Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
I/ Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học vì giai đoạn
tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho
học sinh. Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng
trong khi bậc trung học cơ sở không có.
Phân môn chính tả ở chương trình tiểu học có hai kiểu bài là chính tả
đoạn bài và chính tả âm vần. Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng
chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả. Thời gian dành cho bài tập
chính tả âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kĩ năng qua
bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh. Qua các bài tập chính tả âm, vần
các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm,
vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học.
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó
việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng. Tuy
nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác. Mặc dù những quy
tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc “viết
đúng chính tả” cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi nói riêng còn
nhiều khó khăn, tồn tại mà mỗi giáo viên và học sinh cần phải nỗ lực để khắc
phục tồn tại trên.
Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải
thông qua năng lực viết đúng chính tả của các em. Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần
phải nhiệt tình trong công tác giảng dạy, rèn cho học sinh viết đúng chính tả
ngay từ đầu, dần dần các em ham thích trong mỗi giờ học chính tả như các môn
học khác.
Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành, bởi vì chỉ có thể
hình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập.
Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu nói
riêng của phân môn Chính tả lớp Ba. Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thông
chúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinh một
lớp 3 là một vấn đề được rất nhiều các đồng chí giáo viên dạy lớp 3 quan tâm và
nghiên cứu. Đã có rất nhiều các biện pháp được đưa ra như:
+ Yêu cầu học sinh rèn viết bài nhiều ở nhà.
Nguyễn Thị Miền
2
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh cách viết chuẩn, cách viết đẹp, cách viết
đúng chính tả.
+ Phân công những em viết tốt giúp những em viết chưa tốt
Song tất cả những biện pháp đó không phải lúc nào áp dụng cũng phát huy
được tính hiệu quả. Theo tôi, tùy theo thực tế của từng lớp, chất lượng chữ viết
của từng học sinh để giáo viên có thể thêm, bớt, vận dụng một cách linh hoạt các
biện pháp mà các đồng nghiệp đi trước đã sử dụng. Bản thân mỗi giáo viên bao
giờ cũng có cách làm riêng của mình, phù hợp với thực tế của lớp mình đang
dạy.
Thực tế ở lớp 3A của tôi chủ nhiệm vẫn còn nhiều học sinh viết sai lỗi
chính tả, viết chữ chưa đúng độ cao, độ rộng, viết hoa tuỳ tiện.
Tính mới của đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh biết phân biệt về
âm, vần, dấu thanh qua các bài thực hành luyện tập để học tốt phân môn chính
tả, cải thiện chất lượng học tập môn Tiếng Việt góp phần nâng cao chất lượng
học tập cho các em, tạo niềm tin cho các em vững bước lên những lớp trên.
Nguyễn Thị Miền
3
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
II. Phần nội dung:
1. Chương 1: Tổng quan
1.1 Cơ sở lí luận
Để nghiên cứu được đề tài này giáo viên cần hiểu được thuật ngữ sau:
Biện pháp: Là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Theo định
quá trình giao tiếp trong học tập.
Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn. Phân
môn chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói
quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt. Cùng với các phân môn khác,
chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để
học tập, trau dồi kiến thức và nhân cách làm người. Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học
trẻ cần phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử
dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng
như trong suốt cả cuộc đời.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Là trường thuộc vùng sâu vùng xa nên nhiều phụ huynh học sinh còn
thiếu hiểu biết về sự nghiệp giáo dục mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang
thực hiện nên dẫn đến tình trạng cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm nhắc
nhở con em mình học ở nhà.
Mặt khác 100% học sinh trên địa bàn xã Đại Dực là con em dân tộc, do
đặc điểm của phương ngữ các em học sinh phát thường phát âm sai lẫn lộn giữa
phụ âm đầu (s/x, r/d/gi), thanh sắc/ thanh ngã/ thanh hỏi, dẫn đến các em viết sai.
