SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4 - TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH KIM
Người thực hiện:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Lê Thị Luyến
Giáo viên
Trường Tiểu học Thành Kim,
Thạch Thành, Thanh Hóa
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HÓA, NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Nội dung
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
12
13
13
14
chơi
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
14
dục với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
III. Kết luận, kiến nghị
15
1. Kết luận
15
2. Kiến nghị
16
Tài liệu tham khảo
18
Phụ lục
19- 24
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Từ sau cách mạng tháng Tám, với sự ra đời của một nước Việt Nam độc
lập, tiếng Việt đã chiếm giữ một vị trí xứng đáng của mình là ngôn ngữ chính
thống của dân tộc. Là một giáo viên Tiểu học, tôi luôn mong muốn học sinh của
mình nhận thức sâu sắc vế sự giàu đẹp của tiếng Việt và các em phải có ý thức
giữ gìn và phát huy bản sắc tiếng Việt trong nhà tường thông qua các hoạt động
giáo dục. Cụ thể là tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra biện pháp dạy - học tốt
nhất để giúp học sinh nói và viết đúng chính tả tiếng Việt.
được một bài chữa lỗi chính tả thay thế cho sát với đối tương học sinh của mình
không phải giáo viên nào cũng có thể làm được.
Song, trên thực tế lại chưa có một hệ thống bài tập cụ thể nào ở địa phương
bàn sâu và cung cấp các dạng bài tập cụ thể cho giáo viên trực tiếp giảng dạy
phân môn chính tả.
Là giáo viên trẻ có nhiều năm được giao chủ nhiệm và trực tiếp giảng dạy
học sinh lớp 4, tôi đã luôn trăn trở: “Làm thế nào để khắc phục lỗi chính tả
phương ngữ cho học sinh lớp 4?”. Sau nhiều năm nghiên cứu, học hỏi kinh
nghiệm của đồng nghiệp tôi đã tiến hành xây dựng hệ thống bài tập thay thế cho
các bài tập chính tả lựa chọn cho phân môn chính tả lớp 4. Vì những lí do trên,
tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho
học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Thành Kim huyện Thạch Thành tỉnh
Thanh Hóa ”. Rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp và các cấp quản lí
giáo dục!
2. Mục đích nghiên cứu:
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất
để thể hiện tư duy. Vì thế mà Tiếng Việt không chỉ là phương tiện nhận thức, tư
duy, giao tiếp giữa mọi người trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày mà nó còn là
một công cụ để học tập, nghiên cứu,…Đối với học sinh Tiểu học cũng vây,
3
Tiếng Việt giúp các em vui chơi, học tập và giao tiếp. Ngược lại, trong môi
trường học tập các em lại được học những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt một cách
thành thạo, đúng quy chuẩn. Điều này góp phần giúp các em nói đúng, viết đúng
và sử dụng đúng Tiếng Việt trong mỗi văn cảnh cụ thể. Mà khi các em đã biết sử
dụng đúng ngữ pháp Tiếng Việt thì các em mới cảm nhận hết được cái hay, cái
đẹp của Tiếng Việt. Trong phạm vi đề tài này, tôi muốn xây dựng được một hệ
thống các bài tập chính tả thay thế cho các bài tập chính tả lựa chọn trong
đẹp thì yêu cầu dạy cho học sinh viết đúng rất quan trọng. Muốn làm được điều
đó, giáo viên phải nắm được những nguyên tắc chính tả Tiếng Việt sau:
+ Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực: Nghĩa là nội dung giảng dạy về
chính tả phải sát với phương ngữ.
+ Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức. Trong
nhà trường, giáo viên cần sử dụng và khai thác tối đa phương pháp có ý thức.
4
Muốn vậy, giáo viên cần phải được trang bị những kiến thức về ngữ âm học, về
từ vựng – ngữ nghĩa học liên quan đến chính tả.
+ Nguyên tắc phối hợp giữa biện pháp tích cực với biện pháp tiêu cực 9 xây
dựng cái đúng, loại bỏ cái sai). Đối với học sinh Tiểu học có ba loại lỗi cơ bản
sau:
- Lỗi chính tả do không nắm được trình tự.
