Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MẾN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ
KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT
(Nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dƣỡng Ngƣời có công
và bảo trợ xã hội Bắc Ninh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MẾN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ
KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT
( Nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dƣỡng ngƣời có công
và bảo trợ xã hội Bắc Ninh)

Chuyên ngành: Công tác xã hội ứng dụng
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan


và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, các bậc phụ huynh và đồng nghiệp đã tận tình
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để
phục vụ quá trình can thiệp.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như đây là lần đầu tiên em thực hành
với đề tài còn nhiều mới mẻ, chắc hẳn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và những người quan tâm đến đề tài
thực hành này.
Xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

STT

Chữ viết tắt

1

CTXH

Công tác xã hội

2

GDGT

Giáo dục giới tính

3


9

HĐND

Hội đồng nhân dân

10

NCC&BTXH

11

THCS

12

TPHCM

Nhân viên công tác xã hội
Trẻ khuyết tật

Người có công và bảo trợ xã hội
Trung học sơ sở
Thành phố Hồ Chí Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hoạt động GDGT tại Trung tâm


61

Bảng 2.9. Hình thức học GDGT mà các em mong muốn tại Trung tâm

62

Bảng 2.10. Thực trạng kỹ năng GDGT của trẻ KT tại Trung tâm

63

Bảng 2.11. Mong muốn được trang bị kỹ năng GDGT

64

Bảng 2.12 Đề xuất của các em về chương trình GDGT nhằm nâng cao

66

kiến thức và kỹ năng GDGT
Bảng 2.13. Thái độ của những người được hỏi liên quan đén GDGT

67

Bảng 2.14 Bảng đánh giá về kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết

70

tật trước khi thực nghiệm
Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá kiến thức giáo dục giới tính cho trẻ khuyết


1.1.1. Cơ sở phương pháp luận .........................................................................21
1.1.2. Các khái niệm công cụ ............................................................................23
1.1.4 . Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu .....................................................34
1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................38
1.2.1. Các chính sách và dịch vụ hỗ trợ đối tƣợng trẻ em khuyết tật ............38
1.2.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ..................................................................44


CHƢƠNG 2.:THỰC TRẠNG VỀ KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG GIÁO DỤC
GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT SỐNG TRONG TRUNG TÂM NUÔI
...................................................................................................................................52
2.1. Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật ....................52
2.1.1 Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính ..................................................52
2.1.2 Thực trạng thái độ của trẻ về hoạt động giáo dục giới tính .....................54
2.2 Thực trạng kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính của trẻ khuyết tật tại
Trung tâm. ...........................................................................................................56
2.2.1 Thực trạng kiến thức về giáo dục giới tính ...............................................56
2.2.2 Những vấn đề trong chƣơng trình giáo dục giới tính mà các em quan tâm
và cần phải đi sâu hơn nữa ................................................................................57
2.2.3 Thực trạng kỹ năng về giáo dục giới tính .................................................64
2.3 Nhãn quan của Lãnh đạo, giáo viên và ngƣời làm công tác quản lý tại
Trung tâm ...........................................................................................................68
2.5. Điều kiện vật chất - vấn đề kinh phí ............................................................70
CHƢƠNG 3 :

THỰC HÀNH MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM ...................................................73
3.1. Lý do lựa chọn áp dụng phƣơng pháp công tác xã hội nhóm trong nâng

vụ xâm hại tình dục trẻ em được ghi nhận tại Việt Nam trong những năm qua
thực tế chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Vấn đề này dễ gây nên những
hậu quả xã hội khôn lường và trở thành mối quan tâm, lo lắng không chỉ trong
cộng đồng mà còn cả ở các nhà nghiên cứu. Bởi lẽ, trẻ nếu như không được
trang bị những kiến thức và rèn các kỹ năng liên quan tới vấn đề này thì
1

Trích từ Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2013.
1


chúng rất dễ lâm vào tình trạng tổn thương nghiêm trọng về tâm, sinh lý và dễ
gặp nguy cơ cao về viêm nhiễm đường sinh dục, xuất huyết, ứ máu vùng
chậu, viêm nội mạc tử cung, viêm dính tử cung, vòi trứng đối với nữ, cũng
như rối loạn cương dương, xuất tinh sớm và đặc biệt là các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS đối với nam giới …
Theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng
250 triệu người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ở Việt Nam,
nhóm tuổi thanh niên từ 16 đến 30 tuổi có khoảng 6,1 triệu người chiếm 1,3
% tổng số người trong độ tuổi lao động. Còn theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ
em - Bộ Y tế, tỷ lệ trẻ em có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục
qua các năm: Năm 2010: 2,9%; năm 2011: 3,1%; năm 2012: 3,2%, tương ứng
tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% (2010), 2,4% (2011), 2,3% (2012) và số
trẻ bị xâm hại tình dục là 1.453 trẻ ( 2013 - theo báo cáo của quỹ Nhi đồng
Liên hiệp quốc UNICEF)… cũng là một con số không nhỏ bổ sung cho số ca
nạo phá thai và tỷ lệ làm mẹ ở trẻ
Trước tình hình này có tới: 46% các em tìm đến sự giúp đỡ của bạn bè,
24% gọi điện đến tổng đài; 13,5 % là giấu kín và 16,5% còn lại sử dụng các
phương pháp khác (theo Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh).
Ở giai đoạn này, trẻ dậy thì vì thế phải trải qua những biến đổi to lớn về cơ

