Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học các bảng nhân và chia ở lớp 2 - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU

a. Lí do chọn đề tài
Cùng với các môn học khác ở Tiểu học, môn Toán có một vị trí hết sức
quan trọng. Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng
trong cuộc sống, chúng cần thiết cho người lao động, cần thiết cho các môn học
khác. Nó góp phần to lớn vào sự phát triển tư duy, trí tuệ của con người. Đồng
thời góp phần hình thành các phẩm chất cần thiết, quan trọng cho người lao
động.
Thực tế tôi thấy rằng ở môn Toán: Những yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ
năng có liên quan đến số tự nhiên; cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên; số thập
phân; các đại lượng cơ bản; các yếu tố hình học đều là những kiến thức và kĩ
năng rất cơ bản, cần thiết trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong học tập của
học sinh; Đối với môn Toán ở lớp 2 mục tiêu dạy học được cụ thể hoá thành
những yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng ở các nội dung: Số học số và phép
tính); đại lượng và đo đại lượng; các yếu tố hình học; giải toán có lời văn (một
số yếu tố đại số được tích hợp ở nội dung số học). Chương trình Toán lớp 2 là
một bộ phận của chương trình Toán Tiểu học và là sự tiếp tục của chương trình
Toán lớp 1.
Như chúng ta đã biết theo chương trình chuẩn kiến thức và kĩ năng của Bộ
Giáo dục hiện nay thì việc dạy học các kiến thức và kĩ năng của môn Toán ở
Tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêng, đặc biệt là phần dạy học các bảng nhân,
bảng chia đó là sự kế thừa có nhiều ý tưởng mới: Học sinh tự tìm tòi, phát hiện
và tự chiếm lĩnh kiến thức mới trong từng bài học, tăng thực hành vận dụng, sử
dụng nội dung gần gũi với thực tế cuộc sống đời thường của học sinh. Sự lựa
chọn nội dung và phương pháp hiện đại thiết thực của giáo viên trong dạy học sẽ
góp phần giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí,
hình thành phương pháp tự học, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề và tự chiếm
lĩnh kiến thức mới dựa trên sự dẫn dắt của người thầy.
Vậy làm thế nào để chất lượng dạy học môn Toán ở lớp 2 đạt hiệu quả cao
đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội. Đó là niềm trăn trở của tôi bấy lâu

Chương trình toán lớp 2 là một bộ phận của chương trình toán Tiểu học và
là sự tiếp tục của chương trình toán lớp . Chương trình này kế thừa và phát triển
những thành tựu lớp 2 ( cũ) ở nước ta, thực hiện những đổi mới về cấu trúc nội
dung để tăng cường và ứng dụng kiến thức mới, chú trọng phát triển toàn diện,
chủ động, sáng tạo cho học sinh thích ứng với xã hội hiện đại và công nghiệp
hóa.
Học thuộc các bảng nhân, bảng chia lớp 2, các em mới biết làm tính nhân
đó là một trong kĩ năng tính toán cơ bản và quan trọng trong các kĩ năng thực
hành tính toán, khi học toán không chỉ ở Tiểu học mà ở các lớp, các cấp cao
hơn. Nó cũng là công cụ tính toán theo các em trong suốt cuộc đời. Chính vì lẽ
đó mà học bảng nhân, bảng chia là tiền đề giúp các em hình thành kĩ năng, kĩ
xảo trong học toán 2.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua một vài năm được trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, đồng thời qua dự
giờ đồng nghiệp, với học sinh ở trường nơi tôi đang công tác về chất lượng dạy
học môn Toán ở lớp 2. Tôi nhận thấy phần dạy học các bảng nhân, chia còn có
một số hạn chế như: Hạn chế về phương pháp dạy của giáo viên ( do GV tuổi đã
cao), phương pháp học của học sinh, sự chuẩn bị bài của học sinh, sự quan tâm

2


đến việc học của phụ huynh học sinh đối với con em họ dẫn đến chất lượng học
môn Toán chưa cao.
Trường tôi có 10 lớp. Trong đó có 2 lớp năm, 2 lớp bốn, 2 lớp ba, 2 lớp hai
và 2 lớp một. Hai lớp tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu là lớp 2A và lớp 2B.
Lớp: 2A: Tổng số học sinh: 22 em do cô G phụ trách; tuổi nghề: 26 năm;
Trình độ đào tạo: CĐSP.
Lớp: 2B: Tổng số học sinh: 21 em do cô Nh phụ trách; tuổi nghề: 29 năm;
Trình độ đào tạo: CĐSP.

