Hướng dẫn học sinh lớp 4 viết các kiểu mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả - Pdf 44

Sở GIáO DụC Và ĐàO TạO THANH HOá
PHòNG GIáO DụC Và ĐàO TạO Hà TRUNG
======& ========

Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài
Hớng dẫn Học sinh lớp 4 viết các kiểu mở bài,
kết bài Trong bài văn miêu tả

Ngi thc hin : Th Thỳy Hng
Chc v : Giỏo viờn
n v :Trng Tiu hc H Bỡnh
SKKN thuc lnh vc ( Mụn) : Ting vit

Hà trung năm 2016
Mc lc
STT

Ni dung

Trang


1

2

A.Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
1. Mục đích nghiên cứu .
1. Đối tượng nghiên cứu.

1. Lí do chọn đề tài.


Việc giáo dục thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay theo khuynh hướng giao tiếp,
giúp trẻ động não suy nghĩ, chủ động sáng tạo, phát huy tối đa năng lực của bản
than.Từ đó các em có thể phát triển toàn diện nhân cách phù hợp với sự phát triến của
thời đại và hội nhập quốc tế.
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành, phát triển nhân cách và cung
cấp cho trẻ những tri thức cần thiết. Môn Tiếng việt cùng với các môn học khác, có
nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4 kĩ năng đó là: “ Nghe - nói - đọc - viết”. Trong các
phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn của
môn Tiếng việt thì phân môn Tập làm văn có tính chất tích hợp của các phân môn
khác. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là: bài
nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con
người thực hiện quá trình tư duy, trao đối tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi
người hiểu nhau. Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết
sức cần thiết.Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng
việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Với phân môn Tập làm văn lớp 4, các em phải làm quen với nhiều thể loại văn
như: Miêu tả, kể chuyện…. mà mỗi thể loại đòi hỏi các em có kĩ năng và phương
pháp làm bài khác nhau. Riêng văn miêu tả ở lớp 4 được phân ra gồm : Miêu tả đồ
vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật. Mặc dù đây là những đối tượng khá gần gũi và
quen thuộc với các em song các em lại thiếu vốn từ ngữ để diễn tả những điều mình
quan sát được. Hơn thế nữa lên đến lớp 4 học sinh bắt đầu làm quen và thực hiện một
bài văn hoàn chỉnh với đầy đủ 3 phần ( Mở bài – Thân bài – Kết bài). Một bài văn cho
dù có hay đến đâu nhưng nếu phần mở bài không hấp dẫn, không lôi cuốn sẽ dẫn đến
mất tập trung ở người đọc. Cùng với việc mở bài là việc kết bài, nếu có một kết bài
hay sẽ để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó quên về bài văn. Do vậy, đối với tôi
phần mở bài và kết bài trong bài văn miêu tả ở lớp 4 có một vai trò và tầm quan trọng
khá đặc biệt. Từ những suy nghĩ đó, tôi đã trăn trở, tìm tòi nghiên cứu nhiều tài liệu

văn miêu tả.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Sau đó tôi tiến hành điều tra thực trạng qua
từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên và học sinh, tìm hiểu thực tế
việc dạy- học phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học. So sánh đối chứng
trong cùng một giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các giai đoạn với nhau trong
cùng một lớp, đối chứng cả với những năm học trước. Quan sát tinh thần, thái độ, ý
thức trong học Tập làm văn của học sinh lớp mình, học sinh lớp khác trong khi đi dự
giờ, quan sát phương pháp sư phạm của giáo viên giảng dạy, quan sát chất lượng viết
mở bài và kết bài của học sinh ở từng dạng miêu tả khác nhau để tìm hiểu những tác
nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng bài viết học sinh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm : Tôi tiến hành đồng thời với phương pháp
kiểm tra và phương pháp tổng hợp số liệu. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng viết mở
bài và kết bài trong bài văn miêu tả của từng học sinh, tôi mô tả và thống kê chất
lượng ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các số liệu đã thu được nhằm rút
ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
B. Nội dung
1. Cơ sở lí luận
Để thực hiện mục tiêu “Hình thành và phát triển ở Học sinh các kĩ năng sử dụng
tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt
động của lứa tuổi”. Cũng như Sách giáo khoa Tiếng Việt ở các lớp 1,2,3, SGK Tiếng
Việt 4 lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản. Quan điểm dạy giao tiếp
được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học. Về nội
dung, thông qua các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, kể chuyên, Tập
làm văn, SGK Tiếng Việt 4 tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để Học sinh
mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức và phát triển các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được
dạy thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao
tiếp tự nhiên.
Không những thế quan điểm biên soạn Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 còn dựa
trên tích hợp nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho

mở rộng hoặc không mở rộng. Đây là một nội dung hoàn toàn mới mẻ đối với giáo
viên. Trong khi đó, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học chỉ cung cấp cho giáo viên
một số kiến thức sơ đẳng về khái niệm các cách mở bài, kết bài nên khi lên lớp giáo
viên còn lúng túng, gặp nhiều vướng mắc. Vậy làm thế nào để mở bài, kết bài đảm
bảo yêu cầu đề ra, không sơ sài, không quá dài so với bố cục bài văn, không xa đề,
không hời hợt, nhàm chán, khuôn mẫu. Làm thế nào để khi lên lớp giáo viên có thể đủ
khả năng tổ chức cho học sinh học tập, để phân định, diễn giải, minh hoạ một cách
thấu đáo những nội dung nói trên. Xuất phát từ những yếu tố vừa nêu trên, tôi nghiên
cứu một số biện pháp “Hướng dẫn học sinh lớp 4 viết các kiểu mở bài, kết bài trong
bài văn miêu tả” .
2.. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.Thực trạng chung
Chương trình phân môn Tập làm văn trước đây, cả giáo viên và học sinh phải tự
mò mẫm từng bước đi để đến với bài văn. Song cấu trúc chương trình Tiểu học hiện
nay đã xây dựng theo cấu trúc từ những khái niệm thể loại, xây dựng đoạn văn (mở
bài, thân bài, kết bài ), sau đó mới hoàn chỉnh một đề bài. Vì thế, các em không chỉ
nắm được những yêu cầu cơ bản của từng dạng đề bài mà còn tích lũy được nhiều
kiến thức bổ trợ khác nhau. Chất lượng bài làm của học sinh cũng nâng lên rõ rệt, một
số em biết viết nhiều cách vào bài, kết bài khác nhau còn giáo viên có nhiều thời gian
để định hướng cụ thể cho các em viết các phần của bài văn, đồng thời tự tin hơn khi
dạy các tiết tập làm văn.
2.2.Thực trạng của giáo viên
Giáo viên Tiểu học là“ông thầy tổng thể”, phải dạy nhiều môn học, không
chuyên sâu dạy môn văn nên chất lượng dạy phân môn Tập làm văn còn nhiều bất
cập. Giáo viên còn lúng túng khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh hoàn thiện các công
đoạn để tạo ra một bài văn hoàn chỉnh sao cho vừa đảm bảo yêu cầu đề ra, vừa đảm
bảo tính chất của văn học.
Thực tế còn không ít giáo viên chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của
việc quan sát, tìm ý, viết đoạn văn nên chất lượng giờ tập làm văn, lập dàn ý và giờ


2.3. Thực trạng của học sinh.
Xu thế hiện nay, phần lớn các em thích học toán, ngại học Tiếng việt, nhất là phân
môn Tập làm văn. Vì thế, học sinh chưa hứng thú học tập, nhất là đối với những bài
rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài; không khí lớp học rất trầm, chỉ một số ít học sinh
tham gia học tập.
Một số học sinh chưa xác định được trọng tâm của đề bài nên đoạn viết của các em
không biết viết bắt đầu từ đâu, phải viết những gì, viết như thế nào, thậm chí viết còn
sai đề, xa đề.
Trong các tiết học phân môn tập làm văn lớp 4, đặc biệt là ở các bài: Luyện tập
xây dựng mở bài ( hoặc kết bài ) trong bài văn miêu tả, nhiều học sinh gặp lúng túng
khi phân biệt các mở bài mẫu SGK đưa ra như: bài tập 1 trang 10 (SGK tập 2) trường
hợp nào là mở bài trực tiếp, trường hợp nào là mở bài gián tiếp ; hoặc kết bài mẫu
SGK đưa ra như bài tập 1 trang 11 (SGK tập 2), trường hợp nào là kết bài mở rộng,
trường hợp nào là kết bài không mở rộng ; hoặc khi giáo viên yêu cầu viết đoạn mở
bài ( hoặc kết bài ) với đề bài cho trước theo hai cách khác nhau thì các em không thể
trình bày được.
Vốn từ các em còn ít, ý còn nghèo nên chất lượng bài viết chưa cao: nội dung sơ
sài, diễn đạt lủng củng, khô khan, thiếu tính sáng tạo, thiếu sự hồn nhiên ngây thơ
hoặc máy móc, rập khuôn các bài văn mẫu; viết chủ yếu là mở bài kiểu trực tiếp và