- Lỗi chính tả do không nắm được cấu trúc Tiếng Việt.
- Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm địa phương.
Việc dạy cho học sinh viết đúng chính tả, đặc biệt là dạy cho các em nắm
vững nguyên tắc chính tả để thay cho cách viết theo phương ngữ lại càng khó.
Trong khi đó chính tả tiếng Việt lại đang còn một số hạn chế như:
- Để ghi một âm lại dùng nhiều con chữ khác nhau. Ví dụ: Ghi âm /k/ dùng 3
con chữ (c, k, q),..
- Chữ viết còn chưa tốt do những qui định tuỳ tiện. Ví dụ: cách viết “i”, “y”,..
- Nhiều vần còn chưa hợp lí: nhiều khi cùng một vần nhưng lại viết bằng
những cách khác nhau. Ví dụ: ia/iê, ua/uô, ưa/uô,…
Từ xa xưa, dân tộc ta đã có truyền thống quý trọng, giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt và đề cao cái hay cái đẹp trong lời ăn tiếng nói. Những phẩm chất cao
đẹp trong lời ăn tiếng nói được đánh giá như những tiêu chuẩn thẩm mĩ, đồng
thời như là giá trị đạo đức con người. Do đó mà việc bảo về tiếng nói, chữ viết
trạng học sinh của địa phương mà soạn những bài tập thay thế phù hợp. Song
trên thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các giáo viên vẫn dạy theo chương trình đã
được biên soạn sẵn như trong sách giáo khoa, mà chưa dành thời gian nghiên
cứu, tìm tòi để xây dựng hệ thống bài tập thay thế. Như vậy, việc xây dựng
chương trình theo hướng mở sẽ không hề có hiệu quả. Học sinh viết sai chính tả
do phương ngữ, do chưa nắm vững quy tắc chính tả thì vẫn sai, các bài tập trong
chương trình thì không mang lại hiệu quả gì cho học sinh. Bởi vì, trên địa bàn
Thạch Thành học sinh không hoặc có chăng cũng rất hạn hữu mắc các lỗi chính
tả như: có âm đầu l/n; có vần uôn/uông; ât/âc; an/ang,… Mà lỗi chính tả cơ bản
của các em thường mắc do cách phát âm địa phương là các tiếng có thanh hỏi,
thanh ngã, các tiếng có nguyên âm đôi,.. hay những lỗi phổ biến do các em
không nắm được quy tắc chính tả như: r/ d /gi, s/x, ch/tr, c/q, g/gh, ng/ngh…
hay cách viết hoa tên riêng, tên tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… do
các cụm từ biểu thị như: Bộ giáo dục, Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ ngoại giao,
Bộ trưởng bộ Ngoại giao, Trường Đại học Hồng Đức,… Trong chương trình
Tiếng Việt lớp 4, phân môn Luyện từ và câu (tuần 7) có dành 2 bài/2 tiết cung
cấp cho học sinh: Cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam. Sang tuần 8 có 1
bài/1tiết cung cấp cho học sinh kiến thức: Cách viết tên người, tên địa lí nước
ngoài. Song theo tôi với thời lượng như vậy là quá ít, không đủ để học sinh với
năng lực hoàn thành có thể nắm bắt được.
Mặt khác, mục đích của việc dạy chính tả là hình thành cho học sinh kĩ năng
viết thông thạo tiếng Việt theo các chuẩn chính tả. tức là giáo viên phải rèn cho
học sinh viết chính tả một cách tự động hoá, khi viết các em không cần phải
trực tiếp nhớ đến các quy tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của lí trí.
Là một giáo viên, nhiều năm liền trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 4,
tôi nắm rất kĩ những vướng mắc của học sinh khi viết sai chính tả. Cụ thể, đầu
năm học 2014 – 2015 có những bài chính tả viết sai lỗi như sau:
6
Bụi đường và ánh nắng bốc lên đỏ xuộm. Trong l... bụi, mờ mờ thấy những h...
cơm, quán nước.
