường khác nhau. Trong quá trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi bảo vệ môi trường,
tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
2.1. Thuận lợi.
Chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường đã đưa vào thực hiện nhiều năm
nên đã có tiền đề cơ bản cho giáo viên và trẻ. Được ban chuyên môn chỉ đạo sát
sao và nhà trường quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất.
Bản thân được tham dự lớp bồi dưỡng chuyên đề hè do phòng Giáo dục tổ
chức trong đó có chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường và dự một số hoạt động
khác của trường, của phòng GD nên tôi đã học tập được số kinh nghiệm trong
phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.
Được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của BGH về chuyên môn cùng với
sự giúp đỡ của chị em đồng nghiệp và được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh
Bản thân là một giáo viên đứng lớp lâu năm, yêu nghề mến trẻ và nắm
vững chuyên môn.
2.2. Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi trên, khi đi vào thực tế quá trình giáo dục bảo
vệ môi trường cho trẻ 5- 6 tuổi còn gặp nhiều khó khăn.
Là địa phương thuần nông nên đa số phụ huynh không có điều kiện chăm
sóc trẻ. Có không ít phụ huynh chưa nhận thức rõ ràng về dạy trẻ bảo vệ môi
trường. Họ cho rằng con đi học chỉ cần biết hát, biết múa, biết đọc thơ, kể chuyện
thế là đủ còn lại những việc khác không quan trọng. Có người lại cho rằng trẻ em
biết gì? Làm được gì mà dạy bảo vệ môi trường. Vì thế việc phối hợp với phụ
huynh trong việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường gặp nhiều khó khăn.

Số lượng Tỉ lệ %

34

23

67.6

11

32.4

34

24

70.6

10

29.4

34

24

70.6

10


về môi trường; Phần 2: Chọn hành vi đúng; Phần 3: Hành động của bé sắp xếp đồ
chơi trong lớp. Kết quả: Trẻ rất hứng thú tham gia các hoạt động cô tổ chức, đặc
biệt là hội thi “Lớp con sạch đẹp”. Trẻ biết yêu trường lớp hơn, không vứt rác bừa
bãi, tự có ý thức sắp xếp đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định, góp phần giữ cho
trường lớp luôn sạch sẽ, gọn gàng. Ngay từ đầu năm học trẻ đã có thói quen như
vậy nên lớp tôi luôn được đánh giá là lớp học sạch đẹp nhất của trường.
- Chủ đề Bản thân: Trong chủ đề này tôi lồng ghép giáo dục trẻ biết được ích
lợi của việc vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường đối với sức khỏe con người. Trẻ biết
giữ gìn tay chân sạch sẽ, không lê la dưới đất, biết đi vệ sinh đúng nơi quy định.
Ví dụ: Vào cuối buổi chiều: Tôi cho cháu lớp trưởng Văn Thái đi kiểm tra
tay, chân bạn trong lớp, nếu phát hiện thấy bẩn, cả lớp sẽ cùng cô trò chuyện về
nguyên nhân tay chân bạn bị bẩn, cách giải quyết và biện pháp giữ gìn tay chân
sạch sẽ. Từ đó trẻ tự biết giữ gìn tay chân sạch sẽ để không phải bị nhắc nhở.
Bên cạnh đó, tôi còn dạy trẻ biết một số ký hiệu như nhà vệ sinh nam, nhà vệ
sinh nữ, thùng rác, biết sử dụng một số dụng cụ vệ sinh môi trường như chổi, hót
rác, thùng rác…Kết quả: Qua chủ đề 100% trẻ lớp tôi có thói quen sống gọn gàng,
ngăn nắp, biết vệ sinh cá nhân, thường xuyên sạch sẽ, tích cực tham gia hoạt động
gần gũi như lao động trực nhật, có ý thức cao trong việc bảo vệ môi trường.
- Chủ đề gia đình: Tôi dạy trẻ nhận biết được môi trường sạch, môi
trường bẩn trong gia đình, biết được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà
trẻ, biết quý và giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng đúng chỗ, có ý thức
về điều nên làm như sắp xếp đồ dùng ngăn nắp, bỏ rác vào thùng, tắt các thiết bị
điện nước khi không sử dụng để tiết kiệm điện nước…
- Chủ đề giao thông: Tôi thường sử dụng một số hình ảnh về các phương
tiện giao thông xả khói đen gây ô nhiễm môi trường như ô tô, xe máy, tàu hỏa…
Trò chuyện về các hình ảnh người tham gia giao thông không đội mũ bảo
hiểm… Qua đó giúp trẻ hiểu một số quy định đơn giản để đảm bảo an toàn khi
tham gia giao thông như đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang tránh khói bụi. Thậm
chí trẻ lớp tôi biết nhắc bố mẹ để xe ngoài cổng trường khi đưa đón con.
- Chủ đề thế giới thực vật: Tôi giáo dục trẻ biết tầm quan trọng của cây

