1
SÁNG KIẾN
Một số kinh nghiệm nâng
cao chất lượng dạy Chính tả ở lớp
5
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Chúng ta đều biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể được hình
thành thông qua hoạt động giao tiếp”. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao
tiếp được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong
cuộc sống hàng ngày của chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn
ngữ viết. Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và
trong tiếng nói của các quốc gia nói chung. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của
ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết
cần phải tuân theo hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của
một ngôn ngữ. Hay nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ
viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó là phương tiện
thuận tiện cho việc giao tiếp bằng chữ viết bảo bảo cho người viết và người đọc
2
đều hiểu thống nhất những điều đã viết. Chính tả có thống nhất thì việc giao
tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước,
cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời sau
Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay đối với
học sinh các lớp của trường Tiểu học. Việc dạy chính tả được hiểu như rèn
luyện việc thực hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết. ở các lớp Tiểu học,
chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người
Xuất phát từ những quan điểm trên, bản thân lại là một giáo viên
dạy học ở vùng có nhiều đối tượng học sinh có vấn đề về chính tả , tôi mạnh
dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy
Chính tả ở lớp 5” để góp phần nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Chính
tả.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
A. Cơ sở về ngữ âm học.
a. Mối quan hệ giữa âm chữ và nghĩa.
- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ
yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện
bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định. Do đó
việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng. Để phát
huy một cách có ý thức. đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả
4
phải theo sát nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm
để điều chỉnh chữ viết
b. Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ.
Ở Tiếng Việt, nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học, ngoài
ra chính tả Tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên
tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt Những nguyên tắc này không
đồng nhất với ngữ âm học, do vậy chính tả Tiếng Việt vẫn còn những bất hợp
lý. Chính tả chữ viết (quốc ngữ) vừa đơn giản lại vừa phức tạp. Đơn giản vì chữ
quốc ngữ là chữ viết ghi âm ở dạng ổn định văn bản hợp lý, phát âm thế nào thì
viết thế ấy. Nhưng phức tạp ở chỗ: trong Tiếng Việt có hiện tượng cách phát
âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong khi đó hệ thống ghi âm
tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách chính thức. Do đó
khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được. Hơn nữa trong Tiếng Việt hiện
/k/
Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng
đặc biệt. Nó vừa sử dụng độc lập làm đại diện cho phụ âm /h/ thể hiện bằng con
chữ “h”, vừa được sử dụng theo cách ghép với các con chữ khác làm đại diện
cho 7 âm nữa đó là: ch, gh. kh, nh, ngh, ph, th. Do vậy khi sử dụng cần chú ý
không nên lầm tưởng là trong Tiếng Việt có phụ âm kép. Dù “h” đứng một
mình hay “h” đứng sau các chữ khác (c, g, k, n, ng, p, t) thì ch, gh, kh, nh, ngh,
ph, th đều có giá trị như nhau. Mỗi hình thức trong 7 hình thức đó đều chỉ thay
thế cho 1 âm mà thôi. Do vậy có quan niệm g đơn, g kép, ng đơn, ng kép là bất
hợp lý. Cách nhận biết tốt nhất về “ng” và “ngh” là dựa vào khả năng kết hợp
chung với nguyên âm.
Trước những bất hợp lý trên, việc xác định những trọng điểm
chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng những
biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải nghĩa để sử dụng dựa vào các văn
cảnh cụ thể để ghi nhớ cho học sinh cách phân biệt chính tả.
Do vậy hai nhiệm vụ chủ yếu của việc đề cao nguyên tắc dạy học
chính tả có ý thức là: giải quyết những vấn đề tồn tại của chữ quốc ngữ. Tôn
c (con cuốc)
k (cái kim)
q (tổ quốc)
6
trọng nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực, phải chú ý cách phát âm của địa
phương.
