SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT QUAN SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÚP HỌC SINH LỚP 6 NẮM VỮNG DẤU HIỆU CHIA HẾT
THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÒ CHƠI
Người thực hiện: Hoàng Ngọc Thắng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Thị trấn
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Toán
THANH HÓA, NĂM 2017
Mục lục
TT
1
2
3
4
5
7
8
9
10
11
12
13
14
2.3.3 Cách thức tổ chức trò chơi toán học
2.3.4 Giới thiệu một số trò chơi đã áp dụng
Trò chơi 1
Trò chơi 2
Trò chơi 3
Trò chơi 4
Trò chơi 5
Trò chơi 6
Trò chơi 7
Trò chơi 8
Trò chơi 9
Trò chơi 10
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
2. Đề xuất kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang
1.MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Muốn học cái gì cho tốt thì sớm muộn cũng phải đạt đến sự tự giác học
tập, say sưa hứng thú học tập. Đó là những điều cơ bản đầu tiên. Nhưng tất cả
vấn đề là ở chỗ làm sao cho học sinh có được sự tự giác học tập, say sưa học tập.
Những học sinh kém toán, học bài không hiểu, làm bài không ra, thì chỉ có sợ
toán, chứ làm gì có sự say sưa học toán. Nhưng ở đời không thiếu những ví dụ
về những cái lúc đầu thì sợ, dần dần bớt sợ đi đến làm quen, cuối cùng là thích
và say mê.
các em hay bị nhầm lẫn giữa các dấu hiệu chia hết. Đặc biệt là đối tượng học
sinh yếu, kém. Bởi vậy trong quá trình dạy học và trong các buổi ngoại học tự
chọn tôi đã cung cấp thêm cho các em học sinh khá, giỏi một số dấu hiệu chia
hết khác nữa và đồng thời đã lồng ghép các trò chơi liên quan đến dấu hiệu chia
1
hết nhằm giúp các em có thể tự tổ chức các trò chơi này nhằm giúp các em có sự
say mê môn toán và từ đó các em có thể nhớ được các dấu hiệu chia hết và vận
dụng một cách thành thạo. Do đó qua quá trình dạy học tôi đúc rút kinh nghiệm
và tôi đã chọn đề tài: “Giúp học sinh lớp 6 nắm vững dấu hiệu chia hết thông
qua việc tổ chức một số trò chơi ”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Ngiên cứu thực trạng việc dạy và học: các dấu hiệu chia hết của học sinh lớp 6
- Đề xuất, đưa ra giải pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả tốt hơn khi dạy và học về
các dấu hiệu chia hết ở lớp 6.
- Giúp học sinh có khả năng vận dụng các dấu hiệu chia hết vào giải các bài toán
trong SGK và ôn thi HSG.
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 6 trường TH&THCS Thị trấn Quan Sơn.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu SGK, SBT và các tài liệu liên quan.
- Điều tra thực trạng
- Khảo sát học sinh
- Thực nghiệm.
2
f) Nếu một thừa số của tích chia hết cho m thì tích chia hết cho m.
+ Hệ quả: Nếu a⋮m thì an⋮m (n là số tự nhiên ≠ 0).
g) Nếu a⋮m, b⋮n thì ab⋮mn
+ Hệ quả : nếu a⋮b thì an⋮bn.
h) Nếu A⋮B thì mA +nB⋮B , mA – nB⋮B.
i) Nếu một tích chia hết cho một số nguyên tố p thì tồn tại một thừa số
của tích chia hết cho p.
+ Hệ quả: nếu an⋮p (p là số nguyên tố) thì a⋮p.
j) Nếu ab⋮m, b và m, n guyên tố cùng nhau thì a⋮m.
3
k) Nếu a⋮m, a⋮n thì a⋮BCNN(m,n) .
+ Hệ quả :
- Nếu a⋮m, a⋮n, (m,n) = 1 thì a⋮mn
- Nếu a chia hết cho các số nguyên tố cùng nhau đôi một thì a
chia hết cho tích của chúng.
