Biện pháp giúp học sinh lớp 4, lớp 5 khắc phục những sai lầm thường gặp trong giải toán - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 KHẮC PHỤC NHỮNG SAI
LẦM THƯỜNG GẶP TRONG GIẢI TOÁN

Họ và tên : Nguyễn Văn Thành
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị : Trường Tiểu học Lý Tự Trọng
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Toán

THANH HÓA NĂM 2016
1


MỤC LỤC
Nội dung
A. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

Do đó, ngoài mục tiêu giúp các em có được những kĩ năng kiến thức, việc
dạy học còn phải chú ý phát triển tư duy và bồi dưỡng phương pháp suy luận
cho học sinh. Ngay từ bậc học tiểu học lại càng phải quan tâm làm tốt điều này nhất là ở môn Toán.
Môn Toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu
tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán,
phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết, các
suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa
học, linh hoạt cho học sinh. Môn Toán giúp học sinh có những sáng tạo hay, suy
luận tốt và làm cho quá trình nhận thức thêm phong phú, đặc biệt là nội dung
toán giải .
Giải Toán ở cấp Tiểu học có vị trí vô cùng quan trọng. Nó góp phần củng
cố kiến thức, kĩ năng Toán học, phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời rèn luyện
khả năng diễn đạt và cách trình bày cho học sinh. Trong dạy - học Toán ở Tiểu
học, việc giải toán chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Có thể coi việc dạy học và giải toán là '' hòn đá thử vàng'' của dạy - học Toán. Trong giải toán, học
sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động các kiến thức và khả
năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện
những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh và yêu cầu
học sinh phải biết tư duy một cách linh hoạt. Vì vậy có thể coi giải toán là một
trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ ở học sinh.
Trong chương trình Toán Tiểu học nói chung, chương trình Toán lớp 4,
lớp 5 nói riêng, phần giải toán đóng vai trò hết sức quan trọng và có mặt hầu hết
ở tất cả các bài học. Ngoài các bài ở các dạng toán cụ thể như: Tìm hai số khi
biết tổng và hiệu, tổng và tỉ số hay hiệu và tỉ số của hai số đó, thì giải toán còn
được dùng để rèn luyện các kỹ năng và kiểm tra việc áp dụng các kiến thức cơ
bản. Dạy học giải toán là một trong những con đường hình thành và phát triển tư
duy và năng lực sáng tạo cho học sinh (phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự
nhận xét, so sánh, phân tích tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất
định…). Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao, người giáo viên cần phải biết tổ
chức, hướng dẫn cho học sinh (cá nhân, nhóm, lớp) hoạt động theo chủ đích với
sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách giáo khoa và của đồ dùng dạy học

3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung, chương trình môn toán lớp 5
-Những sai lầm thường gặp trong giải toán ở học sinh lớp 5.
- Học sinh lớp 5 của trường.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu viết sáng kiến, tôi đã sử dụng những phương
pháp đó là:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp thực nghiệm.

4


B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
* Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển
đến cơ sở ban đầu rất quan trọng trong nhân cách con người. Trong các môn học
ở Tiểu học, cùng với các môn học Tiếng Việt, TNXH, môn Toán có vị trí quan
trọng vì:
- Các kiến thức kĩ năng của môn Toán Tiểu học có nhiều ứng dụng trong
đời sống, nó rất cần thiết để học tập các môn khác ở Tiểu học và học tiếp môn
Toán ở THCS .
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
luận, phương pháp giải quyết vấn đề: nó góp phần phát triển trí thông minh,
cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo. Nó đóng góp cho việc hình thành các
phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: Cần cù, cẩn thận, có
ý trí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.