người trồng hoa, một bạn làm cây hoa. Cô nói “Gieo hạt” người trồng hoa làm
động tác làm nhỏ đất và dẫn hạt giống ngồi xuống đất, hạt giống nhắm mắt ngủ.
Cô nói “Hạt nảy mầm” người trồng hoa kéo hạt giống đứng lên. Cô nói “Chăm
sóc”, người trồng hoa tưới nước, nhổ cỏ, cây hoa rung rinh vẫy lá. Cô nói “Hoa
nở”, cây hoa xòe tay vẫy vẫy, người trồng hoa nhảy múa vui mừng.
Kết quả: Trẻ rất hứng thú khi chơi trò chơi. Không những thế trẻ còn biết
được công việc của người trồng và chăm sóc hoa, yêu quý cây hoa cúc và nhớ
bài thơ “Hoa cúc vàng” lâu hơn.
Ví dụ 2: Trong tiết khám phá khoa học “Cây xanh trong vườn nhà bé”, tôi
tổ chức cho trẻ chơi trò chơi học tập “Xếp đúng thứ tự”. Luật chơi: Chọn và xếp
đúng các tranh theo trình tự quá trình phát triển của cây. Cách chơi: mỗi trẻ một
bộ lô tô về sự phát triển của cây, thời gian là bài hát Chúng em trồng cây. Kết
thúc bản nhạc, ai xếp đúng nhất, nhanh nhất sẽ được cô thưởng món quà đặc biệt
đó là hạt giống đã nảy mầm. Kết quả: Bạn nào cũng cố gắng để được cô thưởng
cho hạt giống kỳ diệu. Trẻ nắm được quá trình phát triển của cây, biết cách chăm
sóc và bảo vệ cây xanh.
8


Mỗi khi sử dụng các trò chơi để giáo dục trẻ bảo vệ môi trường, trẻ thực
sự thích thú, giờ học sôi nổi, trẻ tích cực tham gia, nề nếp trẻ học ngoan kéo theo
kết quả của hoạt động cũng được nâng lên. Tóm lại các trò chơi cô tổ chức luôn
là sự mong đợi, là món quà nhỏ trong ngày đối với trẻ.
3.3. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực hành để giáo dục trẻ bảo
vệ môi trường.
Như đã nói ở trên, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường có thể lồng ghép
tích hợp trong cả một hoạt động hoặc một phần của hoạt động. Ở biện pháp cho
trẻ trải nghiệm thực hành tôi thường tổ chức lồng ghép tích hợp trong cả một
hoạt động để giáo dục trẻ. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non, rất tò
mò, thích khám phá thế giới xung quanh. Còn gì thú vị hơn khi trẻ được tự trải

Tóm lại: Biện pháp này đã mang lại kết quả cao trong quá trình giáo dục
trẻ bảo vệ môi trường. Trẻ nắm bắt được những hành động đúng, biết làm các
công việc bảo vệ môi trường, bỏ rác đúng nơi qui định, biết lên tiếng với những
việc làm như bỏ rác xuống ao hồ, sông suối… Vì đây là biện pháp thực hành
( học đi đôi với hành). Nếu việc học, việc lĩnh hội tri thức đơn thuần chỉ là lắng
nghe, tiếp nhận thông tin mà không có trải nghiệm thực tế thì hiệu quả sẽ không
cao. Còn khi ta vừa học và kết hợp làm thực hành thì nó sẽ khắc sâu hơn tri thức
đó hơn nữa còn giúp chúng ta có thêm những kỹ năng cơ bản, ban đầu. Đặc biệt
là đối với trẻ mầm non tư duy trực quan hành động luôn chiếm ưu thế.
3.4. Giáo dục trẻ bảo vệ môi trường mọi lúc mọi nơi.
Từ việc phối hợp với phụ huynh, tôi có thêm thông tin về kiến thức, kỹ
năng, thái độ bảo vệ môi trường của trẻ ở nhà. Từ đó tôi có kế hoạch cụ thể và
lựa chọn phương pháp giáo dục trẻ bảo vệ môi trường phù hợp bằng cách giáo
dục mọi lúc mọi nơi.
Để việc làm có hiệu quả, trước tiên tôi thực hiện nghiêm túc chế độ giờ
giấc trong sinh hoạt ngày của trẻ. Đây là một trong những nhân tố giáo dục thúc
đẩy mạnh mẽ phẩm chất cá nhân, khả năng tuân thủ yêu cầu của người lớn và
khả năng định hướng về thời gian cho trẻ. Tôi căn cứ vào nội dung cụ thể của
từng hoạt động để lựa chọn nội dung lồng ghép phù hợp.
Thông qua giờ đón, trả trẻ, tôi lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.
Ví dụ: Chủ đề phương tiện giao thông: tôi cùng trẻ trò chuyện về nhiều
loại phương tiện giao thông như xe đạp, xe máy, ô tô, tàu hỏa…Các loại phương
tiện cần động cơ để hoạt động thường xả ra khí thải, khói làm cho không khí bị ô
nhiễm. Những việc cần làm để không phải hít thở khói xe thả ra (đi đường đeo
khẩu trang, nhắc bố mẹ để xe ngoài cổng trường khi đưa đón con…)
Thông qua hoạt động có chủ định, đây là một trong những hoạt động để
tôi tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. Tôi căn cứ vào nội
dung của từng tiết học để tích hợp hài hòa, không ôm đồm.
Ví dụ: Qua hoạt động KPKH “ Trò chuyện về sự kỳ diệu của nước”. Tôi
lồng ghép các nội dung sau: Dạy trẻ biết thế nào là nước sạch, nước bẩn, tác