kết bài kiểu không mở rộng, không biết liên kết câu và lồng cảm xúc của bản thân vào
bài viết.
Nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng bài làm của
các em còn viết theo một khối mòn khuôn mẫu, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và nghèo
hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ
thuật như so sánh, nhân hóa…
Chỉ có một số ít học sinh có tính sáng tạo biết cách viết khi dựa vào các mở bài
( hoặc kết bài ) mẫu trong sách giáo khoa để viết theo cách của riêng mình. Còn lại
phần lớn các em phải dựa dẫm, lấy nguyên ý của giáo viên để viết sao cho cố hoàn

và mạnh dạn áp dụng một số giải pháp “Hướng dẫn học sinh lớp 4 viết các kiểu mở
bài, kết bài trong bài văn miêu tả” như sau:
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1 Giải pháp 1: Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để
từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:
Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá,
tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát,
cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan
sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có
cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.
Ở tuổi học sinh Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt
đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp
xếp theo một trình tự nhất định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc
làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu.
Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, các em thích quan sát mọi vật
xung quanh. Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng khái quát hoá .Về tình cảm
các em rất nhạy cảm với vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh hay của thiên nhiên đất
nước. Các em dễ xúc động và bắt đầu biết mơ ước có trí tưởng tượng phong phú.
Thích ghi lại các vấn đề mà mình đã quan sát được. Song vốn ngôn ngữ chưa phong
phú. Sắp xếp ý chưa có hệ thống và diễn đạt còn thiếu mạch lạc.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu
cảm xúc, tạo nên cái " hồn" chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn


nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc
động và luôn hướng tới cái thiện.
3. 2.Giải pháp 2: Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học theo qui trình
chặt chẽ , logic khoa học.
Trong bất kỳ hoạt động nào việc chuẩn bị cũng hết sức quan trọng, chuẩn bị
cũng chính là kế hoạch cho công việc mình định làm, đó là việc làm đầu tiên, tất yếu

ngoài giờ lên lớp, mỗi ngày ta có thể dành một thời giờ để lên mạng tìm những thông
tin cần thiết cho các bài giảng, như vậy vốn kiến thức của chúng ta sẽ phong phú lên
rất nhiều và bài giảng chắc chắn sẽ hấp dẫn hơn, nhất là với việc dạy văn miêu tả thì
điều này lại càng cần thiết.
Dạy văn miêu tả lớp 4 là một việc làm khó, nhất là nếu chúng ta đơn độc thực
hiện lại càng khó hơn nên rất cần sự đóng góp trí tuệ của tập thể, của bạn bè đồng
nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần nghiêm túc trao đổi cùng bạn bè đồng nghiệp về chuyên
môn nghiệp vụ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. Mỗi buổi có thể trao đổi về một
chủ đề, về một tiết tập làm văn nào đó, có thể cả tổ xây dựng mỗi tiết một kế hoạch
bài học mẫu sau đó về nhà mỗi người sẽ tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh lớp mình
mà cụ thể hoá thành kế hoạch của riêng mình. Như vậy sẽ phát huy được sức mạnh
của tập thể và mỗi chúng ta cũng học hỏi được từ đồng nghiệp rất nhiều.


Củng cố bài là phần chiếm không nhiều thời gian trong cả tiết học nhưng lại là
lúc giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung kiến thức của bài và mở ra hướng kiến thức
mới cho tiết học sau, vì vậy cần chú ý ở phần củng cố bài hấp dẫn, thu hút được sự
chú ý của các em.
Như trên đã nói, cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh, góc
độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em nên ở phần củng cố bài,
giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh làm các em bắt trước, sao
chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như nhau mà nên đưa ra những
đoạn văn miêu tả những tác giả khác nhau. Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra
nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện, phong phú hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm
tòi những chi tiết đặc sắc, học tập được các câu, các từ hay, cách diễn đạt hợp lý cho
bài làm của mình.
Ví dụ : Trong tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật, phần củng cố bài,
giáo viên có thể đọc cho các em nghe một vài đoạn như sau:
"Con Rô sạch sẽ lắm. Mỗi lần mẹ gọi : "Rô đi tắm" là nó vẫy đuôi chạy theo, ngoan
ngoãn như một đứa bé được nuông chiều. Thân hình nó không hề có một con bọ, con

