Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học môn toán cho học sinh lớp 3 - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngành giáo dục là chiếc nôi đào tạo ra những con người có đầy đủ những
phẩm chất và trình độ văn hóa. Để làm được việc đó thì bậc Tiểu học giữ một
vai trò hết sức quan trọng. Ở bậc Tiểu học, học sinh được trang bị những kiến
thức cơ bản, trọng yếu giúp các em hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đặc điểm trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và kĩ năng cơ bản
góp phần hình thành nhân cách.
Toán học là một môn khoa học nghiên cứu về thế giới hiện thực trong cuộc
sống và ứng dụng nó vào cuộc sống.
Trong hệ thống kiến thức cơ bản, toán học đóng một vị trí quan trọng
trong việc ứng dụng vào hoạt động sản xuất cũng như lĩnh vực nghiên cứu toán
học của các nhà khoa học. Đặc biệt là cung cấp các tri thức khoa học tự nhiên
cho người học. Từ đó làm cơ sở tiền đề, vốn tri thức để phục vụ con người, cải
tạo thế giới tự nhiên.
Toán học góp phần phát triển tư duy lôgic biện chứng cùng với các môn
tự nhiên và xã hội khác. Nó bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cho
học sinh, thông qua đó mà các em nhận thức thế giới hiện thực từ cụ thể hóa đến
khái quát hóa. Từ đó tạo điều kiện cho các em có phương pháp suy nghĩ, suy
luận và giải quyết vấn đề có căn cứ chính xác, toàn diện.
Môn Toán có tác dụng bồi dưỡng trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt,
sáng tạo trong quá trình hình thành nề nếp và tác phong làm việc khoa học. Vì
vậy, yêu cầu đặt ra là phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
mà một trong những yếu tố để nâng cao giáo dục toàn diện là phải lấy đổi mới
phương pháp dạy học làm then chốt.
Trong trường Tiểu học hiện nay, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán là
môn có thời lượng giảng dạy cao hơn hẳn các môn học khác. Điều đó cho thấy
môn Toán hết sức quan trọng trong việc dạy học. Vì vậy, để giúp học sinh nắm
vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn Toán là một vấn đề
hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải nghiên cứu, tìm
những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ hiểu, phù hợp để hình thành

chưa bền vững, ngồi lâu trong một tiết học nếu không thay đổi hình thức tổ chức
dạy học các em sẽ không thấy thoải mái. Bời vậy, cần có những hình thức tổ
chức hoạt động dạy học linh hoạt để các em có cơ hội vừa học, vừa vận động cơ
thể. Những hoạt động gây hứng thú sẽ khuyến khích các em chủ động học tập,
thích học, khơi dậy tính tò mò, phát triển năng lực, tìm ra những điểm mới trong
hệ thống kiến thức sẽ có tác dụng làm cho học sinh nhớ lâu, nhớ kĩ, hiểu sâu
trong việc lĩnh hội tri thức.

3


2.Thực trạng của việc dạy và học môn Toán lớp 3 ở trường Tiểu học Thịnh
Lộc:
Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công giảng dạy lớp 3B, với tổng số
20 học sinh, trong đó có 8 nữ và 12 nam. Đa số các em đều là con em gia đình
thuần nông và các em có cùng độ tuổi.
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, đối chiếu với việc giảng dạy ở
trên lớp, kết hợp trao đổi với đồng nghiệp lâu năm tôi rút ra nhận định chung
như sau:
a.Về giáo viên:
-Việc dạy học còn thiên về truyền thụ kiến thức theo kiểu áp đặt, chưa
chú ý phát huy tính tích cực, chủ động phát hiện kiến thức ở học sinh.
- Trong quá trình dạy giáo viên chưa chú trọng đến việc phân tích đề bài,
xác định từ khóa mấu chốt của đề bài toán mà giáo viên chỉ yêu cầu học sinh
đọc đề bài, gọi học sinh lên bảng làm rồi nhận xét đúng sai sau khi học sinh giải.
Các em thường đọc đề xong là làm luôn không biết suy luận kiểm tra sai hay
đúng.
- Môn Toán rất khô cứng và khi giảng dạy ở một số giáo viên chưa linh
hoạt trong việc tổ chức dạy học vì thế, chưa tạo được sự hứng thú khi dạy và học
phân môn này, tình trạng như trên vẫn còn tồn tại dẫn đến hiệu quả trong tiết


sát
22
3
13,64%
17
77,27%
2
9,09%
Qua kết quả khảo sát trên cho thấy còn nhiều học sinh chưa thuộc bảng nhân,
4