2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới.
Trên thế giới, hoạt động GDGT có mặt rất sớm nhưng được gọi với
những cái tên khác nhau chẳng hạn như sức khỏe vị thành niên, giới tính tình
dục thanh thiếu niên hay sức khỏe sinh sản tuổi mới lớn. Từ sau Hội nghị
quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo (4/1994) đã có định nghĩa
chính thức về GDGT, được thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế
giới và là mối quan tâm của toàn xã hội.
3


Khảo sát các chương trình giáo dục giới tính ở Châu Á cũng đang có
những mức độ phát triển rất khác nhau. Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có
khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học.
Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản
thanhniên. Ấn Độ có các chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ chín
tới mười sáu tuổi. Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11
tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Tại
Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc về đoạn
sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học. Tuy nhiên, ở Bangladesh,
Myanmar, Nepal và Pakistan thì không có những chương trình GDGT như
vậy.[2]
Theo “Giáo dục giới tính toàn cầu”, tại các quốc gia Châu Âu, vào tháng
2/2000, Chính phủ Pháp đã quyết định đưa kiến thức giới tính lên Đài truyền
hình và Sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh
phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả. Tại Đan Mạch,
cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chương trình truyền hình được
Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và SKSS
cho lứa tuổi VTN. Đan Mạch là nước có tỷ lệ trẻ VTN mang thai thấp nhất
thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức

giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời
sống gia đình) năm 1988 có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được
Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO
khu vực. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trần Trọng Thuỷ và Đặng Xuân Hoài,
Đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng
nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới
tính và GDGT của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước,
để chuẩn bị tiến hành GDGT cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia,
nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và
4

Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang
5


những vấn đề có liên quan như: giáo dục SKSS; giáo dục về tình yêu trong thanh
niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; GDGT cho học sinh… Việc nghiên
cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ
Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh.
Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ
nhất, được công bố cuối năm 2007. Đây là cuộc điều tra có quy mô lớn và
toàn diện nhất về thanh thiếu niên được triển khai, với gần 7.600 người tại 42
tỉnh, thành phố tham gia trả lời về giáo dục, việc làm, tình trạng sức khỏe sức khỏe sinh sản. Kết quả điều tra cho thấy: 7,6% số người trong độ tuổi
thanh niên có QHTDTHN, trong đó tỉ lệ nam thanh niên là 11,1%, nữ chỉ có
4%. QHTDTHN phổ biến nhất ở khu vực dân tộc thiểu số với 39,8% ở nam
thanh niên và 26,1% với nữ thanh niên. Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của
thanh niên Việt Nam là 19,6…
Theo nghiên cứu gần đây của tác giả Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học

em được tìm hiểu các kiến thức về giải phẫu sinh lý người. Học sinh sẽ có
điều kiện khám phá các hoạt động sinh lý của cơ thể, giải thích một số hiện
tượng tâm sinh lý lứa tuổi, biết cách vệ sinh thân thể, giữ gìn sức khỏe bản
thân....Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa đề cập đến một vấn đề đó là thời gian một
tiết trên lớp để giảng bài quá ngắn so với sự háo hức được học hỏi của các
em, hơn thế nữa vì là lồng ghép cho nên vấn đề về GDGT cụ thể vẫn chưa thể
giải đáp hết thắc mắc mà các em mong muốn. Đề tài này phân tích dưới góc
độ của một giáo viên phụ trách sinh học cho nên vẫn còn chưa lưu ý đến
những vấn đề tâm tư, tâm lý của các em.[6]
Tác giả Nguyễn Xuân Huệ với nghiên cứu “Nhận thức của học sinh lớp
9 về GDGT tại một số trƣờng THCS ở Quận 11 – Thành phố Hồ Chí Minh”
năm 2012 đã đề cập đến vấn đề nhận thức về GDGT của các học sinh lớp 9
tại một số trường trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh, đồng
7