2.2.1.3 Bổ sung một số dấu hiệu chia hết :
Ngoài các dấu hiệu chia hết cho 2, cho 3, cho 5, cho 9 mà HS đã được
học trong chương trình SGK, cần bổ sung thêm một số dấu hiệu sau:
a) Dấu hiệu chia hết cho 4, cho 25 :
Một số chia hết cho 4 (hoặc cho25) khi và chỉ khi số đó có hai chữ số
tận cùng chia hết cho 4 ( hoặc cho 25).
b) Dấu hiệu chia hết cho 8, cho 125 :
Một số chia hết cho 8 (hoặc cho125) khi và chỉ khi số đó có ba chữ số
tận cùng chia hết cho 8 ( hoặc cho 125).
c) Dấu hiệu chia hết cho 10:
Một số chia hết cho 10 khi và chỉ khi số đó có chữ số tận cùng là 0.
d) Dấu hiệu chia hết cho 11 :
Một số chia hết cho 11 khi và chỉ khi hiệu giữa tổng các số đứng ở vị trí
Bởi vậy trong quá trình dạy học về dấu hiệu chia hết, các tiết luyện tập
đặc biệt là các tiết tự chọn tôi đã lồng ghép các trò chơi trong đó có sử dụng dấu
hiệu chia hết để gây hứng thú học tập cho các em.
Theo điều tra nghiên cứu tôi thấy số học sinh nắm vững các dấu hiệu và
sử dụng thành thạo các dấu hiệu chia hết ở các năm học như sau:
Tổng số học sinh
Số học sinh vận
Năm học
Tỉ lệ %
điều tra
dụng thành thạo
2014 – 2015
20
8
40
2015 – 2016
20
10
50
Qua kết quả trên tôi nhận thấy rằng chất lượng học tập của các em còn
thấp, số lượng học sinh biết vận dụng thành thạo dấu hiệu vào làm toán còn ít.
Trong giờ học các em chưa thật sự tập trung vào việc học, nắm kiến thức còn
Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục.
2.3.3 Cách thức tổ chức trò chơi trong dạy học toán:
2.3.3.1 Thiết kế trò chơi:
-Trò chơi phải phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với tâm sinh lí học
sinh.
-Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
-Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo
-Trò chơi phải gây được hứng thú cho học sinh
2.3.3.2 Cấu trúc của trò chơi:
- Tên trò chơi
- Mục đích
- Phương tiện, đồ dùng được sử dụng trong trò chơi.
- Nêu luật chơi.
- Số HS tham gia chơi
- Nêu lên cách chơi, nếu cần có thể chơi thử
- Phần thưởng cho đội thắng, phạt đội thua như thế nào.
2.3.3.3 Cách tổ chức trò chơi:
Thời gian tiến hành thường từ 5 đến 7 phút
- Giới thiệu trò chơi:
+ Nêu tên trò chơi
+ Hướng dẫn cách chơi, nêu luật chơi
- Tiến hành chơi
- Nhận xét
- Thưởng- phạt: Chú ý hình phạt làm sao vẫn tạo ra hứng thú và không khí vui
vẻ cho học sinh.
2.3.4 Giới thiệu một số trò chơi đã áp dụng:
Trong quá trình giảng dạy lớp 6 ở các năm 2015-2016 và năm học 20162017 trong quá trình dạy học về dấu hiệu chia hết, các tiết luyện tập đặc biệt là
các tiết tự chọn tôi đã lồng ghép các trò chơi trong đó có sử dụng dấu hiệu chia
hết để gây hứng thú học tập cho các em. Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò
chơi mà tôi đã áp dụng:
không. Khi đội 2 viết chữ số cuối cùng của mình thì đội 1 nhận được một số có
4 chữ số. Để tìm số thứ 5 đội 1 cộng các chữ số từ số có 4 chữ số đem chia cho
3. Kết quả thu được sau phép chia có số dư là r, thì số cần viết thêm của đội 1 là
3- r hoặc 6- r hoặc 9- r.
Ví dụ: Chẳng hạn cần viết số abcde .
Đội 1 lấy một số bất kì viết trước chẳng hạn số 1.
Đội 2 lấy số 4 sẽ được số 14cde
Đội 1 viết tiếp số 3. Vậy ta có số 143de .