Theo Tô Hoài
c, Điền tiếng có vần ât hoặc âc để tạo từ ngữ đúng:
… ngủ
… đèn
… đống
… vả
lật …
… chội
quả…
… thang
d, Điền vào chỗ trống vần ut hoặc uc để hoàn chỉnh đoạn thơ:
Tiếng nhạc v... lên cao
Bé lắc người theo nhịp
Tr... ngoài vườn xào xạc
Nước trong hồ xôn xao.
Hoàng Trang
Bài 2:
a, Điền vào chỗ trống r, d hay gi để hoàn chỉnh truyện sau:
Hai chú bé đang …ủ …ỉ trò chuyện:
- Mẹ cậu là cô …áo mà cậu chẳng biết viết một …òng chữ nào!
- Thế sao cha cậu là bác sĩ …ăng mà em cậu lại không có cái nào?
Theo Trần Mạnh Thường
b, Đặt thanh hỏi hoặc thanh ngã trên các chữ in đậm để hoàn chỉnh đoạn thơ:
Thấy anh mơ sách học
Em lâm châm đến bên
8
2,6%
Bài 2:
Lỗi/
r/d/gi
thanh hỏi/
s/x
ch/tr
Ghi chú
HS
thanh ngã
78
SL TL
SL TL
SL TL
SL TL
em
41 52,6% 52 66,7% 58 74,4% 59 75,6%
Nhìn vào bảng kết quả khảo sát trên, tôi nhận thấy học sinh khối lớp 4
trường Tiểu học Thành Kim không viết sai cặp phụ âm l/n nhiều ( cá biệt có 2
học sinh mắc lỗi là do các em nói ngọng). Các cặp vần an/ang, ât/âc, ut/uc sô
học sinh viết sai cũng rất ít, nguyên nhân là những học sinh này không suy nghĩ
kĩ khi làm bài. Nên đến khi giáo viên hỏi các em lại biết đưa ra đáp án đúng.
Ngược lại, số lượng học sinh viết sai các cặp phụ âm: r/d/gi, thanh hỏi
/thanh ngã, s/x, ch/tr còn sai rất nhiều. Mặc dù trong chương trình sách giáo
khoa Tiếng Việt, phần bài tập chính tả cũng có hệ thống bài tập tương đối phong
phú giúp học sinh được thực hành để nắm chắc cách viết các phụ âm này. Tuy
nhiên, đa số học sinh ở mức độ hoàn thành cũng chưa nắm được các luật chính
tả này. Ngoài ra trong quá trình giảng day, tôi còn thống kê thêm một số lỗi
chính tả học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thành Kim thường nhầm lẫn như:
ng/ngh, g/gh, oc/ooc, iu/uyu.
Tuần 22
Tuần 26
phân biệt l/n, an/ang
phân biệt l/n,uôn/uông
phân biệt ât/âc
phân biệt ât/âc
phân biệt l/n, ât/âc
phân biệt l/n, ut/uc
phân biệt l/n, in/inh
Nội dung thay thế
phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã
phân biệt ch/tr
phân biệt r/d/gi
phân biệt r/d/gi
phân biệt s/x
phân biệt s/x, ch/tr, iu/uyu
phân biệt ng/ngh, g/gh, oc/ooc
3.2. Xây dựng hệ thống bài tập thay thế cho những bài tập chính tả lựa
chọn và cung cấp, mở rộngcác quy tắc chính tả:
(Hệ thống bài tập và quy tắc chính tả này tôi đã biên soạn và hướng dẫn cho
các giáo viên trong khối 4 cùng thực hiện ).
*Tuần 1: Bài tập thay thế là:
Bài tập: Em hãy điền thanh hỏi hoặc thanh ngã trên các chữ in đậm để hoàn
chỉnh truyện sau:
Có một người nôi tiếng bun xin. Một hôm, anh ta có khách.Gà, vịt, ngan,
ngông thì đầy sân, nhưng chu thì luôn miệng than là chăng có gì đai khách.