Ví dụ 1: Khi dạy bài: "Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối" (Tiếng Việt 4 tập 2 trang
31).
Giả sử dùng phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, giáo viên đưa trực
quan tranh “ Bãi ngô” cho học sinh quan sát, học sinh đọc, khảo sát văn bản.
Học sinh đọc, khảo sát văn bản bài: "Bãi ngô" sau đó mỗi cá nhân sẽ xác định
đoạn văn và nội dung từng đoạn.
- Giáo viên cho học sinh đọc yêu cầu 2, 3 phần, nhận xét, thảo luận nhóm đôi 2 yêu
cầu.
- Học sinh trình bày kết quả thảo luận chính là các em được thực hành giao tiếp.
Học sinh sẽ so sánh, đối chiếu, phân tích được trình tự miêu tả trong bài "Bãi
ngô" là theo từng thời kỳ phát triển của cây ngô.
Sau đó giáo viên dùng phương pháp vấn đáp gợi mở, phương pháp phân tích
ngôn ngữ yêu cầu:
Hỏi: Bài văn tả những thời kỳ phát triển nào của cây ngô? ( Học sinh dễ dàng thấy
được bài văn tả cây ngô từ lúc còn bé lấm tấm như mạ non, rồi tả cây ngô lúc trưởng
thành lá rộng dài, tiếp đến tả hoa ngô, bắp ngô non ở giai đoạn đơm hoa kết trái, cuối
cùng tả hoa và lá ngô giai đoạn bắp ngô mập, chắc.)
Còn trình tự miêu tả trong bài "cây mai tứ quý" theo từng bộ phận của cây.
Hỏi: Bài văn tả những bộ phận nào của cây mai tứ quý? (Tán, gốc, cành, cánh hoa,
trái.)


Hỏi: Bài văn đã sử dụng từ loại nào? Biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả các bộ phận
ấy? ( Bài văn sử dụng nhiều tính từ, miêu tả như: Xoè, vàng thắm, chín đậm và nghệ
thuật so sánh : gốc lớn bằng bắp tay.)
Giáo viên dùng phương pháp phân tích ngôn ngữ chốt lại nội dung yêu cầu 2; bài
văn miêu tả cây cối có thể tả theo trình tự, tả thứ tự từng bộ phận của cây như: gốc,
thân, cành, lá, hoa, quả hoặc là từng thời kỳ phát triển theo mùa trong năm
Từ đó học sinh dễ dàng tổng hợp được cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối gồm 3
phần.

Giáo viên dùng phương pháp phân tích ngôn ngữ để học sinh thấy được muốn
miêu tả đồ vật phải quan sát đồ vật, cách quan sát từ hình dáng bên ngoài đến các bộ
phận chính là quan sát đồ vật theo một trình tự hợp lí. Khi quan sát đồ vật cần sử dụng
nhiều giác quan. Cần tìm ra đặc điểm riêng của đồ vật, phân biệt đồ vật này với đồ vật
khác nhất là đối với đồ vật cùng loại ví như cùng là quan sát gấu bông nhưng có con
bộ lông màu đỏ, có con bộ lông màu nâu, có con mũi đỏ, có con mũi đen...
Tóm lại, với biện pháp trên, học sinh tự hình thành lý thuyết văn miêu tả về "Cấu tạo
bài văn miêu tả cây cối" và "quan sát đồ vật". Các em biết vận dụng lý thuyết văn
miêu tả để viết một bài văn tả một loại cây có bố cục rõ ràng, các phần đủ ý, biết sử
dụng nghệ thuật nhân hoá so sánh, dùng từ gợi tả màu sắc, chỉ hoạt động, để bài văn
thêm sinh động, giàu hình ảnh.