thời trình bày kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về GDGT ở các mặt: mục
tiêu GDGT và nội dung GDGT trong các trường học tại địa bàn tác giả khảo
sát. Qua phân tích, đánh giá kết quả khảo sát, tác giả nhận thấy rằng đa phần
học sinh có nhận thức đạt yêu cầu về mục đích của GDGT với mức độ trung
bình trở lên. GDGT là một quá trình lâu dài, đòi hỏi dự kiên trì, bền bỉ. Do đó,
gia đình, nhà trường cần sự phối hợp đồng bộ, thống nhất.[7]
Đề tài “Vai trò của GDGT đối với tuổi thành niên hiện nay” của Nguyễn
Thị Lan năm 2013 cho thấy thực trạng về vấn đề GDGT hiện nay trong gia
đình, khi bước vào độ tuổi này, các em dường như có xu hướng độc lập trong
suy nghĩ và hành động, muốn được đối xử như người lớn, nhưng trong suy
nghĩ của nhiều bậc cha mẹ các em vẫn là những đứa trẻ vô tư và hồn nhiên, sự
bí ẩn về giới tính, lối giáo dục hiểu “kín kín mở mở” như vậy đã đưa trẻ vào
quá trình tự mày mò tìm hiểu. Đã bao giờ các bậc cha mẹ của ta tự hỏi rằng:
“trẻ tò mò gì xung quanh chuyện quan hệ tình cảm của ba mẹ” hay chưa?

ngoài ý muốn diễn ra gây ảnh hưởng đến sức khỏe của các em cũng như nòi
giống tương lai của đất nước. Mục đích quan trọng nhất của GDGT là xây
dựng nhân cách tích cực cho tuổi VTN, sao cho nhân cách ấy phát triển phù
hợp với những yêu cầu của xã hội hiện đại: có mối quan hệ giới bình đẳng và
tôn trọng; có trách nhiệm về hành vi tình dục, thay vì hành động theo bản
năng. Cuốn sách giới thiệu về môn học GDGT, vai trò của gia đình, nhà
trường trong việc giáo dục VTN,…[18]
Chuyên đề ngoại khóa “GDGT cho học sinh cơ sở” của tác giả Lê Thế
Nhân là một mô hình GDGT hiện nay tại một số trường THCS, với đề tài này
tác giả đưa ra những nội dung mà mỗi lớp học về vấn đề GDGT. Ví dụ như
đối với lớp 6, lớp 7 học sinh sẽ được học về những hiện tượng về biến đổi tâm
sinh lý, lớp 8, lớp 9 các em được tiếp thu về các mối quan hệ khác giới như
tình bạn, tình yêu,...Tác giả cũng kiến nghị nên đưa GDGT thành một môn
9


học trong trường học để học sinh có thêm nhiều kiến thức, đáp ứng nhu cầu
của các em.[20]
Bác sĩ Nguyễn Duy Tài - Trưởng bộ môn Phụ sản - trường Đại học Y
dược thành phố Hồ Chí Minh với nghiên cứu “ Xác định tuổi VTN có thai và
các yếu tố nguy cơ” tại ba bệnh viện công thuộc thành phố Hồ Chí Minh
(Bệnh viện phụ sản Hùng Vương, bệnh viện Từ Dũ và trung tâm sức khỏe
sinh sản thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy tuổi quan hệ tình dục của vị thành
niên ngày càng trẻ hóa. Năm 2005 thì độ tuổi QHTD lần đầu là 19,8 tuổi, cho
đến năm 2010 thì độ tuổi này giảm xuống còn 18 tuổi và đến 2012 khi khảo
sát các em đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ, cá biệt có những em có QHTD tự
nguyện trước hôn nhân là 12 tuổi. Trước tình trạng trên, người lớn không khỏi
thắc mắc các em gặp vấn đề về skss cũng như tổn thương về tâm lý vậy các
em giải quyết như thế nào khi có QHTD sớm như vậy? Theo Bác sĩ Nguyễn
Duy Tài, những nghiên cứu này vừa giúp chỉ ra thực trạng về sức khỏe sinh

nguyên nhân khách quan và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng
cách. Tác giả cũng đã nói rằng: “Giáo dục tình dục thật ra có mục đích duy
nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm lý phù hợp nhất trong cuộc sống yêu
đƣơng để rồi có một đời sống tình dục thực sự hài lòng, thực sự hạnh phúc
trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT hay không GDGT cho
con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới
việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đề
giới tính thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường. Tác giả cũng đã
kết luận rằng cần giáo dục giới tính cho trẻ tự nhiên, bình thường như các
chương trình giáo dục khác và phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha
mẹ và con cái. Những phân tích cụ thể của tác giả Đào Thị Vân Anh đã cho
ta thấy tầm quan trọng của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính đã viết cho trẻ,