Đến trưa, vẫn chăng thấy động tinh gì dưới bếp, người khách nói: “ Thôi bác
+ Chữ tr không đứng trước các tiếng có âm đệm ( oa, oă, oe, uê, oo, eng, en).
Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.
Ví dụ 1:
10
- choa đèn, chóa lòa, sáng chóa, vỡ choang, choàng dậy, choáng ngợp, chếnh
choáng, chăn choắt, choảnh chọe, bảnh chọe, vàng chóe, …
- chòong khoan, đục chòong, nện chòong,...
- cheng cheng, chập cheng, cá chẻng, chẹn cổ, chẹn đường, ăn chẹn,...
- chuệch choạng, ...
+ Những từ Hán Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thường có âm đầu tr. Do
đó nếu gặp các từ này ta chọn tr để viết, không chọn ch.
Ví dụ 2:
- quảng trường, trường đấu, Trường Giang, can trường, trọng án, trọng tâm,
trang trại, cao trào, trào dâng, trì hoãn, trì trệ,...
+ Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên
các hoạt động, chỉ quan hệ của những người trong gia đình và những từ mang ý
nghĩa phủ định thường có âm đầu ch.
Ví dụ 3:
- chăn, chiếu, chén, chạn, chảo,… chuối, chanh, chôm chôm, … cháo, chè, chả,
… chạy, chặt, chẻ,… cha, chú, chị, cháu, chắt,… chớ, chưa,…
+ Một số từ có thể thay âm đầu tr bằng âm đầu gi.
Ví dụ 4:
- trồng - giồng, trời - giời, trầu - giầu, trăng – giăng,…
+ Cả tr và ch đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp từ láy âm đầu thì ta có thể chọn
cả hai tiếng cùng có âm đầu ch hoặc ch.
Ví dụ: chông chênh, chen chúc, chăm chỉ,..tròn trĩnh, trùng trục, trăn trở,…
+ Trong các từ láy vần chỉ có tiếng có âm đầu ch ( trừ một số trương hợp đặc
Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia,…du dương, do thám, dư dật,..
- Trong cấu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả gi, d, r đều có từ láy âm. Nếu gặp từ láy âm thì có thể chọn cả hai
tiếng cúng có âm đầu gi, r hoặc d.
Ví dụ: giãy giụa, giành giật, giục giã, già giặn,…dai dẳng, dào dạt, dập dìu, …
ríu rít, ra rả, rì rào, réo rắt, run rẩy,…
+Láy vần: Tiếng có d thường láy với tiếng có l; tiếng có r thường láy với tiếng
có b, c; Tiếng có gi thường láy với tiếng có n.
Ví dụ: lim dim, lò dò, lai dai,…bịn rịn, cập rập, co ro, cò rò, bủn rủn, gian nan,
gieo neo, giãy nãy.
- Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d và gi. Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và
tiếng âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r
và âm đầu gi.
Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận
dữ, gian dối, giận dỗi, giao duyên,….
*Tuần 16:
Bài tập: Điền vào chỗ trống tiếng chứa âm đầu r, d hoặc gi để hoàn chỉnh
đoạn văn sau:
Sang ngày 24 tháng chạp, chợ Bưởi mới … thật đông vui. Người ta chen
nhau vào chợ … súc, … cầm. Ai cũng muốn mua … ba con gà. Ít … thì cũng
phải có lấy một chú trống choai để cúng … thừa.
* Tuần 17:
Bài tập: Điền vào chỗ trống s hay x:
a) Người hái củi van vỉ …in cây cho một nhánh nhỏ. Cây tốt bụng cho ngay.
Người đó liền lấy ngay nhành cây ấy làm cán rìu và đốn luôn cây. Chỉ đến lúc bị
ngã …uống, cây mới thật …ự hối hân. Nó thốt lên: “Tại …ao mình lại ngu …i
đến thế, cấp cho người ta chính cái để hại mình!”
b) Vừa đánh vừa ...oa
tóc ...oăn
làm không ...uể
chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu s hoặc x.