Đội 2 viết tiếp số 8 . Khi đó đội 1 có số 1438e . Đồng thời đội 1 nhẩm 1 +
4 + 3 +8 = 16. Ta có 16 chia 3 được dư là 1. Vậy số mà đội 1 cần viết vào đó là
số : 3 – 1 = 2 hoặc 6 – 1 = 5 hoặc 9 – 1 = 8. Vậy đội 1 có 3 phương án viết số
cuối cùng.
Giáo viên có thể cho học sinh cả lớp cùng chơi, cứ 2 bạn làm một đội để
chơi trò chơi trên nhưng là viết được số có 5 chữ số sao cho số đó chia hết cho 9.
Nhưng trước khi chơi giáo viên cho các em bắt thăm để chọn đội viết trước. Và
sau đó giáo viên họp các đội chơi có nước đi trước lại và mách mẹo đi cho các
em. Và sau đó giáo viên họp các đội chơi có nước đi trước lại và mách mẹo đi
7
cho các em. Sau khi học sinh tiến hành chơi xong giáo viên cho nhóm tập hợp
lại và công bố cách chơi cho các em cùng biết để các em có thể về nhà chơi với
các bạn khác lớp hoặc với anh chị trong gia đình.
Như vậy qua trò chơi này giúp các em cũng cố dấu hiệu chia hết cho 3:
“Các số có tổng các chữ số chia hết cho 3 thì chia hết cho 3 và chỉ những
số đó mới chia hết cho 3”
Chú ý: Giáo viên có thể linh động từ trò chơi trên ta có thể tạo ra một số
trò chơi tương tự như thông qua việc thay đổi yêu cầu của trò chơi ví như từ việc
thành một số có 5 chữ số chia hết cho 3 ta có thể yêu cầu thàn một số có 5 chữ
số chia hết cho 4, 7, 9, 11, 13,... Hoặc từ việc viết thành một số có 5 chữ số ta
với các bạn khác lớp hoặc với anh chị trong gia đình.
Qua trò chơi này giáo viên có thể lấy một ví dụ về sự sáng tạo từ trò chơi trên
cho học sinh biết. Đội 1 và đội 2 tiến hành chơi với 65 viên sỏi. Một nước đi là
8
lấy khỏi đống 1 hoặc 2 viên sỏi. Đội 1 đi trước, đội 2 đi sau và thay phiên nhau.
Đội nào lấy được số viên sỏi cuối cùng thì đội đó dành phần thắng. Ở trò chơi
này học sinh phải sử dụng dấu hiệu chia hết cho 3 để làm.
Trò chơi 5: Trên bàn có 100 que diêm, hai người lần lượt bốc. Nhiều nhất
3 que, ít nhất 1 que. Ai bốc được que cuối cùng thì thua cuộc. Để chắc thắng ta
chơi thế nào?
Tương tự như trên, nhưng vì bốc que cuối cùng thì thua, tức là ta phải bốc
được que thứ 99 mới thắng cuộc, nên ta giả sử chỉ có 99 que. Lấy 99 chia 4 ta
thấy dư 3. Nên giành quyền bốc trước và bốc ngay 3 que, sau đó ta bốc số que
bằng hịêu của 4 với số kia người kia vừa bốc. Tổng số que mỗi lượt bốc: 1+ 3
=4.
Trò chơi 6: Giáo viên là một đội (đội 1) và yêu cầu nhóm cử 5 bạn xuất
sắc nhất làm một đội (đội 2) để chơi với đội 1.
Trong một chiếc hộp có 15 viên bi xanh và trong một hộp khác có 12 viên bi đỏ.
Đội 1 và đội 2 cùng chơi, trong mỗi lượt đi, mỗi đội buộc lấy đi 3 viên bi xanh
hoặc 2 viên bi đỏ. Đội thắng cuộc là đội lấy được những viên bi cuối cùng. Đội
1 muốn thắng cuộc phải có đấu pháp thế nào cho hợp lí.
Lời giải:
Đội 1 trong lượt chơi đầu tiên, cần lấy ra 2 viên bi đỏ từ hộp thứ 2, và sau
bước này thì tỉ lệ giữa bi xanh và bi đỏ là 15 : 10 = 3 :2.
