SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MÔN TIN HỌC 6 Ở TRƯỜNG THCS TRẦN MAI NINH
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Thúy Vân
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN môn:
Tin học
THANH HOÁ NĂM 2016
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỤC LỤC
1
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
4
2. Khó khăn
4
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Biện pháp sử dụng các thiết bị vật lí máy tính để mô tả
trực quan
2. Biện pháp thiết kế bài giảng điện tử để mô phỏng các quá
trình, kiến thức bài học
3. Biện pháp “Bàn tay nặn bột”
4. Biện pháp chia đối tượng học sinh
5. Biện pháp kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá
của học sinh
IV. KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
4
9
11
13
14
15
15
1. Kết quả
16
2. Bài học kinh nghiệm
cấp THCS, giúp các em tìm kiếm được kiến thức và kỹ năng mới, bài tập thực
hành tin học là công cụ hữu hiệu để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh.
Giúp giáo viên phát hiện được trình độ của học sinh, làm bộc lộ những khó khăn
sai lầm của học sinh trong học tập tin học. Đồng thời có biện pháp giúp các em
mở mang kiến thức, giáo dục tư tưởng đạo đức, kỹ năng cho học sinh ngay từ
những ngày đầu tiên. Như vậy thông qua môn Tin học 6 học sinh được rèn về
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, về đạo đức và tư duy thực hành, từ đó gây hứng thú
học tập và nghiên cứu bộ môn đối với học sinh trong những năm tiếp theo.
Qua các năm giảng dạy, tôi nhận thấy bộ môn Tin học là một bộ môn mới
ở trường THCS, các trường THCS trên địa bàn hầu như coi Tin học chỉ là môn
học tự chọn và chưa được quan tâm đến vì nhiều lí do khách quan. Trong dạy
học môn tin, tôi nhận thấy nếu có một phương pháp tốt sẽ rất dễ gây hứng thú
cho học sinh vì học sinh luôn muốn học những điều mới lạ, học sinh rất thích
làm quen và khám phá máy tính, có thể nhận thấy đây là một điều kiện thuận lợi
cho giáo viên. Tuy nhiên với chương trình tin học đòi hỏi sự linh hoạt rất cao
của các giáo viên, sự nhạy bén, tư duy có sự quan sát và sáng tạo và kỹ năng sử
dụng máy tính của học sinh để giải quết vấn đề. Vì vậy đòi hỏi phải tìm ra
phương pháp giảng dạy để học sinh dễ hiểu, dễ dàng tìm được sự móc nối giữa
các kiến thức, kỹ năng thực hành, như học sinh ở trường THCS Trần Mai Ninh.
Với những lí do như trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng môn Tin học 6 ở trường THCS Trần Mai Ninh”.
3
2. Mục đích nghiên cứu:
Xác định cơ sở thực tiễn của một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo
dục đổi mới phương pháp dạy học – lấy người học làm trung tâm.
Tìm ra những phương pháp mới dựa trên cơ sở khoa học để truyền thụ kiến
thức cho học sinh thêm sinh động và thực tế hơn, đặc biệt đối với chương trình Tin
học là phần kiến thức mới và trừu tượng đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy, sáng
4
PHẦN 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Công nghệ thông tin là một trong các phương tiện quan trọng nhất của sự
phát triển, đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục
của thế giới hiện đại, trong đó có Việt Nam. Chúng ta đang ở thời đại thông tin
kĩ thuật số, thời đại Internet. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương chính
sách đầu tư và phát triển về ứng dụng công nghệ thông tin như:
- Chỉ thị số 58-CT/TW của bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã chỉ rõ: “Ứng
dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách
phát triển so với các nước đi trước”.
- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng
dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục đã chỉ rõ: Nâng cao nhận
thức về vai trò của CNTT; ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào
tạo sẽ tạo một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương
trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục.
Phấn đấu thực hiện các mục tiêu cụ thể của ngành là: Tổ chức tốt việc dạy
và học tin học ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học nhằm phổ cập tin học
trong nhà trường,...
Đặc trưng của môn Tin học là khoa học gắn liền với công nghệ, do vậy
dạy học Tin học một mặt trang bị cho học sinh kiến thức khoa học về Tin học,
phát triển tư duy thuật toán, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề, mặt khác phải
chú trọng đến rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng, tạo mọi điều kiện để học
sinh được thực hành, nắm bắt và tiếp cận những công nghệ mới của Tin học
phục vụ học tập và đời sống. Nội dung chương trình của môn Tin học hiện hành
ở các trường phổ thông đã đáp ứng được những yêu cầu trên.
