ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 8
TRƯỜNG MN HOÀNG MAI 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ 5 – 6
TUỔI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG.
Người viết: KIỀU THỊ NGỌC DUNG
NĂM HỌC 2017 – 2018
Giới thiệu của đơn vị, tổ khối:
1
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………
Xác nhận giá trị của thủ trưởng, đơn vị:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
biết được môi trường sạch và môi trường bẩn, nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi
trường. Từ đó trẻ có kỹ năng thói quen vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp, nơi công
cộng, chăm sóc cây… làm cho môi trường luôn xanh- sạch- đẹp.
Để đảm bảo cho con người được sống trong một môi trường lành mạnh thì việc
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được hình thành và rèn luyện từ rất sớm, từ lứa tuổi
mầm non giúp con trẻ có những khái niệm ban đầu về môi trường sống của bản thân
mình nói riêng và con người nói chung là cần thiết. Từ đó biết cách sống tích cực với
môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ.
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang diễn ra liên tục ở tất cả các nước trên thế giới,
ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới toàn cầu như tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn
nước, hạn hán lũ lụt ... xảy ra liên tục. Nhân tố con người là yếu tố chính làm cho tình
trạng ô nhiễm càng tăng trầm trọng nhưng chính con người cũng là nhân tố bảo vệ môi
trường và cải thiện môi trường sống .Vì vậy giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ngay
từ lứa tuổi mầm non là rất cần thiết.
Với tình hình thực tế tại lớp đang phụ trách tôi nhận thức sâu sắc và xác định rõ
những việc cần làm ngay đối với trẻ, với phụ huynh để đẩy mạnh công tác giáo dục
bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non.Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp giáo
dục trẻ 5 - 6 tuổi bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động”.
3
2. Cơ sở lý luận:
Trong con người chúng ta, có rất nhiều cái cần thiết và quan trọng. Trong
những thứ quan trọng đó thì sức khỏe là quan trọng nhất và cần thiết cho con người, có
sức khỏe thì chúng ta sẽ làm nên tất cả. Một trong những điều kiện để giữ gìn sức khỏe
tốt nhất là phải sống trong một môi trường xanh, sạch. Như vậy chúng ta cần phải làm
gì để có được sức khỏe tốt ấy, tục ngữ có câu: “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”.
Bởi lẽ, điều kiện đảm bảo sự sinh tồn của con người chính là ăn, ở. Chúng ta ai
cũng muốn sống trong một ngôi nhà được cất ở nơi cao ráo, thoáng mát, đủ ánh sáng;
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã tìm ra một số biện pháp “ Một số biện
pháp giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động”.
2. Thực trạng:
a. Thuận lợi:
Trường, lớp có không gian hoạt động an toàn cho trẻ, có sân chơi rộng rãi
thoáng mát cho trẻ chơi.
Trẻ khoẻ mạnh và rất hào hứng, sôi nổi với các hoạt động trồng cây xanh, nhặt
rác, tái chế đồ chơi từ vật liệu mở ... do cô tổ chức.
Phụ huynh luôn quan tâm đến trẻ, tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà
trường, của nhóm lớp.
Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của
giáo viên, luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện tốt nhất để giúp giáo
viên thực hiện các hoạt động cho trẻ.
b. Khó khăn:
Một số trẻ còn nhút nhát nên không tự tin khi tham gia vào các hoạt động, một
số trẻ lại quá hiếu động nên khi hoạt động chưa chú ý vào sự hướng dẫn của cô.
Kỹ năng quan sát, chú ý, lắng nghe của trẻ còn nhiều hạn chế, kỹ năng tham
gia các hoạt động lao động vệ sinh chưa có nhiều.
Trẻ chưa có nhiều những buổi hoạt động thực tế ngoài trời để trẻ được trải
nghiệm tốt hơn.
5
3. Các biện pháp giải pháp:
a. Lồng ghép vào các chủ đề trong giờ học:
Chủ đề: “Trường mầm non thân yêu của bé”.
Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về chủ đề, cô giáo dục trẻcó ý thức giữ
gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, không hái hoa bẻ cành cây xung quanh trường, lớp...
ăn quá nóng, quá lạnh, phải giữ vệ sinh răng miệng hàng ngày, dạy cho bé phải biết tiết
kiệm nước...
7
Dạy cho trẻ biết tiết kiệm nước.
Tổ chức cho trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học như lọc nước bẩn thành
nước sạch.
Làm thí nghiệm về lọc nước sạch.
8
Chủ đề: “Gia đình thân yêu của bé”.
Trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà của trẻ, nhận biết
được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia đình. Biết quý trọng giữ gìn đồdùng
trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ, bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc
nhổ bừa bãi...có ý thức về những điều nên làm như: khoá vòi nước khi không sử dụng,
tắt điện khi ra khỏi phòng....