Ví dụ: xệu xạo, xềnh xệch, xềnh xoàng, sậm sịch, sặc sụa, sèn sẹt, sắc sảo, suy
suyễn, sục sạo, sung sướng, số sàng, sáng sủa, sôi sục, suồng sã, sường sượng,
… xao xuyến, xôn xao, xì xào, xí xoá, xấp xỉ, xồm xộp, ...
+ Láy vần: Tiếng có x thường láy với tiếng có l, trừ một số trường hợp: lụp sụp,
lè sè, sinh linh, sáng láng. Do đó nếu gặp láy vần thì ta chọn tiếng chứa âm đầu
x.
Ví dụ: lao xao, lăng xăng, lì xì, lếch xếch, lỉnh xỉnh, liểng xiểng, loăn xoăn, loà
xoà, lộn xộn, lao xao, xoi mói, xích mích, loảng xoảng, lộc xộc, lúp xúp, lười
xười, lăng xa lăng xăng,...
*Tuần 22:
Bài tập: Điền vào chỗ chấm:
a, Tiếng chứa âm đầu s hay x để hoàn chỉnh đoạn thơ sau:
Mùa … chia cho bé
Chiếc kẹo bi tròn …
Và mở trang … mới
Rủ bé cùng … tranh.
Ý Nhi
b, Tiếng chứa ch hay tr để hoàn chỉnh đoạn thơ sau:
Thăm thẳm … xanh lộng đáy hồ
Mùi hoa thiên lí thoảng … thu
Con cò bay lả … câu hát
Giấc … say dài nhịp võng ru.
Nguyễn Bính
c, Vần iu hay uyu:
- bận b…
- r… rít
- khúc kh…
- n… kéo
- ngã kh...
- đàn ... - gan
- moi m...
- rơ – m...
- đàn ắc – c...
- đầu ...
Sau bài tập giáo viên lưu ý học sinh:
Vần oc và vần ooc là hai vần khác nhau ở âm chính o ngắn trong oc và o
dài trong ooc. Khi có hai chữ o ta đọc dài hơn. Khi viết chú ý nghe đọc phân
biệt hai vần này. Vần ooc thường có trong các từ vay mượn.
3.3. Giáo viên đọc mẫu chính xác và rèn đọc đúng cho học sinh:
Việc đọc mẫu của giáo viên rất quan trọng vì đó chính là trực quan để học
sinh bắt chước. Vì vậy, để giúp học sinh viết đúng chính tả, tôi luôn rèn cho
mình thói quen đọc đúng và rèn cho học sinh phát âm chuẩn theo tiếng phổ
thông. Nhất là khi hướng dẫn học sinh viết chính tả tôi luôn luôn đề cao việc
hướng dẫn các chữ khó viết để học sinh nắm được cách viết và nghĩa của từ.
Điều này giúp học sinh có thể viết đúng từ mọi lúc, mọi nơi. Khi đọc cho học
sinh viết tôi đọc rõ ràng để học sinh dễ nghe, mặt khác tôi luôn yêu cầu học sinh
đánh vần nhẩm khi viết cho đỡ sai chính tả.
Để giúp học sinh đọc đúng, tôi luôn yêu cầu học sinh luyện đọc đúng ở tất cả
các môn học và luôn nhắc nhở học sinh có ý thức tự giác luyện viết đúng, viết
đẹp ở tất cả các môn học. Việc làm này đã được tôi thống nhất cho tất cả giáo
viên khối 4 cùng thực hiện.
3.4. Trang bị sổ tay chính tả cho học sinh:
Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là các em rất nhanh nhớ nhưng cũng
rất nhanh quên. Vì vậy, để giúp học sinh ghi nhớ lại các quy tắc, mẹo luật chính
tả hay cả những lỗi chính tả mà các em đã nhầm lẫn trong các bài viết, bài tập
chính tả, tôi đã trang bị cho mỗi học sinh một sổ tay chính tả. Quyển sổ này
được tôi thiết kế nhiều hoa văn hấp dẫn, đẹp mắt nên nó không chỉ có tác dụng
giúp các em dùng làm sổ ghi chép các từ ngữ thường viết sai chính tả đã được
chữa lại và các mẹo, luật chính tả mà còn tạo thêm hứng thú học tập cho mỗi
30, thông tư này quy định việc chấm chữa bài của giáo viên đối với bậc Tiểu học
chỉ chấm bằng nhận xét mà không chấm bằng điểm số.