Để giúp học sinh nhận ra một văn bản thuộc thể loại văn miêu tả, giáo viên cần
đặt bên cạnh nó một văn bản khác chẳng hạn như văn bản kế chuyện. Giáo viên yêu
cầu học sinh phải nêu ra được văn bản nào thuộc thể loại văn miêu tả và học sinh phải
lí giải được vì sao văn bản đó là văn miêu tả. Để làm được điều này, giáo viên cần lựa
chọn phương pháp quan sát, phương pháp đối chiếu, phân tích, tổng hợp, phương
pháp vấn đáp gợi mở để rút ra kết luận cần thiết về văn bản miêu tả.
Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài "cái nón" trang 11 (Tiếng Việt 4 - tập 1) và
bài "Bốn anh tài" (Tiếng Việt 4 - tập 2). Hãy cho biết văn bản nào là văn bản miêu tả?
Vì sao?
Giáo viên sử dụng phương pháp quan sát, hình thức học cá nhân, yêu cầu học sinh
đọc thầm, khảo sát 2 văn bản. "Các nón" và "Bốn anh tài".
Sau đó dùng phương pháp vấn đáp gợi mở kết hợp hình thức học cả lớp.
Hỏi: Văn bản "Bốn anh tài" nói về điều gì ? (Câu chuyện ca ngợi tài năng, sức khoẻ
bốn anh tài.)
Hỏi: Văn bản "cái nón" nói về điều gì? (Tả về các bộ phận của các nón.)
H: Vậy vản bản nào thuộc thể loại văn bản miêu tả? ( Văn bản "cái nón"?)
H: Vì sao? (Học sinh so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp để thấy được văn bản

mở bài cần phải giới thiệu về “cái bàn học”.
+ Cái bàn đó do đâu mà có? Có từ bao giờ?


Ví dụ: Cái bàn do bố mua đầu năm học hoặc cái bàn là phần thưởng của bà dành cho
em cuối năm học lớp Ba, ...
- Hướng dẫn học sinh diễn đạt thành các câu văn mạch lạc, đầy đủ ý để gây sự
chú ý cao cho người đọc và nhắc các em không được viết theo cách trả lời các
câu hỏi như gợi ý.
Ví dụ: Trong nhà em có rất nhiểu cái bàn song em thích nhất là cái bàn học đặt trong
phòng em. Đó là phần thưởng của bà ngoại tặng cho em cuối năm học lớp Ba.
Giáo viên cần nhắc nhở Học sinh không nên viết mở bài là: Nhà em có một cái bàn.
Cái bàn này do mẹ em mua, mua đầu năm học.
Một bài văn nếu chỉ có mở bài hay và thân bài phong phú, hấp dẫn không thôi
thì vẫn chưa đủ, còn phải có kết bài thú vị gây ân tượng. Kết bài viết hay sẽ có tác
dụng làm sâu sắc chủ đề, tạo nên dư âm dư vị cho cả bài viết. Kết bài không đơn
thuần chỉ là một đoạn cuối của bài văn, nó còn là bộ phận kết thúc trong một tương
quan chủ thể (thân bài) và mở bài của bài văn. Kết bài có thể là một câu, cũng có thể
là một đoạn tự nhiên.
Vì thế trong đoạn kết bài cần đạt các yêu cầu sau :
- Một là: Kết bài phải hoàn thành chủ đề. Nghĩa là kết bài phải tỏ rõ ý tưởng
của người viết muốn gửi gắm đến người đọc.
- Hai là: Kết bài phải để lại dư vị cho người đọc. Nghĩa là sau khi đọc xong bài
văn, kết bài đó phải khiến cho người đọc, người nghe bao vấn vương, suy tư, sự nuối
tiếc và tưởng chừng tất cả vẫn còn ở trước mắt.
Ví dụ: Khi tả cây phượng trên sân trường có em đã viết : Mở trang sách, ôi! đúng bài
“Hoa học trò”, mấy giọt nắng tinh nghịch rơi vào. Rồi những cánh hoa đỏ cũng đậu
vào, trang sách rực rỡ hẳn lên. Lòng em mơn man cảm xúc. Phượng ơi! Phượng tô
điểm cho vẻ đẹp sân trường bằng những mùa hoa tươi thắm, tỏa bóng mát những giờ
ra chơi. Nếu phải xa cây phượng chắc nhớ lắm!