liệu gọn gàng…)
- Góc thiên nhiên: Chăm sóc cây, lau lá, nhổ cỏ, tưới cây, nhặt lá, trồng
cây…(Chơi xong trẻ biết rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ).
Kết quả: Trẻ vui vẻ, phấn khởi tham gia hoạt động và thực hành rất tốt vai
chơi của người bảo vệ môi trường.
Thông qua tổ chức giờ ăn, ngủ cho trẻ: Đây là hoạt động nhằm hình thành
các nề nếp thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ. Trước khi
ăn, tôi thường xuyên nhắc trẻ biết kê bàn, ghế ngay ngắn, biết xếp hàng rửa tay
bằng xà phòng đúng quy trình. Trong khi ăn giáo dục trẻ hành vi văn minh trong
ăn uống, biết chào mời trước khi ăn, không nói chuyện khi ăn, khi ho, hắt hơi
biết che miệng…Ăn xong biết xếp bát, thìa đúng nơi quy định, sau đó xúc
miệng, lau miệng, nhắc trẻ biết tiết kiệm nước bằng cách lấy cốc hứng nước,
không vặn vòi chảy liên tục khi lấy nước xúc miệng…Trước khi ngủ nhắc trẻ
giữ vệ sinh phòng nhóm sạch sẽ, đi vệ sinh đúng nơi quy định, đi xong để dép
lên giá theo tổ của mình, biết treo quần áo đúng nơi quy định, tự lấy gối đi ngủ.
Kết quả: Trẻ có ý thức giữ vệ sinh cá nhân, thói quen sống gọn gàng, ngăn nắp
11


và có ý thức xây dựng bảo vệ môi trường chung.
Ngoài ra tôi còn lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động
khác trong ngày như: ăn phụ chiều, hoạt động chiều, vệ sinh trả trẻ... Thông qua
việc tạo các tình huống có vấn đề đề trẻ suy nghĩ giải quyết hoặc bằng những
việc làm thực tế.
Tóm lại: Cần giáo dục trẻ bảo vệ môi trường mọi lúc mọi nơi, đảm bảo
tính liên tục để các kiến thức, kỹ năng của trẻ trở thành thuộc tính vững chắc
trong nhân cách trẻ. Tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều làm ảnh hưởng
đến kết quả của hoạt động chính cũng như gây tâm lý nặng nề cho trẻ khi tham
gia vào các hoạt động đó. Sau mỗi hoạt động, tôi tiến hành nhận xét đánh giá trẻ
để có kế hoạch cho các biện pháp tiếp theo.