Thực hiện theo thông tư 30, tôi đã hướng dẫn học sinh đổi chéo vở để kiểm
tra giúp học sinh sửa lỗi chính tả lẫn nhau. Điều này, giúp các em khắc sâu được
những lỗi chính tả của bạn và của mình. Đồng thời khi chấm bài cho học sinh,
tôi soát lỗi cẩn thận và chỉ ra tững lỗi cụ thể cả về chính tả và chữ viết. Khi trả
bài cho các em, tôi yêu cầu học sinh đọc lời nhận xét của cô và viết lại những từ
mình viết sai sau đó sửa lại vào sổ chính tả cá nhân của từng em. Việc làm này,
tôi luôn nhắc nhở và động viên các em làm thường xuyên ở tất cả các môn học,
chứ không phải riêng môn chính tả.
Đặc biệt, đối với các bài tập chính tả tôi chấm, chữa bài thường xuyên để
sửa lỗi và cung cấp thêm cho các em những quy tắc chính tả cơ bản. Biện pháp
này, được tôi thống nhất ngay từ đầu năm học trong buổi họp khối để các bạn
đồng nghiệp cùng áp dụng.
3.6. Giúp học sinh thực hành nói đúng chính tả qua giao tiếp:
Để khắc phục được lỗi chính tả cho học sinh, tôi thiết nghĩ cần phải tạo cho
các em một môi trường giao tiếp tự nhiên lành mạnh. Bởi vì, khi các em tiếp xúc
với một môi trường giao tiếp có nhiều người nói sai lỗi chính tả thì các em sẽ
cũng nói sai một cách tự nhiên vô thức. mà nói sai sẽ dẫn đến viết sai. Vì vậy mà
tôi cho rằng giáo viên cần phối hợp tốt với gia đình, cùng gia đình uốn nắn, sửa
15
lỗi cho học sinh. Từ đó, phụ huynh học sinh cũng ý thức được trong qúa trình
trò chuyện ở nhà với các em cũng cần nói chuẩn để con em mình bắt chước.
Trong các giờ học ở trường, trong tất cả các môn học tôi đều gọi những học
sinh hay mắc lỗi ra để trò chuyện và tìm hiểu nguyên nhân mà các em hay viết
sai chính tả. Từ đó tôi giúp các em luyện cách phát âm chuẩn khi nói. Việc lám
này giúp các em nhớ lâu rồi dần dần các em nói đúng rồi viết đúng.
các em, kích thích các em học tốt hơn. Bởi vì đạt được thành công trong học tập
sẽ tạo ra hứng thú và niềm say mê trong học tập ở học sinh. Chỉ có thành công,
niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi thành công mới là nguồn gốc
thật sự của sự ham muốn học hỏi.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
16
Với những biện pháp, cách làm trên, đã giúp học sinh lớp tôi trực tiếp giảng
dạy, cũng như học sinh khối lớp 4 ngày một tiến bộ cả về chữ viết cả về lỗi
chính tả.