5


biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện
giữa cái đã cho và cái cần tìm một cách lô gíc; Suy luận, nêu lên những phán
đoán, rút ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết
vấn đề đặt ra v.v... Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục
cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế
hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc
mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v...
Thế nhưng trong quá trình giảng dạy nhiều năm ở lớp 5, tôi nhận thấy
trong thực tế nhiều học sinh còn lúng túng và mắc phải sai lầm trong việc thực
hiện giải một số bài toán.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trong quá trình giảng dạy nhóm 20 học sinh lớp 5B năm học 2014-2015
thì thấy học sinh còn có những sai sót khi thực hiện giải toán, cụ thể như sau:
2.1. Bài toán liên quan đến phân số:
Bài toán 1: Một trường tiểu học có tỉ số học sinh nam so với học sinh nữ
là 75%. Nếu có thêm 60 học sinh nam thì số học sinh nam bằng

9
số học sinh
10

nữ. Tính số học sinh hiện có của trường.
* Đã có 5/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
3
.
4

Số tiền bạn Tuân được chia là: 50000 : 8 x 5 = 35000( đồng)
Đáp số: Tuấn: 21000 đồng
Tuân: 35000 đồng
6


2.3. Bài toán liên quan đến tỉ lệ:
Bài toán 3: Người đội trưởng tính rằng: Muốn sơn xong ngôi nhà cao
tầng thì cần một nhóm gồm 5 thợ làm việc 8 ngày, mỗi ngày 9 giờ. Người đội
phó hỏi: “ Thế muốn sơn xong ngôi nhà đó trong 6 ngày, mỗi ngày 10 giờ thì
cần phải có mấy người?”. Bạn hãy tính giúp chú đội trưởng nhé! Nhưng cần lưu
ý rằng năng suất làm việc của mỗi người thợ là như nhau.
* Đã có 10/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
Số giờ công của nhóm 5 người là: 9 x 8 = 72 ( giờ)
Số giờ công của nhóm mới là: 10 x 6 = 60( giờ).
Số giờ công của nhóm 5 người hơn nhóm mới là 72 – 60 – 12 (giờ).
Số ngày công của nhóm 5 người hơn nhóm mới là: 8 – 6 = 2 (ngày).
Số giờ của nhóm mới là: 12 : 2 = 6 ( người).
Đáp số: 6 người
2.4. Bài toán về tìm số chữ số 0 tận cùng:
Bài toán 4: Có bao nhiêu chữ số 0 ở tận cùng của tích sau:
1 x 2 x 3 x 4 x…. x 97 x 98 x 99.
* Đã có 12/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
Vì tích của một số chia hết cho 5 và một số chẵn có tận cùng là 0. Trong
tích: 1 x 2 x 3 x 4 x…. x 97 x 98 x 99 có 19 thừa số chia hết cho 5 và số thừa số
chẵn trong tích lớn hơn 19 nên tích đó có 19 chữ số 0 tận cùng.
Đáp số: 19 chữ số 0
2.5. Bài toán liên quan đến sự thay đổi tỉ lệ:

12

Số dân phường A hiện nay là:
(168000 : ( 3 + 4)) x 3 = 72000( người).
Số dân phường B hiện nay là:
168000 – 72000 = 96000( người).
Đáp số: Phường A: 72000 người; Phường B: 96000 người
7


2.6. Bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” có liên quan
đến phép tính về hỗn số:
Bài toán 6: Nửa chu vi hình chữ nhật là 27

9
5
m. Chiều dài bằng chiều
16
4

rộng. Tính diện tích hình chữ nhật đó.
* Đã có 4/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
Nếu coi số đo chiều dài là 5 phần bằng nhau thì chiều rộng là 4 phần như thế.
Tổng số phần bằng nhau là:
4 + 5 = 9 ( phần)
Chiều rộng hình chữ nhật đó là:
( 27