Tiết khám phá khoa học “ Đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình bé”: Trẻ
biết một số đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình như: bóng điện để thắp sáng,
quạt, tivi, đài, tủ lạnh, ấm điện... Cô giáo dục trẻ những kỹ năng sử dụng đồ dùng bằng
điện đúng cách vừa tiết kiệm lại có thể bảo quản đồ dùng, tránh được những vấn đề
gây cháy nổ hay nguy hiểm khác. Cô đưa ra các tình huống nhằm lồng ghép nội dung
“sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả”như khi ra khỏi phòng các con phải làm gì?
(Tắt đèn, tắt tivi, quạt...).
Tắt điện, quạt khi không dùng.
https://www.youtube.com/watch?v=xva1bB-at_A
https://www.youtube.com/watch?v=IcDs6VXeWTo
https://www.youtube.com/watch?v=-vnWtZsJS64
https://www.youtube.com/watch?v=4DT6p_TkSsY
Đường lind trang wed:
https://www.google.com.vn/search?source=hp&ei=q-grWoWAC4fSvgTogZigDg&q=h
%C3%ACnh+%E1%BA%A3nh+b%E1%BA%A3o+v%E1%BB%87+m%C3%B4i+tr
%C6%B0%E1%BB%9Dng&oq=hinh+anh+bao+&gs_l=psyab.1.2.0l10.8453.11862.0.15529.15.11.0.3.3.0.198.814.8j2.11.0....0...1c.1.64.psyab..1.14.906.6..35i39k1j0i131k1.80.1yTa3Mjh08s
https://www.google.com.vn/search?ei=u-grWuDcCcjtvgTmnr_wDQ&q=h
%C3%ACnh+%E1%BA%A3nh+b%E1%BA%A3o+v%E1%BB%87+ngu%E1%BB
%93n+n%C6%B0%E1%BB%9Bc+s%E1%BA%A1ch&oq=h%C3%ACnh+%E1%BA
11
%A3nh+b%E1%BA%A3o+v%E1%BB%87+nguon&gs_l=psyab.1.1.0i22i30k1l5.38749.39805.0.42854.5.5.0.0.0.0.173.549.1j3.4.0....0...1c.1.64.psyab..1.4.545...0.0.G5kskgAD_js
https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/em-ve-moi-truong-mau-xanh-dang-capnhat.IGAdCRSx2H.html
https://www.youtube.com/watch?v=jba78WGEdOg
http://lop67.tk/hoidap/22455/l%C3%A0m-th%C6%A1-l%E1%BB%A5c-b%C3%A1t%C4%91%E1%BB%81-t%C3%A0i-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng
https://123doc.org/document/1839197-nhung-van-tho-tuyen-truyen-bao-ve-moitruong.htm
https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/moi-truong/ve-moi-truong-2394562.html
http://th-hamthang1-binhthuan.violet.vn/entry/show/entry_id/1185631
Chủ đề: “Thế giới động vật”.
Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về đặc điểm, ích lợi cũng như tác hại của
một số con vật với đời sống con người, cô còn giáo dục trẻ yêu quí các con vật nuôi,
mong muốn và thực hiện những hành động tốt để chăm sóc bảo vệ những con vật gần
gũi.
Đề tài: “Động vật sống dưới nước”cô cho trẻ cùng quan sát con vịt cho trẻ về
đặc điểm và môi trường sống của con vịt. Cô còn mở rộng về một số động vật đang
sống trong lòng Đại dương như cá, tôm, cua... để trẻ biết thêm về thế giới động vật
Chủ đề: “Một số hiện tượng tự nhiên”.
Giúp trẻ biết về các hiện tượng tự nhiên: gió, mây, mưa, sấm chớp, sét, lũ lụt,...
Qua đó trẻ biết phân biệt đặc điểm của nước, nguồn nước sạch, nước bẩn, ích lợi của
nước sạch, biết tiết kiệm nước sạch, tránh xa những nguồn nước bẩn gây ô nhiễm bệnh
tật cho con người...tác hại do một số hiện tượng tự nhiên mang lại.
Trong đề tài “Sự kỳ diệu của không khí”. Cô cung cấp cho trẻ biết được đặc
điểm không khí như không màu, không mùi, không vị, biết được không khí có ở đâu,
một số tác dụng đơn giản của không khí cũng như một số yếu tố gây ô nhiễm không
khí và giáo dục cho trẻ có ý thức trong bảo vệ môi trường không khí. Như vậy việc
lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các chủ đề khác rất phong
phú, đa dạng. Chúng ta cần lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức hiểu biết
về chăm môi trường một cách tích cực và hiệu quả.
14
b
Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào hoạt động góc.
Qua hoạt động góc trẻ được trực tiếp chơi, biết xếp đặt đồ chơi ở góc của mình,
biết tặng dụng những vật liệu phế thải đã làm sạch để chơi, biết cách xưng hô và giao
tiếp theo vai chơi vì vậy giáo viên cần tổ chức thường xuyên, tùy theo từng chủ đề mà
chuẩn bị các góc chơi cho phù hợp, trong khi chơi cô cùng nhập vai chơi cùng trẻ giúp
cho trẻ biết vai mình đang chơi, việc mình đang làm và hoàn thành nhiệm vụ. Khi trẻ
chơi cô giao lưu với trẻ, động viên trẻ giao lưu các góc chơi giúp trẻ mạnh dạn…
thông qua đó giáo giục trẻ tính ngăn nắp gọn gàng, tính làm người lớn biết được môi
trường đẹp và môi trường xấu, biết chia sẽ hợp tác với bạn bè và những người xung
quanh có phản ứng đúng với hành vi làm bản hay phá hoại môi trường.