13.6

6

27.3

11

50.0

2

9.1

2B: 21 HS

1

4.7

4

19.0

12

57.3

4


Nội dung dạy học các phép nhân và phép chia ở lớp 2 được cụ thể hoá bao
gồm các nội dung sau:
1. Ý nghĩa của phép nhân và phép chia
1.1: Phép nhân: Do đặc điểm tâm lí và sự phát triển tư duy của học học sinh
Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2 mà khi đưa ra về ý nghĩa của phép nhân
chúng ta đã áp dụng phương pháp “từ cụ thể đến trừu tượng rồi đến thực tiễn.”
Nên chúng ta nói rằng phép cộng các số hạng bằng nhau là phép nhân ( × ).
Chẳng hạn: khi hình thành các phép nhân các số lớn hơn 1 được hình thành cụ
thể như sau:
Lấy 3 nhóm mỗi nhóm 2 chấm tròn, gộp 3 nhóm lại được tất cả 6 chấm
tròn. Ta nói 2 chấm tròn lấy 3 lần được 6 chấm tròn hay đọc là 2 nhân 3 bằng 6;
viết 2 × 3 = 6. Tích của 2 và 3 là 6 hay 6 là tích của 2 và 3.
Sau đó giáo viên giới thiệu tiếp 2 chấm tròn lấy 1 lần được 2 chấm tròn hay 2 ×
1= 2; 2 chấm tròn lấy 0 lần được 0 chấm tròn hay 2 × 0 = 0.
Như vậy chỉ trừ hai trường hợp phép nhân với 1 và phép nhân với 0 là theo
qui ước, Phép nhân với số lớn hơn 1 được hình thành dựa vào các nhóm có cùng
số lượng phần tử tức là dựa vào phép cộng các số hạng bằng nhau. Ưu điểm của
cách hình thành phép nhân này là học sinh dễ dàng tìm ra kết quả. Ví dụ:
2×3 =

2

+

:

2

+




Việc nắm vững ý nghĩa thực tiễn của phép nhân hai số tức là giúp các em
biết giải các bài tập dạng: a × x ; x × a = b (a và b là các số bé và phần tìm x là
nhân trong phạm vi bảng tính đã học).
1.2: Phép chia:
Có nhiều cách giới thiệu phép chia. Nhưng cách giới thiệu phép chia đơn
giản nhất là dựa vào các bài toán có dạng sau:
Có 4 ô vuông chia thành 2 phần bằng nhau vừa đếm vừa đặt số ô vuông vào
từng phần 1, 2.
Mỗi phần được 2 ô vuông, đọc: 4 chia cho 2 bằng 2, viết 4 : 2 = 2
4

×

×

×

×

2

Sau khi giới thiệu phép chia phải bắt buộc hướng dẫn học sinh đi đến quan
hệ giữa phép chia và phép nhân (phép chia chính là phép tính ngược của phép
nhân), nhưng không phải phép chia bao giờ cũng thực hiện được như là phép
nhân. Chẳng hạn: a : b = c <=> b × c = a ( b khác 0).
Rõ ràng ngay từ ở lớp 2 thực tế trong dạy học Toán người ta thường lấy quan
hệ trên để định nghĩa phép chia và chúng ta cũng có thể dựa vào đó để xây dựng
một phương án giới thiệu phép chia. Ưu điểm của phương án này là có thể giúp


5


giúp các em hình thành và phát triển các kĩ năng về nhân chia (viết, nhẩm) trong
phạm vi bảng tính và ngoài bảng tính ở các lớp cao hơn.
2. Bảng nhân, bảng chia - cách lập bảng nhân, bảng chia
2.1: Bảng nhân - cách lập các bảng nhân với 2, 3, 4, 5.
Bảng nhân là bảng sau:
×
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