Ngoài ra các em còn mắc nhiều lỗi chính tả vì chưa biết phân biệt hoặc
phân biệt lẫn lộn giữa các phụ âm đầu, âm cuối, vần, viết hoa còn tùy tiện nên
đành hạ bút ứng phó theo đối sách “ Đọc sao viết vậy ” một cách từng in đậm
trong kí ức học sinh.
Bên cạnh đó ở lứa tuổi của các em, ý thức tự giác học chưa cao, khả
năng ghi nhớ chưa sâu. Vì thế qua giờ chính tả tôi nhận thấy những học sinh đọc
yếu thường đi kèm với viết sai. Tôi chấm bài thấy các em không phân biệt được
nghĩa của từ nên dẫn đến viết sai chính tả.
Nguyễn Thị Miền
5
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Thực tế cho thấy việc dạy – học tập đọc trên cả hai đối tượng giáo viên
và học sinh nói chung hiệu quả chưa cao, nhất là kĩ năng viết đúng chính tả, viết
đầu năm
Học lực phân môn chính tả đầu năm
8
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
0 0 % 1 12,5%
%
4 50% 3 37,5%
Bên cạnh đấy tôi có so sánh với lớp đối chứng ( lớp 3C ) như sau:
Tổng số HS
đầu năm
Học lực phân môn chính tả đầu năm
6
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
1 16,66% 1 16,66%
%
3 50% 1 16,66%
Cụ thể qua bài chính tả khảo sát đầu năm của học sinh lớp tôi, tôi thấy
học sinh còn mắc rất nhiều lỗi (có 2 em mắc đến 14 lỗi).
Nguyễn Thị Miền
7
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Số lỗi học sinh sai qua bài:
0 - 1 lỗi: 0 ( em)
2 - 3 lỗi: 1 (em)
4 - 5 lỗi: 3 (em)
6 - 10 lỗi: 2 (em)
11 - 14 lỗi: 2 (em)
Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới
+ ng/ ngh: ngỉ nghơi.
+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc
+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ.
+ d/ gi: dữ gìn, da vị .
Qua thực tế giảng dạy trong một số năm tôi nhận thấy lỗi về phụ âm đầu
s/x ; g/gh; ng/ngh; r/d/gi là phổ biến hơn cả.
2.1.2.3.Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau
đây:
+ ai/ay/ây: máy bai (máy bay).
+ ao/au/âu: lao bàn ghế (lau bàn ghế).
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
+ ươi/ươu: mươi trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
2.1.2.4.Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các (đất cát).
+ an/ang: cái bàng (cái bàn).
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo).
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng).
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu).
+ ân/âng: vân lời (vâng lời).
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật).
Nguyễn Thị Miền
9
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha).
+ in/inh: nhình ( nhìn)
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
2.2. Các giải pháp:
2.2.1. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức:
Qua kinh nghiêm một số năm giảng dạy, tôi thấy rõ: đặc điểm của học
sinh tiểu học là hay bắt chước giọng đọc của cô các em nhất mực đọc theo cô,
bởi các em nghĩ: cô giáo là người rất giỏi, cái gì cô cũng biết, lúc nào cô cũng
nói đúng, vì vậy cô đã nói, đã viết là chuẩn. Nhưng thực tế lại không phải như
vậy: một số giáo viên còn bị ảnh hưởng nhiều của tiếng địa phương, còn hay
ngọng dấu thanh ~ \ /
Nếu giáo viên không để ý rèn luyện bản thân mình thường xuyên thì khi
đọc trong tiết tập đọc sẽ không chuẩn, mà như vậy thì sẽ dẫn đến học sinh đọc
sai rồi viết cũng sai.
Việc viết mẫu của cô giáo cũng chính là hình mẫu về kĩ năng viết mà học
sinh cần đạt được. Vì vậy muốn viết mẫu thật chuẩn để học sinh có thể học được
cách viết của cô giáo thì người giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài đọc, luyện viết
chữ thật chuẩn, gây hứng thú, lôi cuốn các em. Nếu giáo viên viết mẫu tốt thì học
sinh sẽ háo hức, thích thú học các giờ chính tả. Đó cũng là tiền đề để khuyến
khích học sinh viết chuẩn chính tả, viết đẹp hơn.