Tháng 4 năm 2015 tôi đã xây dựng hệ thống bài tập và khảo sát lại mức độ
sai lỗi chính tả của học sinh khối lớp 4, với những bài tập phân biệt: s/x, ch/tr,
r/d/gi, thanh hỏi/thanh ngã, iu/uyu, oc/ooc. Kết quả như sau:
lỗi/
HS
s/x
ch/tr
r/d/gi
Thanh hỏi/
thanh ngã
iu/uyu
Thanh hỏi/
thanh ngã
c/k/q
iu/iêu
68
em
SL
SL
SL
SL
SL
SL
2 2.9% 3 4,4% 2 2,9% 1 1,5% 0 0% 1 1,5%
Không chỉ thế mà chất lượng chữ viết của học sinh khối lớp 4 của trường tôi
cũng được nâng cao rất nhiều. Kết quả xếp loại Giữ vở sạch, viết chữ đẹp cấp
trường như sau: Tổng số học sinh: 68 em
- Xếp loại A: 54 em = 79,4%, xếp loại B: 14 em = 20,6%. Trong đó, số học sinh
được công nhận Giữ vở sạch, viết chữ đẹp cấp huyện là: 8em. Riêng lớp tôi với
số học sinh là 22 em, xếp loại A cấp trường là: 19 em = 86,4 %; xếp loại B: 3
em = 13,6%. Số học sinh đạt danh hiệu “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”cấp huyện
là 4 em.
III. Kết luận, kiến nghị:
1. Kết luận:
Việc rèn cho học sinh Tiểu học nói chung cũng như học sinh lớp 4 nói riêng
viết đúng chính tả không phải là việc quá khó đối với giáo viên trực tiếp giảng
Như vậy để giúp học sinh của mình nói, viết đúng Tiếng Việt thì người giáo viên
cần phải có những kĩ năng Tiếng Việt thành thạo. Để làm tốt điều đó, giáo viên
cần phải xác định được những kĩ năng Tiếng Việt cần có và luyện tập cho mình
thành thục những kĩ năng này. Đặc biệt, giáo viên cần nắm vững những đặc
điểm phương ngữ ở học sinh và dự tính được những từ ngữ nào các em sẽ đọc,
viết sai do phương ngữ lệch với chuẩn chữ viết, từ đó mà định ra được các bài
tập chính tả thay thế phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Từng ngày, từng
ngày bằng tất cả tâm huyết của mình đối với nghề với những thế hệ học sinh
thân yêu, tôi tin rằng người thầy nào cũng có thể giúp học sinh của mình nói,
viết đúng chính tả Tiếng Việt một cách dễ dàng.
Hiện tại đề tài này được tôi thực hiện và ứng dụng với học sinh khối lớp 4,
thuộc địa bàn một trường trung tâm của 1 huyện miền núi, nhưng đã thu được
kết quả khả quan. Vì thế mà việc xác định lỗi chính tả theo đặc điểm phương
ngữ để xây dựng hệ thống các bài tập chính tả thay thế cho các bài tập chính tả
lựa chọn cho học sinh khối 4 cũng như học sinh các khối lớp khác là vấn đề cần
được vận dụng và có thể nhân rộng ở các địa phương, vùng, miền khác.
2. Kiến nghị:
Qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin phép được kiến nghị tới các
cấp Quản lí giáo dục những việc sau:
18
+ Cần tạo điều kiện cả tinh thần lẫn vật chất để khuyến khích giáo viên chủ
động, sáng tạo xây dựng các hệ thống bài tập thay thế phù hợp với thực tế lỗi
chính tả của học sinh trường mình, giúp khắc phục lỗi chính tả phương ngữ của
các em.
+ Tổ chức các chuyên đề về phương pháp dạy phân môn chính tả.
Trong quá trình thực hiện do điều kiện thời gian còn ít, khả năng lí luận của
bản thân, kĩ năng viết sáng kiến kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi
- Chủ biên: PGS.TS Lê Phương Nga
5. Sổ tay chính tả
6. Từ điển chính tả HS
- Tác giả: Nguyễn Như Ý
7. Phương pháp dạy học Tiếng Việt
- Tác giả: Tiến sĩ Phạm Minh Diệu
PHỤ LỤC
20
Dưới đây là một số bài viết tiêu biểu của học sinh khối lớp 4, trường Tiểu học
Thành Kim.
( Bài viết của em: Nguyễn Thị Hà Trang - Lớp 4B – Năm học 2014 - 2015)
21
( Bài viết của em: Phạm Gia Linh - Lớp 4A – Năm học: 2014 -2015)
22
( Bài viết của em: Lê Thùy trang - Lớp 4A – Năm học: 2015 -2016)
23