B. Cơ sở thực tế.
Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nhận thức hiện thực khách quan mang
đậm màu sắc cảm tính. Các giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng sai trên tôi thấy chủ yếu là
do học sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa âm l – n nên
không phân biệt được khi viết. Để sửa lỗi này giáo viên trường Hoà Sơn A đã
cố gắng dạy cho học sinh nắm vững âm chính trong Tiếng Việt. Muốn viết
đúng chính tả thì phải phát âm đúng vì chính âm đi trước chính tả. Do vậy ta
phải chú trọng việc phát âm chuẩn cho học sinh trong các giờ tập đọc. Mặt khác
mỗi giáo viên phải là một chuẩn mực sống động để học sinh bắt trước và noi
theo. Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp dạy học và áp dụng qui trình soạn
giáo án theo hướng đổi mới, giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật chính tả cũng
hết sức cần thiết để giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong phạm vi nghiên cứu
đề tài, tôi xin được thống kê số liệu học sinh mắc lỗi chính tả ở khối 5 thu được
đầu năm như sau.
Các lỗi chính tả thường mắc Lớp
Tổng
số
học
sinh
l - n; ~/./
d/gi/r; tr/ch;
s/x; g/gh
Cấu trúc
âm tiết
8
5A 30 11 em 5 em 4 em
5B 28 8 em 6 em 4 em
ngữ.
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Qua kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn tôi nhận thấy rằng trọng
điểm chính tả mà học sinh Hoà Sơn mắc phải chính là do lỗi phát âm địa
phương không phân biệt được giữa l với n, dấu thanh ~/./ Trước thực tế như
vậy, bản thân người giáo viên phải hết sức cố gắng nỗ lực nhiều mặt như: tâm
lý học lý luận dạy học, các kiến thức về ngữ âm, về văn học làm sao phải để
học sinh “tâm phục khẩu phục”. Có như vậy chất lượng giáo dục chính tả vùng
phương ngữ mới thu được kết quả như mong muốn.
Muốn làm được đìêu đó, trước hết người giáo viên phải đặt phân
môn chính tả nắm trong mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt,
đặc biệt là phân môn tập đọc và từ ngữ. Học sinh muốn viết đúng được thì phải
hiểu được nghĩa và phát âm đúng từ đó. Nếu học sinh phát âm sai, tuỳ tiện sẽ
dẫn đến hiểu sai và viết sai hoặc do thói quen lâu ngày không được sửa chữa.
Trong các giờ tập đọc, chúng ta dành nhiều thời gian hơn cho việc sửa lỗi phát
âm cho học sinh, đặc biệt là hai âm l và n, dấu ~ /./. Giáo viên phát âm mẫu cho
học sinh học tập và hướng dẫn cách phát âm tỉ mỉ. Đặc biệt giáo viên không
bao giờ được phạm sai lầm về lỗi phất âm này. Nếu không việc sửa lỗi của giáo
viên sẽ mất tác dụng.
10
Ngoài ra giáo viên hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ
sở hiểu đúng nghĩa của từ. Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó
trong mối quan hệ với cụm từ và các văn bản. Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản
có thể học sinh sẽ không hiểu được nghĩa và do đó dẫn đến việc viết sai chính
tả.
VD: Khi đọc tiếng “cuốc” nếu không đặt nó trong mối quan hệ,
cụm từ, câu thì rất khó xác định nghĩa để viết đúng. Nhưng nếu đặt nó trong
câu: “Mẹ em vác cuốc ra đồng” hoặc trong từ “Tổ quốc” thì học sinh dễ dàng
viết đúng.
“l” láy với “b”: lệt bệt, lùng bùng, lõm bõm
“l” láy với “d”: líu díu, lò dò
“l” láy với “h”: lúi húi, lay hoay
“l” láy với “n”: lơ mơ, liên miên
- Mẹo 2: Khả năng kết hợp âm: Âm /l/ đứng trước âm đệm nhưng
/n/ không đứng trước âm đệm. Do đó /n/ không bao giờ đứng trước một vần bắt
đầu: oa, uê, uy trái lại /l/ lại đứng trước các vần đó như: loa, luân
- Mẹo 3: mẹo luật láy âm, điệp âm.