1
1
2
3
4
5
6
7
8

12
16
20
24
28
32
36
40

5
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50

Bảng nhân là bảng ghi lại tất cả kết quả của phép nhân hai thừa số chúng
chạy từ 1
10 trong quá trình dạy học để học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ và dễ
thuộc bảng nhân được tách ra các bảng bộ phận rất quen biết: 1 nhân với một số,
2 nhân với một số, 3 nhân với một số,..., 10 nhân với một số. Ở đây với phạm vi
của một sáng kiến đã chọn nên tôi chỉ đi sâu vào việc tìm hiểu về việc dạy học
các bảng nhân 2, 3, 4, 5.
Để học sinh dễ hiểu, biết lập và nhớ được các bảng nhân chúng ta cần chú ý
hướng dẫn học sinh đi từ trực quan (từ cụ thể) đến trừu tượng tức là từ phép

dụ: Để tính được 32 : 4 = ? ta phải dựa vào bảng nhân 4: (4 × 8 = 32), hoặc
bảng nhân 8 để tính được 32 : 4 = 8 .
Tuy vậy thuật toán chia vẫn là thuật toán khó nhất trong bốn thuật toán cộng,
trừ, nhân, chia. Vì vậy trong quá trình dạy học thuật toán chia cần phải đi chậm
hơn, nghĩa là cũng phải đi thành nhiều bước giống như đối với phép nhân:
Chẳng hạn:
Để tìm ra kết quả của phép chia 12 : 4 = ? Học sinh phải thuộc được phép
nhân có thừa số 4 hoặc phép nhân có thừa số 3, nắm được các thao tác chia:
12 : 4 = 3 vì 3 × 4 = 12 hoặc 4 × 3 = 12.
Chính vì vậy khi dạy phần bảng chia, giáo viên cần giúp học sinh nắm được
những điểm chính quan trọng sau đây:
- Biết dựa vào bảng nhân để lập bảng chia.
- Hiểu được tích tìm được của mỗi bảng nhân chính là các số bị chia trong bảng
chia đó.
- Hiểu được phép chia là phép tính ngược của phép nhân, mối liên hệ giữa phép
nhân và phép chia.
- Sau tiết dạy về bảng chia 2 giúp học sinh hiểu được quy luật lập bảng chia và
biết dựa vào quy luật đó để lập các bảng chia còn lại: Ở bảng chia cho “n” thì số
bị chia ở dòng dưới nhiều hơn số bị chia ở dòng trên liền nó “n đơn vị”, thương
tìm được ở dòng dưới nhiều hơn thương tìm đựơc ở dòng trên liền nó 1 đơn vị.
Tuy nhiên ở phần này khi dạy về số 0 trong phép nhân và phép chia giáo
viên cũng cần giúp học sinh hiểu được: 0 chia cho số nào khác 0 cũng bằng 0.
Nhưng không có phép chia cho 0.
Trong phần dạy học về các phép chia có lồng ghép xen kẽ dạy về các phần
bằng nhau của đơn vị: một phần hai; một phần ba; một phần tư; một phần năm
dựa vào hình ảnh trực quan. Ở dạng bài tập này nhằm mục đích giúp học sinh

7



chẳng hạn: Giáo viên hỏi: Vì sao em lập được phép tính: 3 × 4 = 12 hầu như chỉ
có vài em tiếp thu nhanh trả lời đúng, số còn lại trong lớp các em chưa biết giải
thích như thế nào mà chỉ biết công nhận. Chính vì vậy mà khi làm tính nhẩm
cũng như việc vận dụng các phép nhân vào giải toán hoặc gặp một phép tính
phức tạp ở mỗi bảng nhân các em phải nhẩm lại từ các phép tính đầu tiên trong
bảng nhân để lần lượt tìm ra kết quả của phép tính nhân cần tìm, chẳng hạn hỏi:
4 × 5 = ? Học sinh phải nhẩm lại từ phép tính 4 × 1 = 4, 4 × 2 = 8 .... 4 × 5 = 20.