Để việc dạy học chính tả đạt hiệu quả ngay từ khi các em mới bắt đầu
làm quen với Tiếng Việt, giáo viên cần hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các qui
tắc chính tả, qui tắc kết hợp từ, qui tắc ghi âm chữ quốc ngữ và cung cấp cho các
em một số mẹo luật chính tả,…
Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tham khảo ở
sách, báo và kinh nghiệm của anh chị đồng nghiệp; tự tìm hiểu, nghiên cứu để
nâng cao trình độ tay nghề, cần phải có kiến thức về ngữ âm học, từ vựng học,
ngữ nghĩa học, tra “từ điển” các tài liệu có liên quan đến chính tả. Nắm vững
phương pháp đặc trưng của phân môn Chính tả, kết hợp linh hoạt các phương
pháp giảng dạy sao cho sát hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mình.
2.2.2. Luyện kĩ năng thực hành:
Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, giáo viên lựa chọn hình
+ Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- xét, sét.
- xào, sào.
- xinh, sinh.
Nguyễn Thị Miền
12
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Đa số học sinh còn nhầm lẫn giữa s và x. Tôi cho học sinh tìm tiếng ghép
với tiếng đã cho:
xét: xét xử, xem xét, xét đơn, xét việc, xét nhà, lục xét, khám xét, …
sét: sấm sét, tiếng sét, đất sét, rỉ sét.
xào: rau xào, xào xáo, …
sào: sào phơi áo, một sào đất, …
xinh: xinh đẹp, xinh tươi, xinh xẻo, xinh xắn, xinh xinh, …
sinh: ngày sinh, sinh sống, sinh sản, sinh dưỡng, sinh hoạt, …
Sau đó cho các em hiểu nghĩa của từng từ đã ghép được.
Ví dụ: Dạy bài: “Trên đường mòn Hồ Chí Minh” – (Tuần 20) có bài tập
sau:
+ Điền vào chỗ trống s hay x ?
- sáng… uốt
- xao… uyến
- sóng… ánh
Cho các em hiểu nghĩa của các từ và điền âm đầu cho đúng (sáng suốt,
xao
xuyến, sóng sánh).
Sau mỗi dạng bài tập trên, tôi cho học sinh luyện phát âm lại các từ có
tiếng, âm đã ghép (s/ x). Vừa rèn đọc vừa cho viết lên bảng con hoặc giấy nháp
để ghi nhớ. Có thể cho học sinh tìm thêm một số từ mới khác ngoài các từ đã học
trong giờ tự học ở nhà.
*có âm đầu l/ n:
+ Che: làm cho khuất, cho kín
+ Tre : Tre gai, tre già, tre pheo,…
+ Che: che chở, che đậy,che mắt ,che phủ
* Có âm đầu d/ r/gi:
Ví dụ: Dạy bài: Tiếng ru ( TV 3/ T1 - tuần 7 - 68)
Bài tập 2a: Tìm từ chứa tiếng bắt đầu bằng d/r/gi
- Làm chín vàng thức ăn trong dầu, mỡ sôi
+ Dán: gắn với nhau bằng một chất dính
+ Rán: để thức ăn vào chảo vào soong có mỡ mà chiên
+ Gián: loại côn trùng
Nguyễn Thị Miền
14
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
+ Gián: lấy lời phải trái mà khuyên can
+ Gián: cách biệt, do thám, cãi lại, ….
+ Gián: gián cách, gián điệp, gián thu,…
Giải pháp 2: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập có vần dễ
nhầm lẫn: eo/ oeo; ui/ uôi; iêc/ iêt.
Ví dụ: Dạy bài: “Nhớ lại buổi đầu đi học” – ( Tuần 6).