Để đạt được mục đích dạy học của mỗi bài học đó là niềm trăn trở của mỗi
người làm nghề dạy học: để làm được điều đó mỗi giáo viên đều có một cách truyền
thụ phương pháp riêng, nhưng điều quan trọng đầu tiên là làm thể nào để học sinh
hào hứng trong mỗi tiết giảng, từ đó yêu thích môn học của mình, say mê học tập
nghiên cứu, sáng tạo.... Dưới đây là một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Tin
học 6 ở trường THCS Trần Mai Ninh.
1. Biện pháp sử dụng các thiết bị vật lí máy tính để mô tả trực quan:
Tin học là một môn không chỉ học kiến thức khoa học về Tin học mà còn
gắn liền với kỹ năng sử dụng thiết bị là máy tính. Máy tính là công cụ không thể
6
thiếu được của tin học. Do vậy để đạt được kiến thức cũng như kỹ năng sử dụng
thiết bị là máy tính, chúng ta phải làm chủ được thiết bị này.
Khi dạy bài 4 “Máy tính và phần mềm máy tính”, nếu chỉ giới thiệu về
cấu trúc máy tính theo sách giáo khoa thì học sinh rất mơ hồ và trừu tượng về
máy tính không biết hình thù máy tính, các thiết bị như thế nào, nhất là khi giáo
viên thực hiện phương pháp dạy học mới, phương pháp “Lấy học sinh làm trung
tâm”. Đối với bài học này, giáo viên có thể đưa ra sơ đồ cấu trúc máy tính dưới
đây:
Bộ nhớ ngoài
Bộ xử lí trung tâm
Bộ điều khiển
Bộ số học/logic
Thiết bị vào
Thiết bị ra
Bộ nhớ trong
CPU
Nguồn máy tính
(Các thiết bị được lắp trong vỏ máy)
8
Khi dạy bài học này giáo viên có thể hỏi học sinh một số câu hỏi như sau:
Câu hỏi 1: CPU là gì? Tầm quan trọng của CPU như thế nào? Em biết các
hãng sản xuất CPU hiện nay không?
Tất nhiên là học sinh sẽ trả lời như khái niệm trong sách giáo khoa: CPU là
bộ xử lí trung tâm có thể được coi là bộ não của máy tính. CPU thực hiện các chức
năng tính toán, điều khiển và phối hợp mọi hoạt động của máy tính theo sự chỉ dẫn
của chương trình. Các hãng sản xuất CPU như Intel, AMD, IBM.
Theo kiểu trả lời này thì học sinh chưa thực sự hiểu biết về CPU, càng
mang tính học vẹt. Nhiệm vụ của giáo viên là phải diễn giải thêm cho học sinh
để học sinh nắm vững hơn khái niệm CPU, nhưng chỉ diễn giải và mô tả bằng
hình ảnh trong sách giáo khoa thì học sinh càng khó nắm bắt được kiến thức về
CPU. Vậy ta có thể lấy một chiếc CPU nào đó (CPU hỏng) để cho học sinh quan
sát trực quan không? Thực tế tôi đã lấy vài chiếc CPU cho học sinh quan sát, kết
quả là học sinh rất chăm chú và đặt ra rất nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề này.
CPU (Bộ xử lý trung tâm)
Có nhiều người gọi mỗi case (hộp thân máy) máy tính này là một CPU điều đó
đúng hay sai?
Nếu như học sinh không được tận mắt nhìn thấy một chiếc CPU thì ta sẽ
HDD
Bộ nhớ ngoài
Trả lời câu hỏi trên phải là “Bộ nhớ trong được dùng để lưu chương trình
và dữ liệu trong quá trình máy tính làm việc còn Bộ nhớ ngoài thì lưu trữ lâu
dài dữ liệu và chương trình”.
Như vậy, đối với bài học này, nếu chỉ quan sát hình ảnh trong sách giáo
khoa thì học sinh sẽ rất khó hình dung ra các bộ phận đó như thế nào. Chính vì
thế tôi đã sử dụng các thiết bị vật lí máy tính để mô tả trực quan giúp học sinh
tiếp thu bài tốt hơn.
2. Biện pháp thiết kế bài giảng điện tử để mô phỏng các quá trình, kiến thức
bài học:
Để đạt được mục đích, yêu cầu của bài dạy theo đúng chuẩn kiến thức kỹ
năng của môn học là việc mà tất cả các nhà giáo đặc biệt là những người đang trực
tiếp đứng trên bục giảng trăn trở với từng trang giáo án, làm sao để học sinh hiểu
được nội dung của bài học, hiểu được những kiến thức mà thầy cô muốn truyền tải
đến học trò của mình. Việc đơn giản hóa kiến thức như: ít trừu tượng, ít phải tư
duy... để học sinh dễ hiểu và vận dụng ngay được kiến thức bài học.
