SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG TÌNH YÊU
NÉT ĐẸP VĂN HÓA DÂN TỘC -THÚ CHƠI CHỮ- CHO HỌC
SINH LỚP 8 TRƯỜNG THCS NGA HẢI THÔNG QUA DẠY HỌC
VĂN BẢN ÔNG ĐỒ CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hoàn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Hải
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2017
MỤC LỤC
STT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
Giải pháp chung
Giải pháp cụ thể
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Về phía giáo viên
Về phía học sinh
Kết quả cụ thể
Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị
TRANG
2
2
3
4
4
5
5
5
6
7
7
8
8
9
10
10
10
15
15
nước, văn học Việt Nam là một thực thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
bồi đắp nên tâm hồn, khí phách và bản lĩnh con người Việt Nam. Chính vì lẽ đó
mà nền văn hóa đậm đà bản sắc của ta không bao giờ tàn lụi. Văn học là nhân
học. Vì thế, nhiệm vụ bồi dưỡng tình yêu nét đẹp văn hóa dân tộc cho học sinh
qua môn Ngữ văn là vô cùng quan trọng và là một trong những nhiệm vụ cơ bản
của môn học này.
Song, thực trạng hiện nay, việc dạy – học môn Ngữ văn mới chỉ dừng lại ở
việc truyền thụ kiến thức. Việc giáo dục, bồi dưỡng tình yêu nét đẹp văn hóa cho
học sinh có nhưng chưa rõ nét, ít được chú trọng. Học sinh không biết và ít cảm
nhận được những nét đẹp văn hóa dân tộc qua các tác phẩm văn chương, tâm
hồn các em có phần cằn cỗi vì không được nuôi dưỡng thường xuyên. Một phần
do xu thế xã hội: học sinh không thích, không chú trọng môn Ngữ văn nên thầy
cô không có hứng thú dạy, dần dà những nét đẹp văn hóa dân tộc trong học sinh
3
bị mai một. Thực trạng này như một hồi chuông cảnh báo đối với những người
làm giáo dục nói chung, giáo viên dạy Ngữ văn nói riêng.
Thực tiễn những năm gần đây, sự khôi phục, tôn vinh, phát huy những giá
trị văn hóa dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc. Đã có nhiều giá trị văn
hóa dân tộc được tôn vinh như: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa
Cồng chiêng Tây Nguyên, Hát ca trù, Trò Xuân Phả (Thọ Xuân – Thanh
Hóa)....Và một trong những nét đẹp văn hóa đang được khôi phục, phát huy
mạnh mẽ từ hơn mười năm trở lại đây là thú chơi chữ.
Có thể nói, trong chương trình Ngữ văn hiện nay, nhiều nét đẹp văn hóa
dân tộc được đưa vào các tác phẩm để dạy - học trong nhà trường nhằm bồi
dưỡng cho các em tình yêu đất nước, dân tộc với những giá trị văn hóa cao đẹp,
bền vững (tình yêu di tích lịch sử, tình yêu làn điệu dân ca Huế, yêu nét sinh
hoạt ca Huế trên sông Hương của người dân xứ Huế,...và đặc biệt yêu nét sinh
- Đọc, nghiên cứu tài liệu để hiểu biết rõ về bản chất và giá trị của thú chơi chữ.
- Dự giờ các đồng nghiệp khi dạy văn bản “Ông đồ” ( Ngữ văn 8) và tham khảo
ý kiến của đồng nghiệp, của các nhà thư pháp (Qua tài liệu, qua thực tiễn đối
thoại ở mỗi lần đi tham quan).
- Khảo sát thực tế sự hiểu biết của HS về thú chơi chữ của ông cha.
- Thực nghiệm dạy văn bản “Ông đồ” trong chính khóa và trong buổi học bồi
dưỡng của học sinh, đánh giá kết quả để từ đó rút ra hướng bồi dưỡng hiệu quả
cho học sinh khi bồi dưỡng cho các em về tình yêu nét đẹp văn hóa dân tộc.
5
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.1. Vài nét về văn hóa dân tộc trong văn học, nghệ thuật:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” [6] Như vậy, có thể khẳng
định văn học nghệ thuật là một trong những bộ phận cấu thành và rất quan trọng
của văn hoá. Văn học nghệ thuật được nảy sinh và nuôi dưỡng từ mảnh đất hết
sức màu mỡ là thực tiễn cuộc sống và nền văn hoá dân tộc. Rồi đến lượt mình,
văn học nghệ thuật lại làm phong phú sâu đậm thêm bản sắc dân tộc của văn
hoá. Trong văn học nghệ thuật, con người là đối tượng trung tâm và bao giờ
cũng mang trong mình những đặc trưng của văn hoá dân tộc cũng như thời đại
sản sinh ra nó. Vì vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra thời đại cũng như màu
sắc dân tộc của thời đại đó cùng với những tư tưởng nhân văn tiến bộ thông qua
các tác phẩm văn nghệ đích thực.
Và khi nói đến văn hóa dân tộc, ta cần nói đầy đủ, rõ ràng là Bản sắc dân
tộc của văn hóa Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bản sắc: Màu sắc, tính
chất riêng tạo thành đặc điểm chính”. Vậy, “bản sắc dân tộc của văn hóa Việt
Chính vì vậy, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các em cần được biết và
hiểu rõ nhiệm vụ của một công dân – học sinh đối với đất nước, dân tộc để rèn
đức, luyện tài, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Một việc
làm không kém phần quan trọng là việc gìn giữ, phát huy những nét đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc, trong đó có thú chơi chữ ( thuộc lớp văn hóa giao lưu
với Trung Hoa và khu vực).