Nếu lúc ấy, đội 2 lấy 3 viên bi xanh từ hộp thứ nhất hoặc 2 bi đỏ từ hộp thứ hai
thì người thứ nhất phải lấy ngược lại ở bước tiếp theo, 2 viên bi đỏ ở hộp thứ hai
hoặc 3 viên bi xanh ở hộp thứ nhất để đảm bảo sự bất biến của tỉ lệ 3: 2 đến
cuộc chơi.Và cuối cùng đến lượt đội 2 lấy thì còn lại 3 bi xanh ở hộp thứ nhất và
a). Chia hết cho 9.
b). Chia hết cho 3 mà không chia hết cho 9
Hướng dẫn:
Trong 4 chữ số 7; 3; 2; 0 có ba chữ số có tổng chia hết cho 9 là 7; 2; 0.
Vậy các số lập được là: 720; 270; 207; 702
Trong 4 chữ số 7; 3; 2; 0 có ba chữ số có tổng chia hết cho 3 mà không
chia hết cho 9 là 7; 3; 2. Vậy các số lập được là: 723; 732; 273; 327; 273; 237.
Trò chơi 9:
Giáo viên cho một số số trên bảng yêu cầu học sinh ở các nhóm quan sát
nhanh và cho nhận xét khi yêu cầu tìm các số chia cho 9 dư 1; chia 9 dư 2; vv…
học sinh quan sát nhanh và đọc các số đó, đại diện nhóm ghi lên bảng. Kết thúc
trò chơi nhóm nào ghi được nhiều số sẽ thắng.
Ví dụ: Cho các số 123; 1536; 468; 1546; 827; 1543; 546; 1568; 3765;
13
10 . Hãy tìm số dư khi chia mỗi số trên cho 9
Hướng dẫn:
Số chia cho 9 dư 1 là 1013.
Số chia cho 9 dư 2 là 1568.
Số chia cho 9 dư 3 là 3765.
Số chia cho 9 dư 4 là 1543.
Số chia cho 9 dư 5 là 546
Số chia cho 9 dư 6 là 213; 1536.
Số chia cho 9 dư 7 là 1546.
Số chia cho 9 dư 8 là 827.
Số chia cho 9 dư 0 là 468.
Trò chơi 10: (trò chơi tổng hợp cho các dấu hiệu cơ bản).
Một mảnh giấy được xé thành năm mảnh: một số trong số 5 mảnh nhỏ
này lại được xé thành 5 mảnh nhỏ nữa và một số trong các mảnh nhỏ này lại
được xé tiếp thành 5 mảnh, ... Vậy, nếu cứ liên tiếp xé như vậy thì có khi nào ta
được 2016 mảnh giấy hay không? Được 2017 mảnh giấy hay không?
cứu
các trò chơi trong các trò chơi trong
tiết học
tiết học
2015-2016 20
8
12
2016-2017 20
10
14
Trên đây là những suy nghĩ và việc làm mà tôi đã thực hiện ở các lớp mà
tôi đã giảng dạy đã có những kết quả đáng kể đối với học sinh.
Qua việc tổ chức trò chơi cho học sinh điều tôi nhận thấy ở học sinh đầu
tiên là việc các em hào hứng đón nhận. Các em không còn cảm thấy khó khăn
khi gặp các dạng toán về dấu hiệu chia hết như tôi đó trình bày ở phần thực
trang nữa.
Những kết quả trên đây cùng với những kết quả định tính khi thăm dò,
điều tra từ học sinh tôi mạnh dạn khẳng định những giải pháp mà đề tài đưa ra
là hoàn toàn khả thi và có thể áp dụng hiệu quả trong quá trình dạy học nói
chung, bồi dưỡng học sinh khá giỏi nói riêng.
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1 Kết luận:
Trò chơi trong học tập là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tác
dụng trong các giờ học. Nó tạo ra không khí vui tươi, hồn nhiên, sinh động trong
giờ học, tránh được sự khô khan trong dạy học môn toán. Với kinh nghiệm
nhiều năm giảng dạy bộ môn toán 6, qua áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy tôi
11
Tôi xin cam đoan đây là sáng
kiến kinh nghiệm của mình không
sao chép nội dung người khác
Người viết:
Hoàng Ngọc Thắng
12