Với bộ môn Tin học không chỉ yêu cầu học sinh nắm được kiến thức môn
học, mà còn có kỹ năng trong thực hành, vì vậy thiết kế bài giảng điện tử đã giải
quyết được phần nào yêu cầu truyền đạt kiến thức cho học sinh.
Trong môn Tin học 6 có nhiều bài sử dụng giáo án điện tử để giảng dạy
đem lại sự hứng thú học cho học sinh và đã đạt kết quả cao trong sự tiếp thu bài
của học sinh.
Ví dụ 1: Khi học bài các thao tác với tệp tin văn bản. Giáo viên dạy phần
lưu văn bản, mở văn bản. Khi học lý thuyết để học sinh hiểu và làm được thì các
11
thao tác phải được hướng dẫn tập trung ngay trên máy, học sinh phải thực hành
đối tượng học sinh và tiến hành giảng dạy ngay tại phòng máy tính của nhà trường.
Qua mỗi bước, mỗi thao tác giới thiệu cho học sinh, tiến hành cho học
sinh thực hành ngay tại chỗ để học sinh cảm nhận được thực tế của kiến thức
bằng cách: gọi một học sinh lên làm trực tiếp và chiếu lên máy chiếu, các học
sinh khác thực hiện trực tiếp trên máy tại vị trí ngồi của mình. Sau khi thực hiện
thao tác xong tất cả các học sinh lại chú ý lên bảng để đến với nội dung tiếp theo
của bài. Như vậy học sinh vừa được nghe, vừa được thấy, vừa được làm, khi đó học
sinh sẽ khắc nghi được kiến thức đồng thời cũng rèn luyện thêm kỹ năng thực hành
cho học sinh.
13
* Trong các tiết bài tập: là các tiết không có nội dung bắt buộc tùy theo
từng bài, những tiết bài tập ôn tập nên sử dụng Violet hoặc kết hợp Violet với
PowerPoint để thiết kế tiết ôn tập đa dạng kiểu bài tập tạo không khí sinh động,
không nhàm chán, học sinh học tập tích cực trong tiết bài tập. Có thể kết hợp các
trò chơi để gây hứng thú và học tập sôi nổi hơn.
3. Biện pháp “Bàn tay nặt bột”:
"Bàn tay nặn bột" là một biện pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc
giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, trong đó có môn tin học. Đặc điểm
của lứa tuổi trung học cơ sở là đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các
kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Chính vì vậy,
việc tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời
giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực
tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.
Ví dụ khi dạy bài 8 tin học 6 – Quan sát trái đất và các vì sao trong hệ mặt
trời, tôi đã áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” như sau:
Bước 1: Tình huống xuất phát và đặt câu hỏi nêu vấn đề của toàn bài học:
có đúng không.
- Học sinh kết luận về Hệ Mặt Trời và các hiện tượng như nhật thực,
nguyệt thực, sao nào ở gần Mặt Trời hơn, Trái đất nặng bao nhiêu, nhiệt độ trung
bình trên Trái Đất là bao nhiêu độ, ...
Bài học này xuất hiện một số khái niệm mới đối với học sinh, vì vậy giáo
viên cần giải thích qua hoặc đặt câu hỏi để học sinh thảo luận về quỹ đạo, hành
tinh, hệ Mặt Trời, ... Việc sử dụng phần mềm này tôi đã để học sinh tự khám
phá, quan sát.
Như vậy, qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
trong dạy học môn Tin học tôi nhận thấy đây là một phương pháp có thể phát
huy tối đa khả năng tự học và sáng tạo của học sinh, giúp các em tự phát hiện và
giải quyết vấn đề thông qua thực hành, quan sát, nghiên cứu tài liệu. Nhờ đó học
sinh hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ, góp
phần hình thành tác phong và phương pháp làm việc của một nhà khoa học khi
các em trưởng thành.
4. Biện pháp chia đối tượng học sinh:
4.1. Với học sinh học khá bộ môn tin học:
Với học sinh có nhận thức, có tư duy tốt giáo viên tạo điều kiện cho các
em khám phá tìm hiểu sâu hơn so với yêu cầu đạt được của bộ môn. Chương
soạn thảo văn bản đây là chương hầu như chủ yếu hướng dẫn học sinh biết và sử
dụng phần mềm vào trong công việc thực tế - sách giáo khoa chỉ giới hạn những
15
kiến thức kỹ năng cơ bản để học sinh bước đầu biết về soạn thảo văn bản.