bảng chia; chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên; một số học sinh
đặt tính và thực hiện phép tính cộng, trừ, nhân, chia còn sai. Đặc biệt, trong giải
toán có lời văn các em xác định sai phép tính, lời giải đặt chưa đảm bảo chính
xác rõ ràng, có những em làm phép tính đúng nhưng lại đặt lời giải sai, có những
em lời giải đúng thì xác định phép tính lại sai…
Đứng trước yêu cầu đổi mới của ngành, trước thực trạng các mạch kiến thức
mà học sinh chưa nắm được tôi đã có những giải pháp để nâng cao chất lượng
học toán cho các em.
3. Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 3
3.1. Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình về mạch kiến thức số học và giải
toán có lời văn lớp 3
Trong chương trình môn toán lớp 3, với tổng số là 175 tiết trong đó chủ
yếu mạch kiến thức số học và giải toán có lời văn chiếm 70% số tiết trên. Các
nội dung trong từng mạch kiến thức được sắp xếp theo kiểu “đồng tâm”, để kiến
thức học sau là sự ứng dụng và sự ôn tập, củng cố của kiến thức học trước.
Học về cách đọc, viết số, so sánh các số và các phép tính. Học các bảng
nhân, bảng chia 6,7,8,9. Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000. Giới thiệu

là 10, không có thừa số 0.
+ Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ
nhất. (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng
trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần).
* Đối với bảng chia:
Tôi giúp các em nhận thấy mối quan hệ giữa bảng nhân và bảng chia.
Ví dụ: Bảng chia 9
+ Các số bị chia trong bảng chia 9 là các tích của bảng nhân 9 và hơn kém nhau
9 đơn vị.
+ Số chia trong bảng chia 9 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 9 đều là 9.
+ Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.
+ Để học sinh thuộc được các bảng nhân, bảng chia, tôi thường xuyên kiểm tra
học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy A4, nhưng
không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng.
Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn
chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu. Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen
ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt.
Ngoài ra tôi còn thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em
chưa thuộc vào vở riêng. Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu
giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên.
Với cách làm trên, đến nay, tất cả học sinh lớp tôi dạy đều thuộc được
bảng nhân, bảng chia và các em rất thích thú trong việc được cô giáo gọi lên đọc
bảng nhân, bảng chia trước lớp.
3.2.2. Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên
Đây là chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và so
sánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên và giải bài
toán hợp.
6



3trăm 2chục 5đơn vị.
lớp đơn vị.

. Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải).
. Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó.
. Học sinh đọc: Một nghìn ba trăm hai mươi lăm
Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc đối với các số
giống nhau ở chữ số hàng đơn vị.
VD: Số 2521 và 2511
. Số 2521 đọc là: Hai nghìn, năm trăm hai mươi mốt.
. Số 2511 đọc là: Hai nghìn, năm trăm mười một.
7


Vậy từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng hàng đơn vị của
hai số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 2521, hàng đơn vị đọc là mốt,
còn số 2511 hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng và đều là số “1” nhưng tên
gọi lại khác nhau. Tôi còn giúp học sinh đọc và nhận ra cách đọc của một vài số
có cách đọc tương tự trên như số 1205 và 1225 cùng hàng đơn vị là số “5”
nhưng lại đọc là “năm” và “lăm”; số 1214 và số 1224 cùng hàng đơn vị là 4
nhưng lại đọc là “bốn” và “tư”.
Riêng số 1010 nhiều em đọc là “Một nghìn không trăm linh mười”. Tôi
hướng dẫn các em: Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, . . . .linh
chín, không đọc là linh mười” vậy số 1010 đọc là: Một nghìn không trăm mười.
c. Hướng dẫn học sinh so sánh số:
- Trong trường hớp 2 số có số chữ số khác nhau thì: Số nào có ít chữ số hơn thì
số đó bé hơn và ngược lại.
VD: 3456> 932;
9999> 999.
- Trong trường hợp các số có cùng chữ số thì tôi hướng dẫn HS làm như sau:

- Phép cộng:
VD :
4624 + 1253 = 7877
Số hạng số hạng Tổng
+ Nếu ta thay đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi.
4624 + 1253 = 1253 + 4624
= 7877
+ Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai.
4624 + 1253 = 7877
+ Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết.
4624 + x = 7877
x = 7877 – 4624
x = 1253
+ Bất kì số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó.
1+0=1
- Phép trừ:
VD: 6432 – 4210 = 2212
Số bị trừ số trừ hiệu
+ Muốn tìm hiệu ta lấy số bị trừ, trừ đi số trừ.
6432 – 4210 = 2212
+ Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ.
x – 4210 = 2212
x = 2212 + 4210
x = 6432
+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu.
6432 - x = 2212
x = 6432 - 2212
x = 4210
+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó.
9

+ Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai.
9 × 3 = 27
+ Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết.
9 × x = 27
x = 27 : 9
x=3
+ Khi ta thay đổi các thừa số trong một tích thì tích không thay đổi.
9×3= 3×9
= 27
+ Số nào nhân với 1 cũng bằng chính số đó.
9×1= 9
+ Số nào nhân với 0 cũng bằng 0.
9×0=0
10


- Đặt tính và tính:
Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học sinh: Viết thừa số thứ nhất ở 1 dòng, viết
thừa số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số có 2, 3,
4 chữ số với số có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và
thừa số thứ hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.
Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị,
sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái). Các
chữ số ở tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn
vị, chục, trăm, nghìn của thừa số thứ nhất.
Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên viết số đơn vị, nhớ số
chục. (hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).
2106
• 3 nhân 6 bằng 18, viết 8 nhớ 1.
×

+ Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia
cho thương.
Ví dụ:
7 : x = 2 (dư 1)
x = (7 – 1) : 2
x=3
+ Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi
cộng với số dư.
Ví dụ:
x : 3 = 2 (dư1)
x
= 2×3+1
x
= 7
+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1 đvị
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số chia)
- Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép
chia là khó nhất vì học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến
hàng thấp (có em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện
hết). Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt
đối với học sinh yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy
được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện.
VD: Chia số có 4 chữ số cho số có 1 chữ số: 1276 : 3 = ?
- Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành phần
trong cột dọc của phép chia. (sử dụng phần bảng được xoá)

Số bị chia
1276


*Lưu ý HS: Trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép
cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn
vị. Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tự từ trái sang phải, hoặc từ hàng cao
nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị).
Sau khi tôi hướng dẫn và thường xuyên nhắc nhở các em về cách đạt tính,
cách tính thì nhìn chung HS không còn đặt tính sai, cộng, trừ, nhân, chia không
viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa.
Đối với HS chưa đạt trong môn Toán, hàng ngày mỗi tiết học Toán tôi gọi lên
bảng thực hiện phép tính. Tôi cũng thường xuyên đến gần các em để khuyến
khích, động viên các em học tập. Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm một
phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào vở. Cách trình bày
từng con số, cách sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp.
Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần thực hiện các em viết rất
rõ ràng và tính chính xác.
3.2.4 Hướng dẫn giải toán có lời văn
Đây là mạch kiến thức khó đối với HS lớp 3. Các em thường chưa biết phân
tích đề toán, chưa biết suy luận, tổng hợp, so sánh tìm cách giải hợp lí cho từng
bài. Vì vậy, trong mỗi tiết học gặp những bài toán giải có lời văn tôi yêu cầu học
sinh như sau:
- Yêu cầu HS đọc đề:
+ Đọc kĩ đề toán (đọc thành tiếng, đọc thầm), gạch chân từ, số quan trọng liên
quan đến bài giải. (GV theo dõi cả lớp đọc thầm và yêu cầu em nào cũng phải
đọc, có đọc mới hiểu và làm bài đựơc).
+ Khi đọc cần hiểu bài toán cho ta biết điều gi? Bài toán hỏi gi?
13


- Phần hướng dẫn HS giải bài toán:
+ Hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng hình vẽ, lời văn, . . .
+ Giúp HS tìm ra hướng giải bài toán bằng các câu hỏi mở.

14


18 × 2 = 16 (bộ)
Đáp số: 16 bộ bàn ghế
Sau khi học sinh trình bày xong bài giải, tôi yêu cầu HS đặt câu lời giải khác
cho mỗi phép tính. Ví dụ:
Bài giải:
Số bộ bàn ghế ở mỗi lớp là:
48 : 3 = 18 (bộ)
Số bộ bàn ghế ở 2 lớp là:
18 × 2 = 16 (bộ)
Đáp số: 16 bộ bàn ghế
Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên quan đến
rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao. Trong lớp bây giờ có 20/ 22 em
giải thành thạo dạng toán này chỉ có 2 em đôi khi còn viết sai câu lời giải thứ
nhất.
3.2.5. Giúp học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học
Tuy học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, . . . cũng chưa giải hết được các
bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi cần giúp cho
các em thuộc và khắc sâu các qui tắc đã học để áp dụng và làm toán tốt hơn, tôi
làm như sau:
+ Soạn lại các qui tắc đã học và có ví dụ, rồi in trên giấy A4, phát cho học sinh,
yêu cầu các em phải học thuộc.
+ Tổ chức cho học sinh ôn lại qui tắc: Lớp tôi có 3 tổ tôi chia làm 3 nhóm. Tôi
thường cho các nhóm thi với nhau về các qui tắc như sau:
VD: Nhóm 1 nêu câu hỏi: Muốn gấp một số lên nhiều lần ta làm gì? Nêu xong
gọi nhóm 2 hoặc nhóm 3 trả lời, nhóm nào trả lời được thì nêu tiếp câu hỏi cho
nhóm khác trả lời. ( không được hỏi trùng câu hỏi). VD: Muốn tính chu vi hình
chữ nhật ta làm thế nào? Hoặc: Muốn tìm thừa số chưa biết, . . . Cứ làm như vậy,