Hình thức
Mở bài trực
Mở bài gián tiếp
tiếp
- Dung lượng và độ dài của mở bài
phải cân xứng với thân bài, kết bài.
- Giới thiệu Gồm có 2 phần:
vấn đề: Đây là 1. Gợi mở vào đề: Bằng - Nên viết ngắn gọn, khéo léo có sức
trọng tâm của cách đưa ra một mẫu thu hút, gợi hứng thú.
mở bài có chuyện, một so sánh, một - Tránh nói vòng vèo mà không vào
nhiệm vụ tạo liên tưởng, một âm thanh, được vấn đề.
nên tình huống một lí do đưa đến bài viết - Tránh viết lan man, không ăn khớp
với các phần sau.
có vấn đề mà ta ….
- Tránh viết dài dòng, cầu kỳ làm
sẽ giải quyết 2. Giới thiệu vấn đề:
trong phần thân a, Giới thiệu nội dung vấn phân tán sự chú ý.
bài.
đề.
b, Xác định giới hạn vấn
đề.
Mở bài trực tiếp:
+ Ưu điểm:
- Giới thiệu thẳng với người đọc đồ vật sẽ miêu tả.
- Cách mở bài này nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với những
bài viết ngắn.
+ Hạn chế:
- Nếu không khéo thì sẽ khô khan, ít hấp dẫn.
Ví dụ:
Đề: Em hãy tả cái cặp của em.

đã
mua
chiếc
cặp
này cho em

Kiểu 213
Ở cửa
hàng
sách
(2) bày bán
rất nhiều đồ
dùng
học
sinh. Nhưng
em chỉ để ý
đến cái cặp
(1) mà em
ao ước từ

Kiểu 231
Ở cửa
hàng sách
(2) bày bán
rất nhiều đồ
dùng
học
sinh. Và vào
đầu năm học
(3), ba đã



sách(
vào
năm
(3).

2) ở cửa hàng lâu. Và ba
đầu sách (2).
đã mua nó
học
cho em vào
đầu năm học
(3).

cho em cái đã em ao
cặp (1) em ước từ lâu.
ao ước từ
lâu.

dùng học
sinh.
Nhưng em
chỉ muốn
mua
cái
sặp (1) mà
em ao ước
từ lâu.
Lưu ý: Với đề bài ở trên ( không có giới hạn đối tượng miêu tả) thì học sinh có thể tự

Lưu ý: Khi viết mở bài kiểu mở bài gián tiếp giáo viên lưu ý học sinh phần phân tích
đề chỉ cần nêu đối tượng miêu tả “cái cặp (1)” và ấn tượng chung của em khi nhìn đồ
vật đó như thế nào, còn “Ở đâu: ở hiệu sách (2) ; Lúc nào: vào đầu năm học (3)” có
hay không cũng được.
Với đề bài này giáo viên có thể gợi ý một số cách viết mở bài gián tiếp như sau.
Gợi ý mở bài gián tiếp
Mở bài
Mở bài
Mở bài
Mở bài
bằng một âm
bằng một câu
bằng một so
bằng lời đối thoại
thanh
nói
sánh
“Tách… -“Đẹp quá! Đẹp
Nhìn các bạn - Ba ơi, ba mang về gói


tách … tách …”
một âm thanh
hơi là lạ vang
lên làm cho em
quay lại nhìn
vào chiếc cặp
mà cô bán hàng
ở cửa hàng sách
đang giới thiệu

tinh. Chiếc cặp
này ba đã mua
cho em ở cửa
hàng sách để
chuẩn bị cho đầu
năm học mới.

gì to thế?
- Mở ra mà xem! Chắc
chắn con sẽ rất thích.
- Cảm ơn ba!
Em vừa nói vừa háo
hức, vội vã mở túi nilông. Và điều thích thú
nhất hiện ra trước mắt
em:
một chiếc cặp mới tinh.

Hướng dẫn Học sinh xây dựng đoạn văn kết bài trong bài văn miêu tả:
Kết bài là phần cuối cùng, là phần sau hết đến với người đọc, gây cho người
đọc cảm giác, ấn tượng cuối cùng về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài.
Kết bài có một vai trò và tầm quan trọng đặc biệt vì một kết bài gọn gàng, nhẹ
nhàng, đặc sắc sẽ lưu lại tình cảm tốt đẹp, khó quên trong lòng người đọc.
Cấu tạo của kết bài.
Cấu tạo kết bài

Nội dung
Kết bài không mở rộng
Kết bài mở rộng
- Là phần cuối cùng của - Là phần cuối cùng của bài
bài văn kết thúc ý chính văn vừa kết thúc ý chính


- Dung lượng và độ dài
của kết bài phải cân xứng
với mở bài và thân bài.
- Nên viết gọn vàng, sâu
sắc, gợi cảm phục ở
người đọc.
- Tránh viết lan man, dài
dòng không ăn khớp với
các phần trên.