Bài tập: Điền vào chỗ trống eo hay oeo?
- nhà ngh `, đường ngoằn ng…, cười ngặt ngh…~, ng… đầu.
Cho học sinh hiểu nghĩa của các từ trên giúp học sinh điền đúng (nhà
nghèo, đường ngoằn ngoèo, cười ngặt nghẽo, ngoẹo đầu).
Giúp học sinh nhớ lại qui tắc chính tả đã được học ở lớp dưới.
ngh: được ghép với các âm nào? (e, ê, i) và không được ghép với các âm
nào? ( a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư).
Từ đó các em điền được (nhà nghèo, cười ngặt nghẽo). Nếu các em điền:
nhà ngèo, cười ngặt nghoẽo (sai qui tắc chính tả).
ng: được ghép với các âm nào? (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư) và không được ghép
với các âm nào? (e, ê, i).
+ muỗi: muỗi mòng, xông muỗi, …
+ muối: sương muối, muối tiêu, vựa muối, …
+ múi: múi giờ, múi tỏi, …
+ núi: núi non, núi cao, …
+ nuối: nuối tiếc, tiếc nuối, …
+ nuôi: nuôi con, con nuôi, …( không có tiếng nui )
+ tuổi: tuổi tác, tuổi đời, sống trăm tuổi, …
+ tủi: buồn tuỉ, tủi phận, tức tủi, …
Ví dụ: Dạy bài: “Hai Bà Trưng” ( Tuần 19 - Giáo án tiết dạy thực
nghiệm)
Bài tập: Điền vào chỗ trống iêt hay iêc?
- đi biền b…
- thấy tiêng t…
'
- xanh biêng b…
'
Cho học sinh hiểu nghĩa từ và điền đúng (đi biền biệt, thấy tiêng tiếc,
xanh biêng biếc)
- Học sinh thi đua tìm các từ ngoài bài học:
+ biệt: biệt tích, biệt tăm, biệt dạng, biệt hiệu, …
+ tiếc: tiếc nuối, tiếc thương, …
+ biếc: xanh biếc, nước biếc, …
Qua suốt quá trình dạy học chính tả ở HKI, bản thân tôi luôn cho học
sinh làm quen với cách học tìm các từ có âm, vần dễ nhầm lẫn có liên quan đến
bài viết, học sinh có thói quen tự tìm ra các từ mới để dần dần viết đúng chính tả
hơn trong các bài tập chính tả.
Nguyễn Thị Miền
16
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Giải pháp 3: Giúp học sinh viết đúng chính tả thông qua các bài tập sử
Giải pháp 4: Luyện phát âm
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện
phát âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính,
âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất
với nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở
địa phương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em
cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả.
Ví dụ: lá cây - đá cây; cái vung - cái bung, mắc lỗi - lối… Giáo viên phải
phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chính tả.
Giải pháp 5: Phân tích so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh
tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo
viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh. Với những tiếng dễ lẫn
lộn, giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – Tiếng Việt 3
- Tập 1, trang 4.
Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim”.
Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng dễ
lẫn lộn như:
+ rèn ≠ rằn. Giúp học sinh hiểu nghĩa rèn trong câu là làm cho con dao
sắc bén còn rằn là rằn ri. Nếu học sinh khó hiểu có thể cho học sinh đặt câu để
hiểu rõ hơn (Mẹ tôi rèn chiếc dao này thật bén – Cu Tuấn mặc bộ đồ rằn đỏ).
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.
Qua phần bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?
- đ .`… hoàng.
- đ .`… ông.
- s …loáng.
Học sinh tiến hành làm bài tập, sau đó giáo viên sửa bài và cho học sinh
phân tích từ:
dụm, dỗ dành).
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và
câu, Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi
Nguyễn Thị Miền
19
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo
tiếng. Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh. Giáo viên chú giải từ mới ở
phân môn Tập đọc kết hợp đặt câu. Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã
hiểu nghĩa từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật
thật, mô hình, tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó
trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ.