8


Nguyên nhân này qua tìm hiểu tôi được biết một phần là do các em nhưng
cơ bản nhất là do phương pháp dạy của giáo viên và sự quan tâm đến việc học
tập của các bậc phụ huynh. Tìm hiểu về kế hoạch bài học của giáo viên tôi thấy
có một số điều bất cập sau:
1.1. Về đồ dùng dạy học: Ở tất cả các tiết dạy giáo viên cũng chỉ chuẩn bị có 6
tấm bìa mỗi tấm bìa có số chấm tròn tương ứng với tiết dạy về phép nhân đó,
chẳng hạn dạy về bảng nhân 2 thì 6 tấm bìa chuẩn bị của giáo viên mỗi tấm bìa
có 2 chấm tròn, dạy về phép nhân 3 mỗi tấm bìa có 3 chấm tròn .....
Như chúng ta đã biết đối với học sinh bậc Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2
việc dạy học môn Toán để các em hiểu được bài và nắm vững hệ thống kiến
thức mới. Đồng thời phát huy được tính tích cực tự giác cho các em nó đòi hỏi
người giáo viên phải linh hoạt trong việc vận dụng và sử dụng các phương pháp
trong quá trình dạy học, đặc biệt là việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học nhất là trong các tiết dạy hình thành hệ thống kiến thức mới (các bảng nhân
với 2, 3, 4, 5). Chính vì vậy trong tất cả các tiết dạy về phép nhân đòi hỏi giáo
viên cũng như học sinh cần có bộ đồ dụng dạy học Toán (có các tấm bìa như
hình vẽ SGK).
1.2. Về các bước tiến hành trên lớp: Ở tất cả các tiết dạy giáo viên cũng đã tiến
hành đi theo một tuần tự sau:

Như chúng ta đã biết que tính là một loại đồ dùng học tập chúng được sử
dụng rất nhiều vào việc dạy học các phép tính cộng, trừ ở lớp 2, nó là một loại
đồ dùng dễ tìm kiếm và rẻ tiền, rất sẵn có ở vùng nông thôn Việt Nam đó là tre,
nứa. Do 100% số học sinh trong lớp thiếu bộ đồ dùng học Toán (các tấm bìa).
Vì thế giáo viên khi dạy nhất là những giáo viên trực tiếp dạy Toán ở lớp 2 nên
linh hoạt hướng dẫn và giúp học sinh biết sử dụng que tính để hình thành các
phép tính ở mỗi bảng nhân cũng như ở các bảng chia.. Chẳng hạn khi dạy bảng
nhân 2 các em chỉ cần khoảng 20 que tính, bó thành 10 bó mỗi bó có 2 que tính.
Dạy bảng nhân 3 cần 30 que tính, bó thành 10 bó mỗi bó có 3 que tính..... Học
sinh sử dụng các bó que tính đó để thực hành lập các bảng nhân ở lớp cũng như
việc chuẩn bị bài ở nhà trước khi học bài mới.
1.3: Để hiệu quả dạy học các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 đạt kết quả cao hơn khi
dạy tôi đã tiến hành chú trọng những điểm cơ bản sau:
* Về đồ dùng dạy học: Giáo viên và học sinh cả lớp chuẩn bị đủ 50 que tính và
10 dây buộc để học trong phần phép nhân và phép chia. Nhắc học sinh khi học
đến bảng nhân nào thì các em cũng chia đều và bó thành 10 bó, số lượng que
tính ở mỗi bó tương ứng theo tên gọi của bảng nhân đó, chẳng hạn học bảng
nhân 2 các em thành 10 bó, mỗi bó 2 que tính,.... bảng nhân 5 bó thành 10 bó
mỗi bó có 5 que tính.
Sau các tiết học chuẩn bị cho các tiết học về lập các bảng nhân với 2, 3, 4, 5
tôi không quên nhắc các em về xem trước bài và tự thực hành các thao tác lập
các phép tính trong mỗi bảng nhân như sách giáo khoa và không quên nhắc các
em chú ý: Trong sách giáo khoa là các tấm bìa nhưng ở đây cô cho phép các em
thay thế các tấm bìa bằng các bó que tính và các em không nhất thiết chỉ lập 3
phép tính đầu trong mỗi bảng nhân như sách giáo khoa đã hướng dẫn mà các
em có thể tuỳ từng bảng nhân và tuỳ vào mức độ hiểu bài của mình mà tự thực
hành thao tác và lập hoàn thiện bảng nhân bài các em chuẩn bị học ngày mai.
* Các bước tiến hành trên lớp:

10

chất giao hoán của phép nhân (đổi chỗ các thừa số trong phép nhân nhưng tích
vẫn không đổi), để từ bảng nhân này học sinh có thể không cần đồ dùng trực
quan mà dễ dàng lập được một số phép tính của các bảng nhân khác, chẳng hạn
từ:
3 × 4 = 12

4 × 3 = 12

3 × 5 = 15

5 × 3 = 15

+ Về phần thực hành làm bài tập ở bài tập 1 (tính nhẩm) ở tất cả các tiết nội
dung bài tập sắp xếp không theo trật tự của mỗi bảng nhân. Chính vì vậy để
củng cố và khắc sâu được bảng nhân vừa học tôi đã cho các em thi đua nhẩm và
nêu miệng nhanh kết quả của từng phép tính sau đó có biểu dương khen ngợi

11


những học sinh nhẩm nhanh và nêu được nhiều phép tính đúng. Động viên
những em làm còn sai.
Ở bài tập 3 của các tiết học về các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 ngoài yêu cầu
trong sách giáo khoa là đếm thêm 2 từ 2 đến 20, đếm thêm 3 từ 3 đến 30, đếm
thêm 4 từ 4 đến 40, đếm thêm 5 từ 5 đến 50. Để học sinh học tốt các bảng chia
sau này tôi đã giúp các em biết đếm bớt trong mỗi bảng nhân và không quên
giúp các em biết ở bài tập 3 này dãy số các em vừa đếm hoàn thiện chính là tích
của bảng nhân các em vừa học.
Chẳng hạn bài 3 tiết 94 - bảng nhân 2: Đếm thêm 2 rồi viết số thích hợp vào
ô trống:

+ Phải giúp học sinh hiểu được tính chất giao hoán của phép nhân: đổi chỗ các
thừa số trong phép nhân nhưng tích không đổi.
2.2: Bảng chia - cách lập bảng chia cho 2, 3, 4,5

12


Ở phần này cũng như ở phần dạy cách lập các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 để
nắm rõ nguyên nhân và tìm ra biện pháp giải quyết có hiệu quả tôi đã tiến hành
dự giờ cả 2 lớp trong khối: Tiết108: bảng chia 2; Tiết 112: bảng chia 3; Tiết 117:
bảng chia 4; Tiết 120: bảng chia 5.
Sau khi dự giờ và trao đổi qua giáo viên tôi được biết ở phần dạy học các
bảng chia cho 2, 3, 4, 5 phần đa học sinh tiếp thu nhanh và học sinh diện đại trà
trong cả 2 lớp các em thuộc được các bảng chia, số học sinh còn lại các em chỉ
thuộc được 3, 4 phép chia trong mỗi bảng. Tuy thuộc được hầu hết các bảng chia
nhưng khi vận dụng vào làm tính hoặc giải toán các em còn lúng túng và có em
còn sai kết quả, thậm chí có em muốn biết được kết quả của phép chia cần tìm
các em phải nhẩm lại từ đầu bảng chia đó, chẳng hạn khi tìm kết quả của phép
chia: 28 : 4 = ? các em phải nhẩm lại từ đầu bảng chia 4 (4 : 4 = 1; 8 : 4 = 2; .....
28 : 4 = 7).
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên qua việc dự giờ trên lớp và qua trao đổi
với giáo viên và học sinh tôi được biết: nguyên nhân này một phần là do sức học
của học sinh, một phần do sự quan tâm của phụ huynh đối với việc học bài của
các em. Nhưng nguyên nhân cơ bảng nhất vẫn là phương pháp dạy của giáo
viên. Tìm hiểu về kế hoạch bài học tôi được biết:
2.2.1: Về đồ dùng dạy - học: Cũng như khi dạy về bảng nhân đồ dùng dạy học
của học sinh thiếu quá nhiều còn của giáo viên quá sơ sài thậm chí không có mà
chỉ dựa vào hình vẽ sách giáo khoa để dạy.
2.2.2: Về các bước lên lớp: Giáo viên cũng đã tiến hành dạy theo đúng trình tự
của một tiết dạy dạng bài hình thành kiến thức mới, giáo viên cũng đã nắm được