Kết bài không mở rộng:
Ví dụ:
Đề bài: Em hãy viết đoạn kết bài trong bài văn miêu tả cái cặp của em.
Với đề bài như trên, thông qua các câu hỏi gợi mở, giáo viên hướng dẫn học sinh
phân tích đề xác định được các yếu tố cần nêu ở kết bài như sau:
- Suy nghĩ: hiểu giá trị, lợi ích của cái cặp (1)
Tình cảm: yêu quý cái cặp (2)
Hành động: giữ gìn, bảo quản tốt. (3)
Lưu ý: Với các yếu tố (1) ; (2) ; (3) ở kết bài vừa phân tích giáo viên có thể gợi mở để
học sinh tự viết 6 kiểu kết bài không mở rộng theo các kiểu: 123 ; 132 ; 213 ; 231 ;
312 ; 321 như sau:
Giáo viên có thể gợi ý Học sinh viết 1 số cách kết bài không mở rộng như sau:
Kiểu 123
Nhìn
ngắm cái
cặp,
em
càng hiểu

cho em.

Kiểu 132
Nhìn
ngắm
cái
cặp,
em
càng hiểu
được giá trị
và lợi ích
(1)
của
chiếc
cặp
giúp
em
trong suốt
năm
học.
Càng hiểu
bao nhiêu,
em càng tự
hứa với lòng
bấy nhiêu là
sẽ giữ gìn
bảo quản
(3) cặp tốt
và yêu quý
( 2) chiếc

lòng là sẽ
giữ gìn,
bảo
quản( 3)
cặp tốt để
khỏi phụ
lòng cha
mẹ
đã
mua cho
em.

Kiểu 231
Càng
ngồi ngắm,
em càng
yêu quý
(2) và xem
cặp
như
một người
bạn thân.
Em tự hứa
với lòng là
sẽ giữ gìn
bảo quản
(3) cặp tốt
vì em đã
hiểu được
giá trị và

suốt năm
học.

Kết bài mở rộng:
Ví dụ:
Đề: Em hãy viết đoạn kết bài trong bài văn miêu tả cái cặp của em

Kiểu 321
Có được một
vật quý trong
tay, em càng
phải cố gắng giữ
gìn,
bảo
quản( 3) cặp tốt
để khỏi phụ lòng
cha mẹ. Em hiểu
và xem cặp như
một người bạn
thân vì em hiểu
được giá trị và
lợi ích (1) của
chiếc cặp giúp
em trong suốt
năm học.


Với đề bài như trên, thông qua các câu hỏi gợi mở, giáo viên hướng dẫn học sinh có
thể viết kết bài mở rộng theo các cách như sau: kết bài bằng cách Nêu một câu hỏi Nêu một ý mới lạ - Đưa ra một lời bình - Đưa ra một câu văn hoặc một câu thơ ….
Giáo viên có thể Gợi ý một số cách viết kết bài mở rộng sau:

không các bạn?
nho nhỏ này.
Văn chương không phải là sợ đúng, sai. Nếu chỉ làm văn đúng thôi chưa đủ
phải thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải thứ gò ép bắt
buộc, tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các em. Bài
văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở
phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy giáo viên cần chú
ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách thường xuyên liên tục,
từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, tiết viết
bài và ngay trong tiết trả bài nữa.
3.6 Giải pháp 6: Giáo viên cần thực hiện nghiêm túc tiết trả bài:
Tất cả những công việc, từ những việc làm thông thường hàng ngày đến việc
nghiêm túc đều thực hiện theo một chu trình nhất định, bắt đầu từ việc lập kế hoạch
đến việc triển khai thực hiện kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá lại
những việc đã làm so với kết quả không bỏ qua bất cứ khâu nào trong các khâu trên,
nhất là các khâu kiểm tra, đánh giá: có kiểm tra đánh giá thì mới có thể biết được
những ưu, khuyết điểm trong công việc đã thực hiện, để điều chỉnh cho những việc
tiếp theo.
Dạy tập làm văn cũng không nằm ngoài chu trình chung đó. Mỗi loại bài
thường dành một tiết kiểm tra để học sinh thực hành viết văn, quá trình thực hành ấy
cần được xem xét, đánh giá rút kinh nghiệm thật cẩn thận, nghiêm túc thì mới có tác
dụng rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, tổ chức rút kinh nghiệm thực hiện tiết trả bài
chính là thực hiện khâu cuối cùng "kiểm tra, đánh giá "nhằm mục đích giúp học sinh


hiểu được những nhận xét chung của giáo viên và kết quả bài viết của cả lớp để liên
hệ với bài làm của mình giúp học sinh biết sửa lỗi dùng từ, ngữ pháp, diễn đạt, chính
tả, bố cục bài của mình và của các bạn, từ đó học sinh có thể học hỏi những câu văn,
đoạn văn hay của bạn. Với mục đích như vậy thì tiết trả bài không thể làm qua loa đại
khái, càng không thể bớt xén thời lượng.

Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của chú
mèo sao cho sinh động hơn:Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống
lên, đăm chiêu nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên.
- Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân thon dài
mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu.
Như vậy cùng là miêu tả cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn sử dụng
biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì
hiệu quả khác hẳn, ta thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và
sẽ cuốn hút người đọc, người nghe.
Tập làm văn và phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân môn
thuộc môn Tiếng Việt , vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt các phân
môn trong môn Tiếng Việt


Ví dụ: Khi học về câu kể Ai là gì ? học sinh hiểu tác dụng, cấu tạo của kiểu câu này,
biết nhận ra nó trong đoạn văn và từ đó học sinh biết đặt câu kể Ai là gì ? để giới
thiệu hoặc nêu nhận định về một con người, một vật:
Chích bông là con chim rất đáng yêu.
Hoa đào, hoa mai là bạn của mùa xuân.
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không một
phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ viết. Vì vậy
muốn có bài văn hấp dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh trong các
giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ
ràng, sạch sẽ.
Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết
cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là kỹ năng
sản sinh văn bản dưới dạng nói của học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình cảm, giúp
học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập cách
miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.

0

Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả kiểm tra, ta thấy sau khi được hướng dẫn viết
các kiểu mở bài và kết bài trong bài văn miêu tả,các em đã nắm vững và vận dụng
linh hoạt để viết mở bài (hoặc kết bài) theo các cách khác nhau tùy theo yêu cầu của
đề bài. Chính vì thế chất lượng đã được nâng lên rõ rệt. So với lần kiểm tra ở tuần 15
thì học sinh có mở bài và kết bài sáng tạo, gây ấn tượng cho người đọc mới chỉ có 2
em chiếm 9,5 % thì ở lần này đã có 12 em chiếm 57,1%. Với học sinh chưa biết viết,
viết qua loa mở bài và kết bài ở lần kiểm tra ở tuần 15 có 7 em chiếm 33,4% thì ở lần
kiểm tra này không con em nào chưa biết viết mở bài và kết bài. Đây là thành công
đáng kể mà bản thân tôi đã áp dụng vào thực tiễn giảng dạy nhằm nâng cao chất
lượng viết mở bài và kết bài trong bài văn miêu tả ở học sinh lớp 4.


Bản thân tôi, sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tế lớp mình phụ
trách và thấy kết quả thu được rất khả quan. Vì thế mà tôi đã mạnh dạn đưa đè tài của
mình ra tổ chuyên môn và được các đồng chí trong Tổ, khối chuyên môn đồng tình và
cùng áp dụng . Kết quả thu được thêm một lần khẳng định chắc chắn tính khả thi và
khách quan của đề tài.


C. Kết luận, kiến nghị
1.Kết luận
Muốn nói gì thì nói trong nghề dạy học thì chất lượng thực của học sinh cũng
phải đặt lên hàng đầu. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội
ngày nay.
Qua nghiên cứu đề tài, tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh viết tốt các kiểu
mở bài (hoặc kết bài) theo các cách khác nhau là một việc làm khó. Đòi hỏi người
giáo viên phải tâm huyết với nghề, nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn,
biết lựa chọn phương pháp phù hợp, kết hợp hình thức dạy học hợp lí. Ngoài các kiểu


Tài liệu tham khảo
STT
1

Tên sách tham khảo
Tiếng việt Tập 1 – Lớp 4

Tác giả
Nguyễn Minh Thuyết (Chủ
biên), Nguyễn Thị Hạnh, Đỗ
Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nguyễn Minh Thuyết (Chủ
biên), Hoàng Cao Cương,
Đỗ Việt Hùng, Trần Thị
Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh
Nguyễn Minh Thuyết (Chủ
biên), Hoàng Cao Cương,
Đỗ Việt Hùng, Trần Thị
Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh
Nguyễn Minh Thuyết (Chủ
biên), Hoàng Cao Cương,
Đỗ Việt Hùng, Trần Thị
Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh
Trần Thị Thìn

2

Tiếng việt Tập 2 – Lớp 4







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status