Giải pháp 7: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như
các âm đầu: k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă, â,
o, ô, ơ, u, ư. Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật
khác như sau:
- Phân biệt âm đầu s/x : Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói,
sư tử,…).
- Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con
vật đều bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó,
chuột, châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…).
- Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã.
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
Ví dụ: Âm trầm
tích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả. Ngoài nhiệm
vụ trên giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau để giúp học
sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để
ghi nhớ.
a. Bài tập điền vào chỗ trống: Với dạng bài tập này thường giúp học sinh
điền đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:
Ví dụ: Bài tập 2 a) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr. 22
Điền vào chỗ trống tr hay ch ?
Nguyễn Thị Miền
21
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ
Bài tập 3a) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr.48
Điền vào chỗ trống s hay x ?
Giàu đôi con mắt, đôi tay
Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời.
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Ông ngoại (đoạn 3) - Tiếng Việt 3,
Tập 1, tr. 35
Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da
loang lổ của chiếc trống trường.
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”.
Tôi phân biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các
nghĩa có liên quan tới “da thịt”, trong “da diết”; còn gia viết là gi trong các
trường hợp còn lại, với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học
vấn, chuyên môn (ví dụ: chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần
bài viết tôi tự ra bài tập để các em hiểu thêm. Nội dung bài tập như sau:
Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?
Bài tập 2b) - Tiếng Việt 3,Tập 1, tr. 18
Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- gắn, gắng
- nặn, nặng
- khăn, khăng
Giúp học sinh ghép đúng:
- gắn: gắn bó, hàn gắn, gắn kết,…
- gắng: cố gắng, gắng sức, gắng lên,…
- nặn: nặn tượng, nặn óc nghĩ, nhào nặn,….
- nặng: nặng nhọc, nặng nề, nặng cân,…
- khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,…
- khăng: khăng khăng, khăng khít,…
d. Bài tập giải câu đố:
Bài tập 2b) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr. 22
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau:
Nguyễn Thị Miền
23
Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả lớp 3A trường TH&THCS Đại Dực
Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng
(Là cái gì?)
Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại
bỏ cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng
dẫn học sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành kĩ xảo chính tả, cần đưa ra
những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó
hướng học sinh đi đến cái đúng.
e. Bài tập lựa chọn:
Bài tập 3b) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr. 132
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:
- (bão, bảo): Mọi người … nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …
a. mong tròn (1)
b. rau khổ (2)
c. cuộn muốn (3)
d. khuôn cau (4)
e. buồng muống (5)
Đáp án: a - 3 ; b - 5 ; c - 1; d - 2 ; e - 4
● Bài tập phát hiện:
Tìm từ sai chính tả trong các câu sau và sửa lại cho đúng:
- Dẫu các cháu không dúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
- Một ngôi xao chẳng sáng đêm.
- Chỉ có vần trăng vẫn thao thức như canh gát trong đêm.
- Anh cảm thấy dễ chiệu và đầu óc bớt căng thẳng.
- Hôm đó, ông lão đang ngồi sưỡi lửa thì con đem tiền về.
2.2.3. Tăng cường cơ sở vật chất.
Muốn cho tiết dạy chính tả đạt chất lượng cao, học sinh viết tốt thì trước
hết về phía nhà trường cần đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất như sau: các
phòng học phải đảm bảo ánh sáng, có cửa sổ bằng kính, có hệ thống bóng đèn
chiếu sáng; bàn ghế học sinh phải phù hợp với lứa tuổi.
Về phía giáo viên trước khi lên lớp thì giáo viên phải lập kế hoạch cho
tiết dạy của mình thật chu đáo. Giáo viên cần nghiên cứu kĩ mục tiêu của tiết
dạy, bài học đó, học sinh cần phải nắm được những gì về: Kiến thức, kĩ năng
Nguyễn Thị Miền
25