chủ động tìm và phát hiện ra kiến thức mới (các phép tính chia trong mỗi bảng
chia). Trong các tiết học hầu như chỉ học sinh tiếp thu nhanh được làm việc
nhiều, số học sinh còn lại trong lớp lĩnh hội các kiến thức mới còn mang tính
chất thụ động.
Nguyên nhân thứ 2: Cũng như khi dạy về các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 sự
chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên còn nhiều hạn chế, đồ dùng học tập của
học sinh thiếu quá nhiều dẫn đến việc học sinh chưa được làm việc nhiều, chưa
chủ động tìm và phát hiện ra các kiến thức mới, việc việc lĩnh hội hệ thống kiến
thức mới của các em còn quá lệ thuộc vào người thầy. Trong các tiết dạy giáo
viên còn lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên, chưa có nhiều đổi
mới phương pháp trong dạy học.
2.2.3: Để hiệu quả dạy học các bảng chia cho 2, 3, 4, 5 đạt kết quả cao hơn khi
dạy tôi đã tiến hành chú trọng những điểm cơ bản sau:
+ Về đồ dùng dạy học: Cũng như khi học về các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 giáo
viên và học sinh cả lớp chuẩn bị đủ 50 que tính và 10 dây buộc để học. Nhắc
học sinh khi học đến bảng chia nào thì các em cũng chia đều và bó thành 10 bó,
số lượng que tính ở mỗi bó tương ứng theo tên gọi của bảng chia đó, chẳng hạn
học bảng chia 2 các em thành 10 bó, mỗi bó 2 que tính,.... bảng chia 5 bó thành
10 bó mỗi bó có 5 que tính.
+ Các bước tiến hành trên lớp:
Thuật toán chia là thuật toán khó nhất trong 4 thuật toán cộng, trừ, nhân, chia.
Chính vì vậy mà khi giúp học sinh lập các bảng chia cho 2, 3, 4, 5 tôi đã dẫn dắt
giúp các em tiến hành theo từng bước cụ thể sau:

14


Bước 1: Giới thiệu phép chia: + Cho HS ôn về phép nhân
+ Hình thành phép chia
+ Cho học sinh nhận xét

+ Đồ dùng dạy học cho mỗi tiết dạy lập các bảng chia phải đầy đủ, đảm bảo tính
khoa học.
+ Chú trọng phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài trước khi học bài mới.

15


+ Phải giúp học sinh hiểu được phép chia là phép tính ngược của phép nhân để
từ đó các em biết dựa vào bảng nhân để lập bảng chia
+ Chỉ cần giúp học sinh biết cách lập vài dòng của mỗi bảng chia rồi dẫn dắt
giúp các em biết dựa vào quy luật lập bảng chia để lập hoàn thiện mỗi bảng chia:
ở bảng chia cho “n” thì số bị chia ở dòng dưới nhiều hơn số bị chia ở dòng trên
liền nó “n đơn vị”. Thương tìm được ở dòng dưới nhiều hơn thương tìm được ở
dòng trên liền nó 1 đơn vị.
+ Khi thực hành lập các bảng chia học sinh luôn là người chủ động phát hiện và
tìm tòi, lĩnh hội các kiến thức mới còn giáo viên chỉ là người dẫn dắt, giúp đỡ
học sinh
Giải pháp 3: Lập kế hoạch dạy học cho một tiết dạy bảng nhân 3 theo
phương pháp mới.
Toán
BẢNG NHÂN 3
I. MỤC TIÊU. Giúp HS:

- Lập được bảng nhân 3.
- Nhớ được bảng nhân 3.
- Biết giải bài toán có một phép nhân (thuộc bảng nhân 3).
- Biết đếm thêm 3.
II. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC. + GV : 10 tấm bìa, mỗi tấm có 3 chấm tròn.
+ HS : Vở toán.
III. HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC.