12
/l/ láy âm rất rộng rãi, trái lại /n/ không láy âm với một âm nào mà
chỉ điệp âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng /l/ láy âm với /n/.
Từ đó suy ra quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì
nhất định là một điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/.
Vì vậy ta chỉ cần biết một chữ là đủ.
VD: Lấp loáng, long lanh, lanh lảnh
No nê, ninh ních, nõn nà
- Mẹo 4: Đối với trường hợp “l” và “n” đứng ở chữ thứ 2. Trong từ
láy thì”n” khi láy âm chỉ láy với “gi” và không láy với âm nào khác. Trái lại “l”
lại không láy với “gi” mà láy với các âm khác .
(Ngoại lệ có: khúm núm, khệ nệ)
kh – l : khéo léo, khoác lác
ch – l : cheo leo
/n/ láy với những âm tiết không có âm đầu như: ảo não, áy náy
- Mẹo 5: Những chữ không biết được “l” hay “n” nhưng đồng
nghĩa với một từ khác viết với “nh” thì chữ ấy là “l”.
VD: lăm le (nhăm nhe)
lỡ làng (nhỡ nhàng)
Trên đây là một số mẹo luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong
khi viết chính tả mà mỗi giáo viên thuộc phươngdiện phương ngữ Bắc bộ nói
- Bước “chấm và chữa bài” nên đặt ở cuối cùng trong tiết học vì
việc đánh giá kết quả học sinh phải đặt sau quá trình luyện tập.
Để tiết dạy chính tả đạt kết quả cao, gây hứng thú trong học tập
cho học sinh, giáo viên có thể tổ chức hoạt động học dưới hình thức trò chơi
như tìm nhanh các cặp từ so sánh đối lập, tìm những bài hát ở Tiểu học có phụ
âm đầu là n/l.
Mục đích cuối cùng của bài chính tả là phải ghi nhớ các trường
hợp viết đúng một cách có ý thức mà trong đó thực chất của loại bài so sánh là:
giúp học sinh nắm vững nội dung ngữ, nghĩa của từ gắn với chữ viết. Giáo viên
so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn cho các em. Mặt khác giáo
viên cần năng động, sáng tạo trong giảng dạy. Soạn ra những bài luyện tập phù
hợp với các em ở địa phương mình. Cho học sinh đặt câu với những từ dễ mắc
lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai
chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại
cho đúng.
Qua việc tìm hiểu nguyên nhân là: tìm được những trọng điểm
chính tả cần dạy cho học sinh trên xã Hoà Sơn. Qua một thời gian thực hiện,
kết quả thu được như sau:
Các lỗi chính tả thường mắc Số
TT
Lớp
T.số
học sinh
l/n;
~/./
tr/ch;
s/x; gh/g
cấu trúc
âm tiết
Cần có hướng dẫn cụ thể giúp các cấp cán bộ quản lý, giúp giáo
viên có nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về đổi mới phương pháp dạy học.
Cần biên soạn những tài liệu hướng dẫn về đổi mới phương
pháp dạy học phù hợp, cụ thể với từng phân môn theo từng khối lớp.
17
Giáo viên sau khi học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp
vụ (ở các lớp học cao đẳng, đại học ) cần có chế độ chính sách rõ ràng, tạo
điều kiện cho họ yên tâm công tác) thúc đẩy ý thức tự học ở mỗi người.
- Đối với giáo viên Tiểu học:
Phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm
bắt rõ năng lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả.
Tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
- Đối với học sinh.
Các em học sinh phải thực hiện tốt bốn nhiệm vụ của học sinh,
tích cực học tập và rèn luyện.
- Đối với nhà trường:
Cần có kế hoạch từng bước xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học theo danh mục thiết bị chuẩn của Bộ Giáo dục.
Cần phải lựa chọn xem cần trang bị cái gì trước, cái gì sau sao
cho phù hợp với điều kiện của trường mình.