MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU.
2
1. Lý do chọn đề tài.
2
2. Mục đích nghiên cứu.
2
3. Đối tượng nghiên cứu.
3
4. Phương pháp nghiên cứu.
3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
4
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
4
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết ở bậc tiểu học, học sinh được học môn Toán, Tiếng Việt
cùng với các môn học khác. Mỗi môn học đều góp phần vào hình thành và phát
triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Trong
đó môn Toán có vị trí đặc biệt quan trọng vì:
+ Toán học là môn khoa học trí tuệ cao nhất, là chìa khoá mở cửa cho các
ngành khoa học khác.
+ Các kiến thức kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong
đời sống. Chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học
khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở Trung học cơ sở.
+ Môn Toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hình
dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận
thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong
cuộc sống.
+ Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề. Nó góp phần phát
triển trí tuệ thông minh, cách suy nghĩ độc lập, hình thành các phẩm chất cần cù,
cẩn thận, tự tin, có ý chí vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong
khoa học.
Đối với lớp 1 môn Toán là môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm
xuất phát của cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường cho các em đi vào
thế giới kỳ diệu của toán học, giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã
học vào cuộc sống hằng ngày một cách thực tế.
Hiện nay ở các trường Tiểu học đã và đang chỉ đạo rất khó với học sinh bởi
ở bậc Mầm non các em chơi là chủ đạo nhưng bắt đầu vào lớp 1 các em đã phải
làm quen với các con số, các phép tính và đặc biệt là phải học.
Trách nhiệm của giáo viên là phải tạo được hứng thú cho học sinh khi học và
giúp các em ghi nhớ kiến thức một cách tự nhiên. Làm được điều đó tức là giáo
viên đã đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy để góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học của toàn ngành và đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy học tôi
đã nghiên cứu và đúc rút được kinh nghiệm về: “ Một số hình thức tổ chức dạy
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Lứa tuổi của học sinh tiểu học từ 6 đến 10 tuổi. Đặc điểm tâm sinh lý của các
em đang ở giai đoạn phát triển rất mạnh về thể chất và tư duy. Các em rất hiếu
động, tự giác mang tính tập thể, ít đi sâu vào chi tiết, mang tính không chủ động.
Các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác dễ mắc sai lầm, có thể còn lộn xộn.
Sự chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý
chí chưa mạnh. Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy, nhu cầu
hứng thú có thể kích thích và duy trì được sự chú ý không chủ định. Sự ghi nhớ các
bài học của các em còn mang tính cụ thể, khả năng trừu tượng hoá, khái quát hoá
còn hạn chế.
Mặt khác, vui chơi là hoạt động không thể thiếu ở trẻ, mặc dù hoạt động học
tập là hoạt động chủ đạo. Tuy vậy, hoạt động vui chơi vẫn có vị trí rất quan trọng.
Các nhà tâm lý học cho rằng : mỗi người khi cất tiếng khóc chào đời đều như một
ngôi nhà trống chưa hề được trang bị đồ đạc, nhưng nhờ vui chơi cũng như các hoạt
động khác, thế giới tinh thần đứa trẻ được tạo dựng như đồ đạc được kê trong nhà.
Đối với lứa tuổi này, nếu học sinh chơi có nội dung tốt, lại được tổ chức hợp lý,
đúng lúc sẽ có tác dụng phát triển năng khiếu, tính tình, sở thích ... Ngoài ra hoạt
động vui chơi còn phát triển ở các em khả năng sức lao động dẻo dai.
Chính vì vậy trong các giờ học nhất là giờ Toán phải tìm cách để cho giờ
học được hấp dẫn và lý thú, kích thích học sinh trong quá trình học, hướng dẫn các
em các thủ thuật ghi nhớ bài học qua trò chơi, câu đố...tư duy của các em được phát
triển, các em sẽ nhạy bén hơn.
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Đối với học sinh : Đến giờ học toán các em không háo hức, mong chờ
như học các môn khác, nhiều em vừa học xong đã quên ngay.
Năm học 2014 – 2015 tôi được phân công và giảng dạy lớp 1C kết quả của
môn toán cuối năm học đạt như sau:
Hoàn thành
*Hoạt động 1: Giới thiệu số 1; 2; 3.
- Giới thiệu số 1 theo các bước sau:
Bước 1 : Quan sát
- Giáo viên lần lượt gắn lên bảng cho học sinh quan sát các bức tranh có 1 bông
hoa; 1 quả cam; 1 bạn gái.
- Mỗi lần cho học sinh quan sát giáo viên đều cho học sinh nêu: “Có 1 bông hoa; có
1quả cam; có 1 bạn gái ”…
- Yêu cầu học sinh lấy trong hộp đồ dùng toán: 1 hình tròn; 1 hình tam giác; 1 hình
vuông. Mỗi lần lấy ra học sinh đều nêu: có 1 hình tròn; 1 hình tam giác; 1 hình
vuông.