- 3 chấm tròn được lấy 2 lần.
- 3 được lấy 2 lần.

16


- Hãy lập phép tính tương ứng với 3
được lấy mấy lần?
- 3 nhân 2 bằng mấy?
- GV ghi bảng: 3 x 2 = 6.
- Tương tự các phép nhân còn lại.
- Chỉ và nói: Đây là bảng nhân 3. Các
phép nhân trong bảng đều có 1 thừa
số là 3, thừa số còn lại lần lượt là: các
số 1, 2, , .. 10.
- Yêu cầu HS đọc bảng nhân 3.
- Xoá dần bảng cho HS đọc thuộc
lòng.
- Tổ chức cho HS thi đọc thuộc lòng.
* HĐ2. Luyện tập - thực hành
- Yêu cầu HS làm bài 1, bài 2, bài 3.
Nếu còn thời gian các em làm tiếp các
bài còn lại.
Bài 1. Tính nhẩm
Gọi HS nêu yêu cầu.
- Yêu cầu HS tự làm bài, sau đó 2 HS
ngồi cạnh nhau đổi chéo vở để kiểm
tra bài lẫn nhau.
Bài 2. Giải toán
- Gọi HS đọc đề bài.

- Làm bài và kiểm tra bài làm của bạn.
3x3=9
3x 5 = 15
3 x 9 = 27
- Nhận xét
- HS đọc đề.
- 3 HS.
- 10 nhóm.
- Phép nhân: 3 x 10
Giải
10 nhóm có số HS là:
3 x 10 = 30 ( học sinh)
Đáp số: 30 học sinh
- HS nêu: Đếm thêm 3 rồi viết số thích
hợp vào ô trống.
- Là số 3.
- Là số 6
- 3 cộng thêm 3 bằng 6

- Yêu cầu HS làm vào vở.

17


- Yêu cầu HS đọc xuôi đọc ngược dãy 3 ; 6 ; 9 ; 12 ; 15 ; 18 ; 21 ; 24 ;
số.
27 ; 30.
C. Củng cố - dặn dò.
- Nhận xét
- Nhận xét tiết học.


TL%

SL

TL%

2A: 22 HS

6

27.3

11

50.0

5

22.7

2B: 21 HS

4

19.0

10

47.7

- Giáo viên cần phải linh hoạt trong lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối
tượng học sinh.
- Thường xuyên ra các đề kiểm tra khảo sát nhanh để nhận được thông tin phản hồi từ
học sinh để điều chỉnh cách dạy cho phù hợp.
b. Kiến nghị.
* Đối với nhà trường:
- Lên kế hoạch cụ thể và kiểm tra đôn đốc việc thảo luận về nội dung, PPDH
từng dạng bài cụ thể tránh hình thức.
- BGH tăng cường dự giờ thăm lớp để kiểm tra việc dạy học thực tế trên lớp của
GV- HS để có biện pháp uốn nắn kịp thời.
* Đối với các cấp giáo dục:
- Cung cấp đầy đủ thiết bị dạy học cho các trường Tiểu học.
- Tổ chức hội thảo về đề tài nghiên cứu khoa học, công bố các đề tài đạt giải cao
cấp Tỉnh cho đông đảo các GV được áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm hay
vào thực tế giảng dạy.
Trên đây là một số kinh nghiệm đã triển khai và thực hiện có hiệu quả ỏ
trường Tiểu học nơi tôi công tác. Do năng lực bản thân và thời gian có hạn, đề
tài này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong được sự góp ý
của các đồng chí chỉ đạo chuyên môn, các cấp quản lí giáo dục để đề tài ngày
càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng

Họ tên, chữ ký tác giả

19




d. Phương pháp nghiên cứu

Trang 2

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 2

2.1. Cơ sở của sáng kiến kinh nghiệm

Trang 2

2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Trang 2
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Trang 3

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, Trang 18
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Trang 19

a. Kết luận

Trang 19

b. Kiến nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status