Giáo dục môi trường vào hoạt động góc được tiến hành xuyên suốt toàn bộ hoạt
17
c
Tổ chức lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào hoạt động ngoài trời.
Giáo viên tổ chức cho trẻ dạo chơi, tham quan, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ
quan sát môi trường bên ngoài. Để trẻ khám phá tìm hiểu đáp ứng được nhu cầu tò mò
và tính ham hiểu biết của trẻ.
Cùng cô tưới cây xanh.
18
Bé biết nhặt lá vàng trong bồn cây.
Cho trẻ quan sát một sân trường đầy lá rụng, các phương tiện chạy trên đường
xả khói, bụi bay.
Giáo viên dẫn trẻ vào sự việc thật gần gũi để trẻ thấy được sự phong phú đa
dạng, sống động của môi trường bên ngoài, qua đó giáo dục trẻ biết yêu thiên nhiên
gần gũi than thiện với môi trường, mong muốn được tham gia bảo vệ môi trường, rèn
trẻ có kỹ năng giữ gìn bảo vệ môi trường.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động ngoài trời cô giáo có thể cho trẻ xem các
hình ảnh như: Lá rụng, khói bụi, rác thải,… đó là những nguyên nhân gây ra ô nhiễm
môi trường, chỉ cho trẻ thấy đó là môi trường bẩn. Qua đó giáo dục trẻ phải làm gì để
bảo vệ môi trường.
Nào mình cùng nhau nhặt lá rụng nhé!
19
Tháng 10: Dạy cho trẻ về các bài vè, bài thơ, bài hát, xem video về lí do phải
bảo vệ môi trường.
Tháng 11: Cho trẻ ra sân chơi quan sát hành vi và thái độ, sự thay đổi của trẻ.
Tháng 12: Cho trẻ tiếp xúc với vườn rau, cây xanh quan sát hành vi của trẻ.
Tháng 1: Thường xuyên cho trẻ ra sân và vườn cây quan sát sự tiến bộ của trẻ.
Tổ chức những giờ học về nước và không khí.
Tháng 2: Tạo bất ngờ về những đồ chơi bằng nguyên vật liệu phế thải làm sạch
cho trẻ, quan sát trẻ có biết tái sử dụng những nguyên vật liệu đó vào góc chơi hay
không.
21
Tháng 3: Đưa nhiều đồ chơi bằng nguyên vật liệu phế thải cho trẻ chơi, quan sát
cách chơi và thu dọn của trẻ.
Tháng 4: Tổ chức hội thi “An toàn giao thông” cho trẻ xem vieo về những ảnh
hưởng của khói bụi giao thông đối với môi trường.
Tháng 5: Quan sát tổng quát trẻ về thái độ và hành vi bảo vệ môi trường của trẻ
mọi lúc mọi nơi, đưa ra kết luận có khả quan hay không.
5. Kết quả đạt được:
Tích cực:
Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự ủng hộ tích
cực của nhà trường, các bậc phụ huynh đã giúp tôi đạt được một số kết quả nhất định
trong việc dạy trẻ 5 – 6 tuổi do tôi phụ trách có ý thức bảo vệ môi trường tốt.
Trẻ đã có hành vi tham gia bảo vệ môi trường, có thái độ rõ ràng đối với những
hành vi tốt xấu đối với môi trường.
Tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
Đa số trẻ ở lớp bước đầu có ý thức bảo vệ môi trường từ những việc làm đơn
giản.
Phụ huynh quan tâm hơn đến công tác này và hỗ trợ nhiệt tình các loại nguyên
Kết luận :
Là một giáo viên mầm non tôi nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng
của công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ. Giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường là một việc làm hết sức cấp bách không những chỉ cho thế hệ trẻ hôm nay mà
còn cho cả thế hệ trẻ ngày mai, chính vì vậy, giáo viên phải là người làm gương cho
trẻ, luôn có ý thức hướng dẫn và nhắc nhở trẻ kiên trì thực hiện những việc làm hàng
ngày có ý nghĩa bảo vệ môi trường và giáo dục trẻ biết yêu quý, gần gũi, thân thiện với
môi trường. Mỗi giáo viên là một tuyên truyền viên về giáo dục bảo vệ môi trường
trong nhà trường, cho các bậc phụ huynh và trong cộng đồng.
2. Ý kiến đề xuất:
Để công tác giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao phải có sự thống nhất của hai giáo
viên trong lớp cũng như phải có sự phối hợp chặt chẻ của nhà trường gia đình và xã
hội.
Quận 8, ngày 11 tháng 12 năm 2017.
23
Người viết báo cáo.
Kiều Thị Ngọc Dung
24