9

64

2.7. Bài toán liên quan đến tỉ lệ bản đồ:
Bài toán 7: Một sân trường hình chữ nhật trên bản vẽ được vẽ theo tỉ lệ
xích 1 : 100, có số đo chiều dài là 12 cm và chiều rộng là 8 cm. Tính diện tích
sân trường trên thực tế.
* Đã có 7/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
Diện tích sân trường trên bản vẽ là:
12 x 8 = 96 (cm2).
Diện tích sân trường trên thực tế là:
96 x 100 = 9600 (cm2).
Đáp số: 9600 (cm2).
2.8. Bài toán liên quan đến chia hết và chia có dư:
Bài toán 8: Khi chia 1095 cho một số tự nhiên ta được thương là 7 và số
dư là số lớn nhất có thể có. Tìm số chia?
* Đã có 3/20 học sinh được khảo sát giải sai và giải như sau:
Bài giải:
Số chia luôn bằng số bị chia chia cho thương.
Do vậy số chia là: 1095 : 7 = 156( dư 3)
Đáp số: 156.
2.9. Bài toán liên quan đến “Rút về đơn vị”:
Bài toán 9: Hai bạn Hùng và Dũng cùng làm trực nhật lớp học mất 30
phút. Nếu Hùng làm một mình thì mất thời gian bằng

2
thời gian Dũng làm một
3

mình. Hỏi mỗi bạn làm một mình thì mất bao lâu.

30

Thời gian để Hùng làm một mình là:
Thời gian để Dũng làm một mình là:

Đáp số: Hùng: 75 phút; Dũng: 50 phút
2.10. Bài toán liên quan đến tỉ số phần trăm:
Bài toán 10: Hạt tươi chứa 40% nước, hạt khô chứa 10% nước. Hỏi đem
phơi 15kg hạt tươi thì được bao nhiêu ki-lô-gam hạt khô?
* Đã có 6/20 học sinh giải sai ( chiếm 30% ) và giải như sau:
Bài giải:
Hạt khi phơi khô thì lượng nước bay hơi và nhẹ đi.
Tỉ số phần trăm lượng nước bay hơi là:
40% - 10% = 30%
Lượng nước bay hơi là: 15 : 100 x 30 = 4,5(kg)
Phơi 15kg hạt tươi thì được số ki-lô-gam hạt khô là:
15 – 4,5 = 10,5(kg)
Đáp số: 10,5(kg)
* Kết quả khảo sát:
Nội dung
khảo sát

Số học sinh
khảo sát

Bài toán 1

Số học sinh giải đúng

Số học sinh giải sai


10

50

10

50

Bài toán 4

20

8

40

12

60

Bài toán 5

20

14

70

6


17

85

3

15

Bài toán 9

20

5

25

15

75

Bài toán 10

20

14

70

6

3
3
- =
( số học sinh toàn trường).
10 4
20

3
số học sinh nữ. Từ đó sai kết quả cuối cùng.
20

* Biện pháp khắc phục: Sau khi phân tích nguyên nhân giải sai, tôi yêu cầu
học sinh nhận ra vấn đề: tỉ số mà đề bài cho biết là tỉ số đối với học sinh nữ nên
đơn vị ở phép tính phải là : số học sinh nữ.
* Đưa ra cách giải đúng và đối chứng, so sánh với cách giải sai:
Bài giải sai:
Bài giải đúng:
Đổi 75% =

3
.
4

Phân số chỉ 60 học sinh là:
9
3
3
- =
( số học sinh toàn trường)
10 4

3
= 400 (em).
20

Số học sinh nam hiện có của trường là:
400 x

3
= 300 (em)
4

Số học sinh hiện có của trường là:
400 + 300 = 700 ( em).
Đáp số: 700 ( học sinh).

3.2. Giải pháp với Bài toán liên quan đến “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số
của hai số đó”:
Bài toán 2: Sau khi thi xong đội tuyển học sinh giỏi, Tuấn, Tuân và Tú rủ
nhau đi pic nic hai ngày nghỉ cuối tuần. Tuấn mang theo 3 túi thức ăn, Tuân
10


mang theo 5 túi thức ăn, còn Tú chẳng chuẩn bị được gì nên mang theo 56000đ.
Cả chuyến đi cả ba bạn chỉ dùng hết số thức ăn mà hai bạn mang đi vì thế Tuấn
và Tuân chia nhau số tiền của Tú. Hỏi Tuấn và Tuân mỗi người được bao nhiêu
tiền? Biết rằng các túi thức ăn có giá trị như nhau.
* Phân tích nguyên nhân giải sai: Cách giải sai ở chỗ 56000 đồng được
phân phối theo tỉ lệ đóng góp của Tuấn và Tuân để ba người ăn. Vì 56000 đồng
này trả cho phần thức ăn mà Tú đã ăn nên phải chia theo tỉ lệ Tuấn và Tuân đã
góp cho Tú ăn.

