ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƢƠNG THỊ AN
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri
HÀ NỘI - 2016
Lời cảm ơn
Sau quãng thời gian nỗ lực thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã hoàn
thành xong bài nghiên cứu của mình. Trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình
từ phía các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng với sự cộng tác với
các cán bộ, công chức tỉnh Bắc Ninh.
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu nhà
trường cùng quý thầy cô trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội.Đồng thời, tôi cũng xin
gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS.TSNgô Đăng Tri- Khoa Lịch sử đã
trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong quá trình tôi thực
hiện nghiên cứu này.
CNXH
4
Chính trị quốc gia
CTQG
5
Cụm công nghiệp
CCN
6
Hội đồng nhân dân
HĐND
7
Khu công nghiệp
KCN
8
Kinh tế - xã hội
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu .................................................... 6
6. Đóng góp và ý nghĩa của luận văn ................................................................. 7
7. Bố cục của luận văn........................................................................................ 7
Chƣơng 1:CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP CỦAĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINHTỪ NĂM 2005 ĐẾN
NĂM 2010 ............................................................................................................ 8
1.1. Chủ trƣơng phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2005 đến năm 2010 ................................................................................ 8
1.1.1. Những yếu tố tác động ............................................................................. 8
1.1.2. Chủ trương phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ
năm 2005 đến năm 2010 ..................................................................................... 18
1.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển công nghiệp của Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 2005 đến năm 2010 ................................................ 23
1.2.1. Chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực và quy hoạch, xây dựng các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp .................................................................... 24
1.2.2. Chỉ đạo cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các ngành
công nghiệp ......................................................................................................... 30
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................. 40
Chƣơng 2:ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 .............. 42
2.1. Chủ trƣơng đẩy mạnh phát triển công nghiệp của của Đảng bộ
tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 đến năm 2015 ..................................................... 42
quyết định đến việc phát triển của các ngành kinh tế, đồng thời tạo ra
những hình mẫu để các ngành kinh tế khác phát triển. Trong xu thế phát
triển của kinh tế thế giới hiện nay, kinh tế công nghiệp ngày càng chiếm
tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế và giá trị sản xuất công nghiệp trong nền
sản xuất quốc dân trở thành thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia.
Nhận thức được vai trò của sự phát triển công nghiệp, từ khi khởi
xướng và lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những chủ trương mới về phát triển
công nghiệp. Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX (2001) đã
xác định mục tiêu ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp vào năm 2020 và cho đến Đại hội XI (2011) của Đảng xác
định: “Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh
những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược
đối với sự phát triển nhanh, có hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập,
tự chủ của nền kinh tế”[21,tr.193].
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong
châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội- Hải Phòng- Quảng
Ninh, là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh.
Với các thế mạnh về điều kiện tự nhiên thuận lợi, Bắc Ninh có nhiều tiềm
năng để phát triển kinh tế-xã hội nói chung và kinh tế công nghiệp nói
riêng. Xuất phát từ một tỉnh nông nghiệp là chính (chiếm gần 50% GDP)
1
việc phát triển công nghiệp được xác định là khâu đột phá để đẩy nhanh
tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp- công nghiệpdịch vụ sang công nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp là định hướng đúng đắn
nhằm phấn đấu đưa Bắc Ninh trở thành thành tỉnh công nghiệp theo
hướng hiện đại và trực thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ
21 theo hướng văn minh, hiện đại.Như vậy, tỉnh Bắc Ninh phải có đường
sách công nghiệp và thương mại của Nhật Bản” (Trần Quang Minh, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000); “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam: Phác thảo lộ trình” (PGS.TS Trần Đình Thiên, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002)“Kinh tế học phát triển về công nghiệp
hóa và cải cách nền kinh tế” (PGS.TS Đỗ Đức Định, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2004); “Một số vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam” (GS.TS Đỗ Hoài Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
2003); “Tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” (TS.
Võ Trí Thành, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2007), “Đổi mới tư duy
của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” (TS. Lê Quang
Phi), “Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á và bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam” (Lê Bàn Thạch và Trần Thị Tri)
Hội thảo khoa học về CNH, HĐH đất nước tổ chức năm 2001. Các
tham luận tại Hội thảo được tập hợp trong Kỷ yếu gồm 13 bài viết trong
đó, nghiên cứu của Trần Khánh Đức: “Phát triển nguồn nhân lực khoa
học- công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời
kỳ CNH, HĐH”; Trần Ngọc Hiên: “Những bài học kinh nghiệm của quá
trình CNH, HĐH ở một số nước – suy nghĩ vận dụng vào Việt Nam”;
Nguyễn Đình Hương: “ Một số vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho CNH,
HĐH những năm đầu thế kỷ XXI ở nước ta”.
Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp ở các địa
phương: Đoàn Duy Khương (2002), “Một số giải pháp đẩy mạnh phát
triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Hải Phòng (ứng dụng ở Hải
3
Phòng)”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội);
Vũ Minh Hùng (2004), “Về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ
cho phát triển công nghiệp ở tỉnh Bình Dương”, (Tạp chí Giáo dục, số
nghiên cứu sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh phát triển công
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015. Do đó, tôi chọn đề tài : ““Đảng bộ
tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2005 đến năm
2015”làm đề tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
3.1.
Mục đích công trình này là trình bày những nhận thức, các chủ
trương, biện pháp, kết quả tổ chức, thực hiện công tác lãnh đạo phát triển
công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 2005 đến năm 2015, từ
đó góp phần làm rõ thêm lịch sử Đảng bộ trong thời kỳ này và rút ra
những kinh nghiệm để phục vụ hiện tại.
3.2.
-
Nhiệm vụ
Phân tích, làm rõ những điều kiện tác động đếnchủ trương
của Đảng bộ Bắc Ninh về phát triển công nghiệp từ năm 2005 đến năm
2015.
-
Trình bày và phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh vận
dụng đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo phát triển công nghiệp
từ năm 2005 đến năm 2015.
-
-
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2005 đến năm
2015 tuy nhiên trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có đề cập đến
thời gian trước năm 2005.
-
Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh và có so sánh với một số địa bàn lận cận.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Phương pháp nghiên cứu
5.1.
Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về phát triển kinh tế, xã hội; sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử ,phương pháp
logic và phương pháp phân loại. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương
pháp điền dã và phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp định lượng, phương pháp thống kê..để thực hiện nhiệm vụ
đề ra.
5.2.
-
Nguồn tài liệu
Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
-
Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong
lãnh đạo, chỉ đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 2005-2015.
-
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo trong giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ địa phương trong
thời kì đổi mới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, phần
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển công nghiệpcủa
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninhtừ năm 2005 đến năm 2010.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển
công nghiệp từ năm 2010 đến năm 2015.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.
7
Chƣơng 1:CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP
CỦAĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINHTỪ NĂM 2005 ĐẾN
NĂM 2010
Địa hình tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ
Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy
nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh
lệch địa hình trên toàn Tỉnh không lớn. Tỉnh có độ cao phổ biến từ 3-7m
so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện
Gia Bình,Lương Tài, Quế Võ; vùng đồi núi chiếm tỉ lệ rất nhỏ khoảng
0,53% so với tổng diện tích tự nhiên của Tỉnh và được phân bố rải rác
thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ. Các đỉnh núi có
độ cao phổ biến từ 60-100m.Địa hình của Bắc Ninh thuận lợi cho phát
triển sản xuất các cây lương thực, thực phẩm với năng suất cao và một số
loại cây công nghiệp ngắn ngày.
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình
năm là 24,0oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,4oC (tháng 7),
nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,4 oC (tháng 1). Độ ẩm tương đối trung
bình của Bắc Ninh khoảng 81%, độ chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng
không lớn, độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất từ 72% đến 75% thường
xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 trong năm [13].
Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trầm tích sa
bồi, với loại đất chủ yếu là đất phù sa tương đối màu mỡ thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp với hệ thống cây trồng đa dạng. Đặc biệt là đất
phù sa trong nước được bồi đắp bởi sông Cầu, sông Đuống với lượng phù
sa trong nước lên đến 1,028-1,4kh/m2. Theo số liệu kiểm kê đất năm 2015,
tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82.271,1 km2. Diện tích
lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 60,3%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm
tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,7%. Đất phi nông nghiệp chiếm 39,4% trong đó đất ở
chiếm 12,4%. Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,3%[13].
Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dày đặc. Bắc Ninh có ba hệ
thống sông lớn làsông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống.Ngoài ra, tỉnh
nhận thức rõ những đặc điểm kinh tế xã hội, những thuận lợi và khó khăn
10
của tỉnh để trên cơ sở đó vận dụng năng động, sáng tạo chủ trương,
đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhằm phát huy
những nhân tố tích cực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế, nâng
cao mức sống người dân và giảm tỷ lệ hộ đói, nghèo.