những bữa sáng ngon lành do bố nấu. Hôm nào lỡ bữa bố mua cháo hoặc xôi gửi
cô cho con ăn, ăn xong Vân biết bỏ hộp vào thùng rác và rửa tay sạch sẽ.
Thông qua bảng tuyên truyền với phụ huynh: Bảng được thiết kế đẹp,
kích thước to rõ, các phụ huynh có thể đọc, theo dõi dễ dàng. Đây là nơi trao đổi
thông tin rất hiệu quả. Theo từng chủ đề tôi có đánh máy nội dung giáo dục trẻ
bảo vệ môi trường. Tôi thường thông báo với phụ huynh những nội dung khác
nhau. Trong đó có mục “Những việc cần lưu ý” đưa ra những yêu cầu nội dung
cha mẹ cần phối hợp với giáo viên để thực hiện hoạt động có hiệu quả.
Ví dụ: Chủ đề Trường mầm non, tôi ghi trong mục “Những việc cần lưu
ý” trong đó có lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường :
Vệ sinh cá nhân chuẩn bị cho trẻ đầu tóc gọn gàng, quần áo sạch sẽ trước
khi trẻ đến lớp.
Phụ huynh không đi xe máy vào sân trường làm mất trật tự, xả khói gây ô
nhiễm môi trường.
Phụ huynh tham gia lao động cùng giáo viên để trường lớp xanh sạch đẹp
chào mừng năm học mới...
Kết quả: Mặc dù rất bận nhưng phụ huynh vẫn dành thời gian để đọc bảng
thông tin, thực hiện nội dung giáo viên đưa ra trong mục “Những việc cần lưu ý”
Thông qua việc mời phụ huynh tham quan môi trường trong và ngoài lớp
học hoặc tham dự các hoạt động của lớp như bữa ăn trưa, vệ sinh trước khi ăn,
các buổi lao động của trẻ. Việc phối hợp với phụ huynh bằng hình thức này đã
giúp phụ huynh hiểu thêm về cách dạy trẻ bảo vệ môi trường. Qua đó phụ huynh
phối hợp tích cực hơn và hỗ trợ giáo viên trong việc nuôi dạy trẻ.
Thông qua các buổi họp phụ huynh, định kỳ các buổi họp phụ huynh được
tổ chức 2 lần trong năm học. Tôi đã chủ động lồng ghép nội dung giáo dục trẻ
bảo vệ môi trường đến các bậc phụ huynh. Phụ huynh đã cùng cô thảo luận và
thống nhất nội dung, biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ trong đó có nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường.
Thông qua việc phát thanh trong nhà trường, tôi luôn có ý thức đóng góp
ý kiến vào nội dung các bài phát thanh trong nhà trường. Đây là hình thức phối

Số lượng Tỉ lệ %

Chưa đạt
Số lượng Tỉ lệ %

Kiến thức bảo vệ môi
34
34
100
0
0
trường
Kỹ năng bảo vệ môi
34
34
100
0
0
trường
Ý thức (thái độ) đối với
các hành vi gây hại cho
34
34
100
0
0
môi trường
Kết quả khảo sát trên cho thấy tỷ lệ trẻ có kiến thức, kỹ năng và thái độ
với môi trường ở mức đạt tăng lên nhanh chóng từ 70% tăng lên 100%. Trẻ đã
có kiến thức, kỹ năng tương đối bền vững. Đáng mừng là % trẻ ở mức chưa đạt

vệ môi trường cần phải:
Trân trọng việc chơi,và cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội giao tiếp với nhau
cũng như với giáo viên, trao đổi thường xuyên với trẻ bằng những câu hỏi gợi
mở, hướng trẻ vào ý thức bảo vệ môi trường, lựa chọn nội dung bảo vệ môi
trường và phương pháp tích hợp phù hợp thông qua hoạt động một ngày của trẻ.
Ta hỗ trợ trẻ tích cực tham gia các buổi ngoại khóa như tự trẻ nhặt lá trên
sân trường, tự chăm sóc cho cây, tự làm ra các sản phẩm từ nguyên vật liệu sẵn
có ở địa phương, giáo viên có thể hướng dẫn trẻ những hiểu biết ban đầu về bảo
vệ môi trường đối với con người như: Giữ gìn lớp sạch sẽ, biết cất dọn đồ chơi,
biết nhặt rác và bỏ rác vào đúng nơi quy định.
Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh những kỹ năng hành vi đơn
giản để bảo vệ môi trường như: Giữ gìn thân thể, vệ sinh cá nhân, chăm sóc đầu tóc,
sắp xếp, trang trí, làm sạch đẹp phòng học và phòng ở; chăm sóc một số con vật nuôi
gần gũi và thực hành chăm sóc bảo vệ môi trường và hành động cụ thể của trẻ.
Thông qua các hoạt động trên, giáo viên có thể quan sát thái độ, tình cảm
của trẻ đối với môi trường. Từ đó có thể uốn nắn và hướng cho trẻ bộc lộ thái độ
về ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên. Đồng thời biết cách giữ gìn bảo vệ môi
trường lớp học, gia đình và cộng đồng.
Lên kế hoạch về thời gian, không gian địa điểm hợp lý cho trẻ được hoạt động.
Thu hút sự tham gia của cha mẹ học sinh trong việc giáo dục và bảo vệ
môi trường một cách tự nhiên, tự nguyện.
15


2. Bài học kinh nghiệm.
Từ việc làm cụ thể và kết quả đạt được, tôi rút ra được một số kinh
nghiệm sau: Giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, từ đó đề ra
mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục cho phù hợp. Việc tổ chức các hoạt
động giáo dục phải lấy trẻ làm trung tâm. Nội dung dạy trẻ phải phù hợp, gần
gũi, thiết thực với cuộc sống của trẻ. Tạo điều kiện cho trẻ vận dụng kiến thức



1. Tài liệu từ chỉ thị số 02/2005 CT-BGDĐT về việc tăng cường công tác
giáo dục bảo vệ môi trường của bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển.
2. Tài liệu từ quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ
ngày 02 tháng 12 năm 2003 về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
3. Tập san Mầm Non.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status