8
56000 : 8 x 3 = 21000(đồng)
ăn: + = ( túi).
3
3
3
Số tiền bạn Tuân được chia là:
Vậy
Tuấn
nhận
được:
50000 : 8 x 5 = 35000( đồng)
8
1
Đáp số: Tuấn: 21000 đồng
56000 : x = 7000(đồng).
3

Tuân: 35000 đồng

3

Tuân nhận được:
56000 – 7000 = 49000 ( đồng).
Đáp số: Tuấn: 7000 đồng
Tuân: 49000 đồng

3.3. Giải pháp với Bài toán liên quan đến tỉ lệ:
Bài toán 3: Người đội trưởng tính rằng: Muốn sơn xong ngôi nhà cao
tầng thì cần một nhóm gồm 5 thợ làm việc 8 ngày, mỗi ngày 9 giờ. Người đội

Số ngày công của nhóm 5 người hơn
nhóm mới là: 8 – 6 = 2 (ngày).
Số giờ của nhóm mới là:
12 : 2 = 6 ( người).
Đáp số: 6 người
3.4. Giải pháp với Bài toán về tìm số chữ số 0 tận cùng:
Bài toán 4: Có bao nhiêu chữ số 0 ở tận cùng của tích sau:
1 x 2 x 3 x 4 x…. x 97 x 98 x 99.
* Phân tích nguyên nhân giải sai: Bài giải sai ở chỗ đã chưa tính được hết
số chữ số 0 ở tận cùng của tích đã cho. Mỗi số 25; 50; 75 có thể viết thành một
tích trong đó có hai thừa số 5 nên trong tích đã cho phải có thêm ba thừa số 5.
Do đó tích có 22 chữ số 0 tận cùng.
* Biện pháp khắc phục: Sau khi phân tích nguyên nhân giải sai, tôi chỉ
cho học sinh thấy rõ: Mỗi số 25; 50; 75 có thể viết thành một tích trong đó có
hai thừa số 5 ( 25 = 5 x 5; 50 = 5 x 5 x 2; 75 = 5 x 5 x 3) nên trong tích đã cho
phải có thêm ba thừa số 5.
* Đưa ra cách giải đúng và đối chứng, so sánh với cách giải sai:
Bài giải sai:
Bài giải đúng:
Vì tích của một số chia Có 8 thừa số tròn chục là: 10; 20; 30; 40; 60;
hết cho 5 và một số chẵn có tận 70; 80; 90 mỗi số có thể viết thành tích trong
cùng là 0. Trong tích: 1 x 2 x 3 đó có một thừa số 5. Có 8 thừa số có tận cùng
x 4 x…. x 97 x 98 x 99 có 19 là 5 là: 5; 15; 35; 45; 55; 65; 85; 95.
thừa số chia hết cho 5 và số Có ba thừa số: 25; 50; 75 mà mỗi thừa số có
thừa số chẵn trong tích lớn hơn thể viêt thành tích trong đó có hai thừa số
19 nên tích đó có 19 chữ số 0 5( 25 = 5 x 5; 50 = 5 x 5 x 2; 75 = 5 x 5 x 3)
tận cùng.
Vậy tích đã cho có 8 + 8 + 6 = 22 ( thừa số 5).
Đáp số: 19 chữ số 0
Trong tích có nhiều hơn 22 thừa số chẵn, mà


được khi mẫu số biểu thị cùng một đơn vị của một đại lượng). Do đó bài giải sai
và đáp số sai.
* Biện pháp khắc phục: Sau khi phân tích nguyên nhân giải sai, tôi chỉ
cho học sinh thấy rõ: vì hai đơn vị tính khác nhau nên không thực hiện được
phép trừ:

3
2
1
- = (phép trừ hai phân số chỉ thực hiện được khi mẫu số biểu
4
3
12

thị cùng một đơn vị của một đại lượng).
* Đưa ra cách giải đúng và đối chứng, so sánh với cách giải sai:
Bài giải sai:
Bài giải đúng:
Tổng số dân hai phường A và B tăng
Hiệu số dân của phường B và phường
thêm là:
A ít hơn hiệu số dân trước đây của B
8000 + 6000 = 14000 (người).
và A là: 8000 – 6000 = 2000 ( người).
1
Phân số chỉ số dân tăng thêm của
Theo bài ra, trước đây B hơn A là số
3
phường A và B là:

3
1
trước đây nhiều hơn
số dân của B
4

dân của B. Như vậy

hiện nay là 2000 người.
Biểu thị số dân của B hiện nay là 4
phần bằng nhau thì

1
số dân của B
3

trước đây là 1 phần cộng thêm 2000
người hay số dân trước đây của B là 3
phần đó cộng thêm 6000 người ( vì
2000 x 3 = 6000).
Số dân phường B hiện nay là:
( 6000 + 6000 ) x 4 = 48000( người).
Số dân phường A hiện nay là:
48000 : 4 x 3 = 36000 (người).
Đáp số: Phường A: 36000gười
Phường B: 48000gười

13



nhau thì chiều rộng là 4 phần như thế. nhau thì chiều rộng là 4 phần như thế.
Tổng số phần bằng nhau là:
Tổng số phần bằng nhau là:
4 + 5 = 9 ( phần)
4 + 5 = 9 ( phần)
Chiều rộng hình chữ nhật đó là:
Chiều rộng hình chữ nhật đó là:
( 27

9
4
1
: 9 ) x 4 = 12 = 12 (m).
16
16
4

Chiều dài hình chữ nhật là:
9
4
5
27 - 12 = 15 ( m).
16
16
16

Dện tích hình chữ nhật đó là:
1
5
5

1
5
49
245
12005
12 x 15
=
x
=
=
4
16
4
16
64
37
187 ( m2)
64
37
Đáp số: 187 ( m2)
64

3.7.Giải pháp với Bài toán liên quan đến tỉ lệ bản đồ:
Bài toán 7: Một sân trường hình chữ nhật trên bản vẽ được vẽ theo tỉ lệ
xích 1 : 100, có số đo chiều dài là 12 cm và chiều rộng là 8 cm. Tính diện tích
sân trường trên thực tế.
* Phân tích nguyên nhân giải sai: Kết quả bài giải đã hiểu sai về tỉ lệ xích
nên tính diện tích thực tế là: 9600cm 2. Nếu hiểu đúng về tỉ lệ xích thì kích thước
thực của sân trường phải có chiều dài gấp 100 lần và chiều rộng cũng gấp 100
lần. Do đó diện tích phải gấp lên là: 100 x 100 = 10000 lần. Vậy diện tích sân

phép chia có số dư bằng 0. Nếu số chia đúng là 156 thì số dư lớn nhất phải là
155( không thể là 3 như ở bài giải), đương nhiên đáp số cũng sai.
* Biện pháp khắc phục: Sau khi phân tích nguyên nhân giải sai, tôi chỉ
cho học sinh thấy rõ: “ số chia luôn bằng số bị chia chia cho thương” - Câu này
chỉ đúng khi phép chia có số dư bằng 0.
* Đưa ra cách giải đúng và đối chứng, so sánh với cách giải sai:
Bài giải sai:
Bài giải đúng:
Số chia luôn bằng số bị chia chia cho Số dư lớn nhất kém số chia một đơn vị.
thương.
Nếu thêm 1 vào số bị chia thì phép chia
Do vậy số chia là:
có số dư bằng 0 và thương sẽ tăng
1095 : 7 = 156( dư 3)
thêm 1.
Số bị chia thêm 1 là :
Đáp số: 156.
1095 + 1 = 1096.
Thương thêm 1 là:
7 + 1 = 8.
Số chia phải tìm là:
1096 : 8 = 137.
Đáp số: 137
3.9. Giải pháp với bài toán liên quan đến “Rút về đơn vị”:
Bài toán 9: Hai bạn Hùng và Dũng cùng làm trực nhật lớp học mất 30
phút. Nếu Hùng làm một mình thì mất thời gian bằng