Theo kết quả điều tra năm 2015, dân số Bắc Ninh là 1.154.660
người, mật độ dân số 1.403 người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao
thứ 3 cả nước. Trong đó, dân cư nông thôn chiếm trên 73,4%%, dân số
thành thị chiếm 26,6%[13]. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển
dịch cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần dân số nông thôn.Bắc Ninh
có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236 người,
chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm
25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức
chiếm 9,8%[13]. Với đội ngũ dân số trẻ này là là lực lượng lao động hùng
hậu trong cuộc phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu đội ngũ lao động ngành
công nghiệp của tỉnh.
Về trình độ dân trí: Bắc Ninh đạt phổ cập giáo dục tiểu học năm
1996, 100% xã đạt tiêu chuẩn xóa nạn mù chữ. Năm 2002, tỉnh đã hoàn
thành phổ cập Trung học cơ sở. Quy mô giáo dục phổ thông tăng nhanh,
bình quân 100 người dân có 2,5 người đi học.Lực lượng lao động đã qua
đào tạo của tỉnh chiếm khoảng 24,20% tổng số lao động (năm 2015).
Hằng năm, số học sinh của tỉnh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng,
trung cấp chiếm khoảng 40% tổng số học sinh tốt nghiệp trung học phổ
thông.
Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống có
tuổi đời hàng trăm năm, làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc
Về tốc độ tăng trưởngngành công nghiệp: Giai đoạn 2001-2005 đạt
mức cao, bình quân mỗi năm tăng 26,4%. Trong đó, khu vực nhà nước
tăng bình quân 27,5%, công nghiệp địa phương tăng bình quân 34,8%,
khu vực ngoài nhà nước tăng 37,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
tăng 14,5%. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 14%/năm, vượt 0,5%
12
mục tiêu của Đại hội đề ra. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục giá
trị sản xuất tăng 2,05 lần. Trong đó, công nghiệp trung ương tăng 2,2 lần
so với năm 2001, công nghiệp địa phương tăng 2,5 lần, công nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,3 lần[25,tr10].Tính đến năm 2005,các sản
phẩm công nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng thị trường
trong tỉnh mà còn tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm để xuất
khẩu giúp tăng nguồn thu ngoại tệ. Năm 2004, sản phẩm công nghiệp
xuất khẩu đạt 84,2 triệu USD (chiếm 89,1% tổng kim ngạch xuất khẩu
trên địa bàn). Đặc biệt với một số mặt hàng mỹ nghệ, gỗ dân dụng, kính
xây dựng, hàng quần áo may sẵn… đều có thương hiệu và có mặt ở các
thị trường trong và ngoài nước như châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc..
Về cơ cấu ngành công nghiệp: Tỷ trọng giá trị sản xuất công
nghiệp ( theo giá cố định năm 1994) của nhóm các sản phẩm công ngiệp
chủ yếu năm 2004 là: công nghiệp chế biến nông- lâm- thực phẩm chiếm
36,4%; sản xuất kim khí điện điện tử 28,6%; sản xuất vật liệu xây dựng
chiếm 27,0%; sản phẩm ngành dệt, da, may mặc là 5,6%, các ngành khác
là 2,4% [25,tr.5].
Về nguồn nhân lực: Tính đến cuối năm 2004 số lao động trong lĩnh
vực công nghiệp- xây dựng trên địa bàn tỉnh đạt119.355 người (chiếm
21,37% tổng số lao động xã hội của tỉnh) trong đó lao động ngành công
nghiệp chiếm 18,84% tương ứng với 105.255 người và phân bố theo các
tỉnh Bắc Ninh phân bố không đồng đều giữa 2 khu vực phía Bắc và phía
Nam. Cơ cấu phân ngành công nghiệp còn thiếu hiệu quả. Do là tỉnh
nghèo về khoáng sản, tài nguyên nên chỉ có thế mạnh trong phát triển các
ngành may mặc, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản..đều là
những ngành hiệu quả kinh tế chưa cao. Các ngành công nghiệp thiết bị
điện tử, chế tạo máy móc, cơ khí còn chậm phát triển, quy mô nhỏ lẻ.
14
Điều đó đỏi hỏi Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh cùng với việc phát
huy những thế mạnh, tiềm năng để phát triển công nghiệp thì còn cần cố
gắng khắc phục những khó khăn, thách thức để thực hiện kế hoạch xây
dựng phát triển kinh tế xã hội nói chung và kế hoạch phát triển công
nghiệp nói riêng trong giai đoạn sau.
1.1.1.3.
Chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về phát triển công
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010
Chủ trương công nghiệp hóa ở nước ta bắt đầu từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng xác định: “Thực hiện công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ..”[19, tr.60]
Trước những cơ hội và thách thức mới trong giai đoạn mới, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) tiếp tục bổ sung các chủ
trương về phát triển công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Chủ trương phát triển công nghiệp của Đảng trong giai đoạn này tập
trung vào các nội dung chủ yếu sau:
Để đạt được mục tiêu đề ra Đảng đề ra phương hướng: Tập trung
nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng ngành CN có lợi thế
cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động như: chế
biến nông, lâm, thủy sản; may mặc, giày dép, đồ nhựa, đồ gỗ gia dụng,
cơ khí đóng tàu, CN chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bị điện, thiết bị xây
dựng, máy nông nghiệp, phương tiện giao thông, sản xuất và lắp ráp cơđiện tử; CN bổ trợ, CN công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm. Nâng tỉ
trọng sản phẩm CN xuất khẩu đã qua chế biến.Chú trọng phát triển CN
năng lượng đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng; CN vật
liệu và công nghệ tiết kiệm nguyên liệu; CN dược và các chế phẩm sinh
học; CN bảo vệ môi trường.
16
Việc phát triển các ngành CN sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng
chủ yếu dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu
tư trực tiếp của người nước ngoài. Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả,
Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản
phẩm quan trọng của nền kinh tế, như: lọc hóa dầu, khai thác quoặng và
luyện thép, phân bón, hóa chất, xi măng, khai thác bô xit và sản xuất
alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khi chế tạo.
Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm CN trên cả
nước; hình thành các vùng CN trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất
với bảo đảm nhà ở và các điều kiện sinh hoạt cho người lao động.
Chuyển các cơ sở CN trong nội thành, nội thị , gần khu đông dân cư
không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường vào các KCN tập trung hoặc các
vùng ít dân cư…Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành CN và xây
dựng nước ta hội nhập vào khu vực và quốc tế, trước hết thông qua việc
thu hút mạnh đầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia
tham gia phát triển CN và xây dựng ở Việt Nam”[21,tr.196-198]
là khâu đột phá trong phát triển kinh tế của tỉnh trong thời kì công nghiệp
hóa, công nghiệp ngày càng được đẩy mạnh phát triển.
Đại hội Đảng biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII (12/2005)
đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2015 là: “ Khai thác và phát huy hơn nữa tiềm năng, thế mạnh
của địa phương, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng
cường sức mạnh đại đoàn kết toang dân, đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm
tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững hơn… Phấn đấu đến năm
2010 Bắc Ninh là tỉnh phát triển khá trong cả nước, đến năm 2015 cơ bản
trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề để năm 2020
là một trong những tỉnh dẫn đầu trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”
[25,tr.39].
Cụ thể hóa phương hướng, mục tiêu tổng quát trên Đại hội xác
định các chỉ tiêu KT-XH đến năm 2010 là: Nhịp độ tăng trưởng GDP
18
bình quân 15-16%/năm trong đó, công nghiệp-xây dựng chiếm 19-20%
(riêng công nghiệp là 20%); dịch vụ tăng 17-18%; nông –lâm nghiệp và
thủy sản tăng 4-5%[25,tr.42].
Trong đó, Đảng bộ tỉnh xác định mục tiêu cho phát triển công
nghiệp giai đoạn 2006-2010: “Phấn đấu duy trì giá trị sản xuất công
nghiệp tăng bình quân 25%/năm, đến năm 2010 đạt 20.112 tỷ đồng (trong
đó công nghiệp nhà nước Trung ương 806,0 tỷ đồng, công nghiệp địa
phương 12.382,0 tỷ đồng và công nghiệp vốn đầu tư nước ngoài 6.924,0
tỷ đồng), tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 800-900 triệu USD. Đến năm
2010 phấn đấu lấp đầy 60-80% diện tích quy hoạch các khu công nghiệp
tập trung và 54 khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề,
đa nghề” [25,tr.44]
chức lại hoạt động của các làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng đến khu dân cư.Đây chính là yêu cầu tiên quyết
trong phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006-2010.
Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kết
cấu hạ tầng KT-XH đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp. Sở dĩ vì hệ
thông cấp thoát nước, mạng lưới giao thông, mạng lưới điện nước trong
và ngoài các KCN, CCN còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến sức phát triển
của các công ty cũng như trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư của các
doanh nghiệp trong và ngoài nước vào địa phương. Do vậy việc tập trung
xây dựng, nâng cấp và cải tạo kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ không thể bỏ
qua trong giai đoạn này.
Thứ ba, xác định đúng ngành công nghiệp mũi nhọn, chủ lực để
đầu tư phát triển đúng hướng nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường,
khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, nhỏ lẻ, kém hiệu quả.
Thứ tư, chú trọng phát triển xây dựng nguồn nhân lực có chất
lượng, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ cao,
20