Nhưng với học sinh đã có kỹ năng sử dụng máy tính các em hầu như rất hào
hứng được khám phá với trí tò mò của mình, khi đó giáo viên có thể hướng dẫn
các em một số chức năng cao hơn chẳng hạn như: định dạng chữ to đầu dòng,
chia cột trong văn bản, chèn ảnh, ký hiệu đặc biệt, các đường nét trong bảng
biểu.... và có thể cho các em tự hướng dẫn các học sinh yếu hơn lúc đó các em
có nằm trong thư mục DATA không? Những câu hỏi tình huống kiểu như vậy
vừa là các gợi ý vừa là cách tốt nhất để học sinh hiểu rõ hơn các khái niệm.
Ví dụ: Trong một giờ thực hành đầu tiên giáo viên thường đưa ra mục
đích yêu cầu của bài thực hành, sau đó hướng dẫn lại các kiến thức, kỹ năng mà
giờ lý thuyết đã học. Để thực hiện được mục đích đó học sinh phải có kiến thức
và kỹ năng nhất định nào đó mới đạt được. Cuối mỗi buổi thực hành giáo viên
dành khoảng 3 – 5 phút gọi 1, 2 học sinh tự đánh giá lại xem, em đã làm được
những gì qua buổi thực hành so với yêu cầu của thầy/cô, cuối cùng giáo viên
đánh giá khái quát lại và chỉ ra những chỗ học sinh chưa làm được và nguyên
nhân vì sao? Qua đó bản thân học sinh đó và các học sinh khác thấy được mình
còn yếu ở phần nào, vì sao? để tiếp tục điều chỉnh, khắc phục ở giờ tiếp theo, từ
đó thúc đẩy ý thức học tập của học sinh.
Giáo viên nên hướng dẫn và khuyến kích học sinh phát triển kĩ năng tự đánh
giá để tự điều chỉnh cách học. Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh
được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp
thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang
bị cho học sinh. Để đào tạo theo hướng phát triển những con người năng động, sớm
thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu
cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí
thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
IV. KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết quả:
Từ thực tế dạy học của bản thân những năm gần đây các lớp 6 tại THCS
Trần Mai Ninh, tôi nhận thấy phương pháp này có những mặt tích cực sau đây:
Giờ học trở nên sinh động, giảm bớt kiến thức trừu tượng, không xa vời
thực tế mà thiết thực với học sinh, gây hứng thú thực sự cho học sinh, sự yêu
thích môn học tăng lên rõ rệt. Phát huy được sự tích cực chủ động của học sinh
trong nắm bắt kiến thức từ thực tiễn và từ kỹ năng thực hành.
Kết quả: Sau khi học xong các bài được áp dụng thực tế, học sinh được thực
hành ngay, tôi đã thu được kết quả khá khả quan. Có 90% học sinh ở những lớp tôi
26
57,8%
14
31,1%
5
11,1%
0
0%
0
0%
6F
41
100%
25
61%
12
29,3%
4
9,7%
0
10
23,3%
13
30,2%
20
46,5%
0
0%
0
0%
2. Bài học kinh nghiệm
Khi soạn giảng, dạy bằng các biện pháp trên tôi nhận thấy một số điểm
như sau:
Giáo viên cần chuẩn bị bài giảng tốt, sưu tầm và lựa chọn các thiết bị máy
tính đã hỏng, phòng máy, máy chiếu cho từng bài học.
Qua các tiết giảng dần dần học sinh sẽ có thao tác kỹ năng thực hành ngày
càng tốt lên. Từ đó kích thích sự tò mò khám phá của học sinh khắc phục điều
kiện bản thân tự học, tự tin để vươn lên trong học tập.
Việc học thông qua các thiết bị thực tế và các thao tác kỹ năng thực hành
tin học có ý nghĩa quan trọng: không chỉ đơn thuần là tiếp thu kiến thức của bài
giảng trong Tin học 6 mà còn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh dưới dự hướng dẫn của giáo viên. Qua đó tạo sự hứng thú niềm tin
đối với môn học, phát huy năng lực tư duy, sáng tạo độc lập của học sinh. Trang
18
của học sinh cao hơn rõ rệt.
2. Kiến nghị:
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học đang là vấn đề cần thiết. Để
dạy học Tin học trong nhà trường có hiệu quả, tôi đề nghị một số vấn đề như
sau:
- Vì đây là một môn học mang tính đặc thù riêng nên cần phải có phòng
học chức năng riêng biệt, môi trường trong lành, thoáng mát, đầy đủ máy tính và
đồ dùng dạy học.
- Cần trang bị thêm một số tranh ảnh, tài liệu phục vụ cho môn học để
việc dạy và học ngày càng hiệu quả hơn.
Với thực trạng học Tin học trong nhà trường và yêu cầu đổi mới phương
pháp hạy học Tin học, có thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến
vào việc nâng cao chất lượng môn Tin học 6 nói riêng và Tin học nói chung.
Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong
được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các đồng nghiệp để đề tài
của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 3 năm 2016
CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết
Nguyễn Thị Thúy Vân
20
21