2
thời gian Dũng làm một
3

(lớp học)
( lớp học).
30
Trong một phút Hùng làm được:
Thời gian làm việc tỉ lệ nghịch với
1
1
năng suất làm việc. Vì thời gian Hùng
: ( 2 + 3) x 2 = ( lớp học).
2
30
75
làm một mình bằng thời gian Dũng
Trong một phút Dũng làm được:
3
1
1
làm một mình nên trong cùng một thời
: ( 2 + 3) x 3 = ( lớp học).
30
50
gian thì phần việc Hùng làm được bằng
3
Thời gian để Hùng làm một mình là:
phần việc Dũng làm được.
1
2
1:
= 75 (phút).
75

30
75

Thời gian Dũng làm một mình xong
việc là: 1 :

1
= 75 (phút).
75

Đáp số: Hùng: 50 phút
Dũng: 75phút
3.10.Giải pháp với bài toán liên quan đến tỉ số phần trăm:
Bài toán 10: Hạt tươi chứa 40% nước, hạt khô chứa 10% nước. Hỏi đem
phơi 15kg hạt tươi thì được bao nhiêu ki-lô-gam hạt khô?
* Phân tích nguyên nhân giải sai:
Bài toán mắc lỗi cơ bản là: Tỉ số phần trăm của hạt tươi và hạt khô là
hoàn toàn khác nhau nên đã sai ngay từ phép tính đầu tiên:
Tỉ số phần trăm lượng nước bay hơi là:
40% - 10% = 30%
Từ đó dẫn đến sai ở các bước tiếp theo và đáp số cũng sai.
* Biện pháp khắc phục: Sau khi phân tích nguyên nhân giải sai, tôi chỉ cho
học sinh thấy rõ: tỉ số đối với tổng lượng hạt tươi và tỉ số đối với tổng lượng hạt
khô là khác nhau ( tổng lượng hạt tươi nặng hơn tổng lượng hạt khô ), nên
không thực hiện được phép trừ trong bài 40% - 10% = 30%.
16


* Đưa ra cách giải đúng và đối chứng, so sánh với cách giải sai:
Bài giải sai:

thông thường) thì năm nay, tôi vận dụng giải pháp đã nêu vào nhóm 20 học sinh
lớp 5B năm học 2015-2016. Tôi thấy chất lượng được nâng lên rõ rệt. Cụ thể:
Nội dung
khảo sát

Số học sinh
khảo sát

Bài toán 1

Số học sinh giải đúng

Số học sinh giải sai

20

SL
20

TL(%)
100

SL
0

TL(%)
0

Bài toán 2


0

0

Bài toán 5

20

20

100

0

0

Bài toán 6

20

20

100

0

0

Bài toán 7


0

0

Bài toán 10

20

20

100

0

0
17


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong quá trình dạy giải toán cho lớp mình, tôi rút ra một số kinh
nghiệm để giúp học sinh khắc phục sai sót khi giải một số dạng toán:
Xác định được sự giống nhau và khác nhau giữa cách giải sai và cách
giải đúng.
Khi dạy giáo viên phải đặc biệt nhấn mạnh ở chỗ khác nhau đó.
Phân tích kĩ sai sót của học sinh và đề ra hướng khắc phục.
Nên thường xuyên đưa ra những bài tập cùng dạng vào cuối giờ học để
giúp học sinh thuần thục hơn.
Trong phạm vi kinh nghiệm này tôi chỉ đưa ra một số bài toán đặc trưng
cho từng trường hợp về sai sót mà học sinh thường mắc phải. Thực tế đã giúp



mạnh dạn đưa ra để các bạn đồng nghiệp tham khảo khi hướng dẫn học sinh
thực hiện giải toán.
Tôi rất mong được sự góp ý và bổ sung của các bạn đồng nghiệp, các cấp
lãnh đạo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
P.Đông Sơn, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Xác nhận của Hiệu trưởng nhà trường

Người viết

Nguyễn Văn Thành

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status