Bước 2: Giới thiệu số 1
- Giáo viên lần lượt chỉ vào từng nhóm đồ vật và nêu : 1 bông hoa, có 1quả cam,
có 1 bạn gái, 1chấm tròn... đều có số lượng là 1, ta dùng số 1 để chỉ số lượng của
mỗi nhóm đồ vật đó, số một viết bằng chữ số 1, viết như sau...( viết số 1 lên bảng)
giáo viên hướng dẫn cho học sinh quan sát chữ số 1 in, chữ số 1 viết, học sinh chỉ
vào từng chữ số và đều đọc là một.
- Yêu cầu học sinh lấy chữ số 1 ở hộp đồ dùng học toán
- Giới thiệu số 2, số 3 tương tự như giới thiệu số 1.
Giải pháp 2: Tổ chức trò chơi.
Cuối mỗi tiết toán hoặc giữa tiết căn cứ vào mục tiêu bài dạy giáo viên có thể
lựa chọn các trò chơi phù hợp để học sinh được thay đổi không khí, được thoải mái
nhưng vẫn có tác dụng củng cố kiến thức vừa học. Sau đây tôi xin đưa ra một số trò
chơi áp dụng trong các tiết học như sau:
Trò chơi 1: Cùng leo núi ( Lập phép tính đúng )
Trò chơi này dùng trong các tiết dạy về bảng cộng, trừ để phát triển tư duy lô gic và
củng cố các bảng cộng, trừ đã học, rèn kĩ năng lập phép tính đúng.
* Chuẩn bị: 3 hộp mỗi hộp có 12 tấm tròn nam châm ghi sẵn 12 số( tùy theo
từng bài dạy để ghi số cho phù hợp), 2 tấm tròn nam châm ghi sẵn 2 dấu ( +), 2 tấm
tròn nam châm ghi sẵn 2 dấu ( - ), 4 tấm tròn nam châm ghi sẵn 4 dấu ( = ), 3 bảng
sắt.
người thắng cuộc.
Ví dụ : Bài: Số 10.
* Giáo viên chuẩn bị: 22 tấm bìa ghi các số 0; 1, 2; 3; …; 10.
* Cách chơi : Gọi 3 học sinh cùng chơi 1 lượt.
Em trưởng trò hô: “ 10 gồm”.
Em bên phải hô: “ ba” ( giơ số 3).
Em bên trái hô “và bảy ” ( giơ số 7).
Lần lượt em bên phải, bên trái làm trưởng trò hô cho các bạn thực hiện. Bạn nào
thực hiện đúng nhất, nhanh nhất được cả lớp thưởng một tràng pháo tay.(Tương
tự như vậy đối với các số khác).
Trò chơi 3: Bác nông dân giỏi
Trò chơi nhằm giúp học sinh củng cố cách sử dụng thước chia cm để đo đoạn
thẳng.
* Chuẩn bị:
- 3 tờ bìa hình chữ nhật mặt sau có bông hoa chăm học; 3 thước thẳng chia cm.
* Cách chơi:
6
- Giáo viên chia lớp làm 3 nhóm, yêu cầu các nhóm cử đại diện 1 bạn tham gia
chơi.
- Giáo viên treo tờ bìa đã định kích thước và nói: Một bác nông dân được hợp tác
xã chia cho một thửa ruộng hình chữ nhật nhưng chưa rõ kích thước là bao nhiêu.
Em hãy giúp bác ấy đo lại thửa ruộng nhà mình.
- Học sinh dùng thước đo các cạnh thửa ruộng ( tờ bìa ).
Tuyên dương, khen thưởng cho học sinh đo nhanh và chính xác tờ bìa có bông hoa
chăm học đó.
Trò chơi 4: Rồng rắn lên mây
Trò chơi này nhằm kiểm tra kĩ năng tính nhẩm của học sinh. Ví dụ: Củng cố các
bảng cộng, trừ trong phạm vi 10...
Cháu có thư không?
Đưa giúp cháu với
Số nhà . . .là 8
Khi đọc đến câu cuối cùng “ Số nhà ....là 8” thì đồng thời em đó giơ thẻ ghi số 8 của
mình lên cho cả lớp xem. Lúc này nhiệm vụ của “ Bác đưa thư” phải tính nhẩm cho
nhanh để chọn đúng lá thư có ghi phép tính có kết quả là số tương ứng giao cho chủ
nhà (ở trường hợp này bác đưa thư phải chọn 1 trong các phong bì “9 – 1; 8 – 0; 10 –
2; 3 + 5, …” giao cho chủ nhà. Chủ nhà nhận thư và nói: “ Cháu cảm ơn bác ạ”. Cứ
như vậy các bạn chơi lại nói và “Bác đưa thư” lại tiếp tục đưa thư cho các nhà khác.