- Luôn nghiên cứu, tìm tòi phát hiện ra những ưu điểm của đồ dùng dạy học có
sẵn để có hướng cải tiến, làm mới sao cho phù hợp với nội dung, yêu cầu của
từng bài.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Từ việc áp dụng những biện pháp trên đến nay tôi thấy nhiều học sinh trong
lớp có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm. Học sinh nắm được các kiến thức căn bản
về toán lớp 3.
Đây là bảng kết quả khảo sát chất lượng môn toán của lớp tôi sau khi áp
dụng các các kinh nghiệm để nâng cao chất lượng dạy, học Toán cho học sinh
lớp 3” vào quá trình dạy- học. (Thời gian làm bài khảo sát: Tháng 4 năm 2017)
Tổng số
Kết quả khảo sát chất lượng
hs khảo
sát

Hoàn thành tốt
SL

TL

Hoàn thành
SL

TL

Chưa hoàn thành
SL

TL




chức dạy học, chất lượng toán được nâng cao. Đồng thời đã hình thành khắc sâu
cho những kĩ năng, thói quen hứng thú, chăm chỉ học toán. Thật đáng mừng, vì
sau mấy tháng áp dụng biện pháp nghiên cứu trên mà chất lượng môn toán của
lớp tôi được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng, thói quen căn bản trong quá
trình học toán, góp phần nâng cao chất lượng môn toán của lớp, của trường ngày
một tốt hơn.
Để đạt được kết quả trên thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị thiết kế bài
dạy trước khi lên lớp. Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức,
mức độ yêu cầu kiến thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể
hiện cụ thể của chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách
giáo viên). Sưu tầm nghiên cứu các kinh nghiệm dạy học trên các tập chí, tài
liệu bồi dưỡng giáo viên về kiến thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa
phương, trường lớp và hoàn cảnh học tập của học sinh. Nghiên cứu tài liệu và
xác định nội dung bài dạy. Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt
(kiến thức, kĩ năng tư duy và giáo dục). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ
trên mục đích yêu cầu. Lựa chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học,
các biện pháp sẽ thực hiện từng khâu, từng đối tượng học sinh. Soát lại việc
chuẩn bị của học sinh về bài học.
Để tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả thi phải tạo được không khí sẵn sàng
học tập ở chỗ học sinh nắm chắc bài cũ, chuẩn bị tốt sách giáo khoa và đồ dùng
học tập. Tập thể học sinh tự giác, tôn trọng nội quy, nề nếp và làm việc tốt. Học
sinh trong trạng thái khoẻ mạnh, tỉnh táo.Tạo mối quan hệ tốt giữa giáo viên và
học sinh thể hiện ở chỗ:
+ Giáo viên có thái độ cởi mở, chan hoà, ân cần, quan tâm đến học sinh, mẫu
mực trong tác phong. Giáo viên chuẩn bị bài soạn, sẵn sàng lên lớp.
+ Học sinh lễ phép, chăm chỉ và tích cực trong học tập.
* Những yêu cầu chung của một tiết học trên lớp:
- Tiết học toán phải chú ý đến hai mặt giáo dục và giáo dưỡng. Hai mặt này kết

Đỗ Thị Bình

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tham khảo một số tài liệu:
- Một số phương pháp dạy tốt toán 3 – NXBGD
- Sách giáo khoa toán 3 – NXBGD
- Sách giáo viên toán 3 – NXBGD
- Web site:
19


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Bình
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Thịnh Lộc – Hậu Lộc
TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh Kết quả
giá xếp loại đánh giá

Năm học
đánh giá xếp
20


1.


2011 - 2012

C

2014 - 2015

(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

chất lượng bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Tiếng Việt lớp
4.

4, 5
Hướng dẫn trò chơi dân gian

Cấp phòng

cho học sinh Tiểu học

MỤC LỤC
TT
A
1
2
3
4
B
1

4
C
1
2

4

Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượng dạy
học môn toán lớp 3
Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình về mạch kiến
thức số học và giải toán có lời văn lớp 3.
Sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học nhằm tăng
cường rèn luyện các kỹ năng cho học sinh trong học
toán
Sử dụng hợp lý, sáng tạo đồ dùng dùng dạy học
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN đã được hội đồng đánh giá
xếp loại cấp phòng GD&ĐT, cấp sở GD&ĐT và các
cấp cao hơn xếp loại từ C trở lên

5
5
5
15
16
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status