11


giúp trẻ hoàn thiện hơn về việc định hướng và nhìn nhận, suy nghĩ đúng đắn
của kến thức về giới.[24]
Bài viết “GDGT và thái độ của ngƣời lớn” của tác giả Thụy Anh đăng
trên wedsite Tuoitre.vn. Bài viết đã cho chúng ta thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ
trẻ đã có những thắc mắc, tò mò về vấn đề giới tính thông qua các câu được
đặt ra cho bố mẹ. Đó chính là những tìm hiểu đầu tiên về giới tính chính đáng
cần được bố mẹ giải đáp rõ ràng, khéo léo, dễ hiểu chứ không phải lảng tránh
hoặc lờ đi. Bắt đầu từ những hỏi - đáp như thế, bố mẹ có thể giáo dục giới
tính cho con rất nhẹ nhàng và tự nhiên. Nếu bố mẹ có thói quen bỏ qua không
đối mặt với những câu hỏi hóc búa của con hoặc những câu hỏi liên quan đến
các vấn đề tế nhị, không sớm thì muộn đứa trẻ sẽ tiếp cận nguồn thông tin
khác để thỏa mãn tò mò của mình. Vô hình chung, đây chính là bước đầu tiên
cho việc chính các phụ huynh bị sốc sau này khi bé con khoe những kiến thức
thu nhặt được bên ngoài, từ các nguồn đáng tin hoặc chưa được kiểm chứng.

có cái nhìn khoa học hơn về vấn đề giáo dục giới tính, bởi trên thực tế không
ít người còn nhìn nhận sai lầm khi cho rằng trẻ em vẫn còn quá nhỏ để đề cập
tới vấn đề giáo dục giới tính và việc giáo dục giới tính là vai trò và trách
nhiệm của gia đình chứ không phải ai khác.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp những người quản lý có cái nhìn khách quan và
vận dụng có hiệu quả kiến thức CTXH để xây dựng mô hình phù hợp với đối
tượng cụ thể.
Kết quả nghiên cứu cũng giúp NVCTXH- những người chăm sóc và trợ
giúp, cũng như nhà trường – nơi trẻ đang theo học văn hóa... có cái nhìn rõ
ràng hơn để có những quan tâm thấu đáo hơn tới tâm sinh lý của trẻ, từ đó để
có những trợ giúp cho trẻ được đúng và trúng hơn.

13


4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng GDGT của trẻ
em khuyết tật; Thực trạng hoạt động giảng dạy GDGT của Trung tâm cho trẻ
khuyết tật sống trong Trung tâm; Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình
trạng này ở trẻ. Từ đó áp dụng phương pháp CTXH nhóm vào quá trình hỗ trợ
nâng cao kiến thức, kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật sống trong
Trung tâm nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh được
hiệu quả hơn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Điều tra xã hội học qua các phương pháp định lượng, định tính để trình
bày một cách khoa học đánh giá các vấn đề giảng dạy GDGT của Trung tâm
và Kiến thức, kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật hiện đang sống trong Trung

Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu một vài nhân tố cơ bản nhất dẫn
tới tình trạng hạn chế trong kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật
sống trong Trung tâm, tới tình trạng giảng dạy GDGT của Trung tâm và
nghiên cứu tập trung vào mô hình CTXH nhóm nhằm nâng cao kiến thức và
kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật sống tại trung tâm.
7. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong
Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay
như thế nào?
- Vai trò của nhân viên xã hội trong chương trình GDGT tại Trung tâm
Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay ra sao?

15


- Những nguyên nhân nào là cơ bản dẫn tới tình trạng kiến thức và kỹ
năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có
công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh có được như hiện nay?
- Có thể áp dụng CTXH nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng
GDGT cho TKT sống tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã
hội Bắc Ninh?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo
trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay chưa có nhận thức đầy đủ về tuổi dậy thì và
những biểu hiện của tuổi dậy thì, sức khỏe sinh sản vị thành niên, các khía
cạnh của quấy rối tình dục.
- Giáo viên với tư cách là Nhân viên CTXH ở trung tâm cũng đã tham
gia vào các chương trình GDGT nhưng chưa thực sự sát sao và vai trò của họ
chưa được đánh giá đúng nghĩa.
- Có nhiều nguyên nhân, nhưng nhận thức của trẻ khuyết tật và sự không

chính Nhà nước khác.... Bên cạnh đó, để phục vụ công tác nghiên cứu, chúng
tôi còn khai thác thông tin thu thập các văn bản, chính sách, chiến lược phát
triển và kế hoạch hằng năm liên quan tới Trẻ khuyết tật, tới hoạt động GDGT
cho trẻ em khuyết tật sống trong Trung tâm.... Báo cáo thống kê của Trung
tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, các ban ngành
liên quan của địa bàn nghiên cứu. Tìm hiểu qua tư liệu về các chính sách,
quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ
khuyết tật- những trẻ dễ bị tổn thương.
Thu thập các số liệu về các thông tin cơ bản về điều kiện kinh tế xã hội,

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status