Nếu “Bác đưa thư” nhẩm sai, đưa không đúng địa chỉ nhận thì không được
đóng vai đưa thư nữa mà trở về chỗ để các bạn khác lên thay.
Nếu các lần đưa thư đều đúng thì sau 3 lần được cô giáo tuyên dương và đổi
chỗ cho bạn khác chơi. ( Số nhà là các số khác tiến hành tương tự)
Giải pháp 3: Sử dụng câu đố, truyện kể.
Trong một số tiết học toán, giáo viên có thể dành 1 đến 2 phút để kể cho học
sinh nghe một mẩu chuyện vui hoặc đặt một câu đố để học sinh được thư giãn. Việc
này có tác dụng giúp học sinh củng cố kiến thức đã học vừa giúp các em có những
kiến thức thực tế.
Ví dụ 1: Bài các số 1, 2, 3.
* Giáo viên có thể kể cho các em nghe câu chuyện: Hỏi mẹ.
Một bà mẹ hỏi cô con gái 6 tuổi của mình:
- Con gái yêu của mẹ, con có mấy cái tay, mấy cái chân, mấy cái tai, mấy con mắt,
mấy cái miệng?
Cô con gái nhẩm sau đó trả lời đúng tất cả các câu hỏi của mẹ. Rồi bỗng nhiên cô
gái hỏi mẹ :
- Mẹ ơi, tại sao người ta có 2 tay, 2 tai, 2 mắt và chỉ có 1 cái miệng?
Bà mẹ cười âu yếm trả lời con:
- Người ta chỉ cần 2 tay để làm được nhiều, cần 2 tai để nghe được nhiều, cần 2 mắt
về phía trước. Năm ấy, trời hạn nặng cây cối khô héo hết. Các con vật khát đến
cháy cổ. Bác Cóc là câụ ông Trời, dẫn đầu 1 đoàn đại biểu các con vật trong đó có
cua càng đi kiện ông Trời. Ông Trời thua kiện, phải làm mưa. Trên đường thắng lợi
trở về. cua ta chẳng may bị ngã, mai cua nứt rạn gồ ghề, đôi mắt lồi ra và quay
ngang. Từ đó họ hàng nhà cua không còn đi thẳng được nữa.
Tuy hình dạng cua thay đổi, nhưng muôn loài vẫn nhận ra.
Con cua tám cẳng hai càng.
Một mai hai mắt rõ ràng con cua.
Vì bây giờ đôi mắt đã quay ngang nên:
Con cua tám cẳng hai càng
Chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày.
Ví dụ 3: Phép cộng trong phạm vi 3.
Toán vui: Hai người là bố
Hai người là con.
Cộng lại cho tròn
Ba người cả thảy
Tính toán như vậy
Liệu có sai không.
Em giải thích giùm?
Ví dụ 4 : Phép cộng trong phạm vi 4.
Toán vui:
Có bao nhiêu đôi ủng
Mà ban Phương mua về
Để mèo được đi hia
Chân khỏi phải dầm nước.
9
Ví dụ 5: Phép cộng trong phạm vi 5
Một đàn ngỗng đi trên đường đê. Con đi bên phải ở bên phải bốn con, con đi bên
Chưa hoàn thành
Ghi chú
Sĩ số
SL
TL
SL
TL
32
32
100%
0
0
10
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Môn toán ở Tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện phương
pháp suy nghĩ, suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, để có căn cứ khoa học
toàn diện, chính xác và có nhiều tác dụng trong việc rèn luyện trí thông minh, tư
duy linh hoạt, độc lập, sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp, phong
cách làm việc có khoa học, góp phần giáo dục những đức tính của con người như
cần cù, kiên trì, chịu khó…
Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện áp dụng các hình thức tổ chức dạy học,
tôi nhận thấy những ưu điểm khả quan đã nêu.
Việc áp dụng hình thức dạy học như thế cơ bản là học sinh vận dụng nhiều,
được làm việc nhiều hơn. Giáo viên không cần giảng nhiều mà chỉ là người hướng
dẫn và cách tiến hành bài học để học sinh chủ động nắm kiến thức mới. Tiết dạy
nhẹ nhàng, học sinh hứng thú sôi nổi, nhiệt tình trong học tập. không có thời gian
các bạn đồng nghiệp, của hội đồng khoa học các cấp để kinh nghiệm này được
hoàn thiện và vận dụng vào thực tế giảng dạy tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hoằng Trường, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Nguyễn Thị Hà
12