2.1.2. Thú chơi chữ - Bản chất và giá trị:
Nói tới thú chơi chữ là nói tới Thư pháp. Vậy thư pháp là gì? “Mỗi nét
ngang như mây bay, như bày trận; mỗi nét móc như cây cung giương lên có sức
mạnh phi thường; mỗi nét chấm như một tảng đá từ cao rơi xuống; mỗi nét lượn
như một cái móc đồng; mỗi nét sổ như một sợi khô đàng vạn tuổi; một nét phẩy
như đôi chân phóng bay.” [1] Đó là một định nghĩa nổi tiếng của thánh thư
Vương Hy Chi (Trung Quốc) về nghệ thuật thư pháp.
Thư pháp là một môn nghệ thuật đặc thù của nền văn hoá phương Đông ở
các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Và đất nước Trung
Hoa chính là cội nguồn của thư pháp. Giống như một mạch ngầm, một dòng
chảy lặng lẽ tồn tại với thời gian nhưng thư pháp lại có vị trí đáng kể và hàm
chứa nhiều giá trị nhân bản, đạo đức xã hội trong thế giới nghệ thuật. “Với cách
viết bằng bút lông, hợp cùng màu đen bóng của mực xạ là gam màu chủ thể
tương phản mạnh với màu nền duy nhất của các loại giấy tạo nên một bức họa
nhẹ nhàng, thanh thoát với những đường nét khoẻ, mềm, thanh tao, phóng
khoáng... bố cục cân đối, tương phản dài, ngắn...” [1]
Cũng như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam cũng có sự tiếp biến giao thoa
văn hoá để vươn lên những giá trị mới của nhân loại trên nền tảng bản sắc độc
đáo của mình. Thư pháp chữ Hán đã được các thế hệ tri thức Việt Nam tiếp
nhận, khơi dòng truyền lại cho đến tận ngày nay. Chúng ta cũng có không ít
những nhà thư pháp lừng danh như : Trịnh Sâm, Cao Bá Quát, Phan Bội Châu...
và ngày nay là Lê Xuân Hoà, Nguyễn Văn Bách... Các bức họa của các nghệ
nhân với những đường nét sống động có hồn, là tinh hoa, là minh chứng cụ thể
cho sức sống mạnh mẽ của thư pháp. Ngày nay các nghệ nhân của Việt Nam
trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa rất đẹp của dân tộc ta, đặc biệt trở thành
thói quen mỗi khi hoa đào điểm sắc. Điều đó được nhà thơ Vũ Đình Liên khắc
họa rất sinh động trong bài thơ “Ông đồ”:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, có một thời gian dài, do tác động của nền kinh
tế thị trường, của văn minh Tây học đã có một số người quay lưng lại, chà đạp
lên những giá trị văn hóa dân tộc, ngay cả thú chơi chữ - một thú chơi văn hóa
vốn rất cao quý, đẹp đẽ, hướng con người vào cõi tinh thần thanh cao cũng bị
lãng quên. Điều này cũng được nhà thơ Vũ Đình Liên khắc họa thật chi tiết:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
8
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
quan câu lạc bộ thư pháp để trực tiếp thưởng thức hoạt động viết chữ thư pháp
của các nghệ nhân hay thưởng thức nét chữ “rồng bay phượng múa” trên các
bức thư pháp. Vì vậy, việc nói đến thú chơi chữ qua bài học “Ông đồ” đối với
các em có thể nói là xa lạ chứ chưa nói đến việc các em thể hiện một hành động
nhỏ để thể hiện sự hiểu biết, phát huy giá trị của nét đẹp văn hóa dân tộc này.
9
Năm học 2016 - 2017, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 8.
Trước khi dạy văn bản “Ông đồ”(Sau khi hướng dẫn xong tiết bài đọc thêm văn
bản Muốn làm thằng cuội, tôi liên hệ hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ để dẫn dắt
HS tìm hiểu số phận của một nét đẹp văn hóa dân tộc - thú chơi chữ ở bài học
tiếp theo: Ông đồ) tôi đã đưa ra câu hỏi để khảo sát mức độ hiểu biết về thú chơi
chữ ở HS với câu hỏi: “Em hiểu gì về thú chơi chữ? Em đã làm gì để thể hiện
ý thức gìn giữ, phát huy nét đẹp văn hóa này của dân tộc?” và kết quả đạt
được như sau:
Lớp
Sĩ số
1
8A
2
8B
STT
25
73.5
68
21
30.9
47
69.1
(Đạt yêu cầu tôi đặt ra là: HS chỉ cần nói được đây là một biểu hiện của nét
đẹp văn hóa dân tộc gắn liền với những chữ đẹp như “rồng múa phượng bay”
trên các bức mành, giấy, gỗ,…thường được treo ở trong chùa, ở gia đình trên
tường cao giữa nhà, hay trên cột nhà,…là những nơi trang trọng. Em rất thích
và trân trọng những bức chữ đó).
2.2.4. Thực trạng môn học:
Chương trình Ngữ văn 8 đưa văn bản Ông đồ vào dạy học ở tiết 65. Đây là
một thuận lợi để giúp HS biết được một nét đẹp văn hóa dân tộc - Thú chơi chữ được đề cập trong bài. Đặc biệt là những thăng trầm của lịch sử ảnh hưởng tới
“số phận” của thế hệ nhà nho cùng với thú chơi chữ. Từ đó khơi dậy ở học sinh
tình cảm đối với những nét đẹp văn hóa dân tộc nói chung, tình cảm với thú chơi
chữ nói riêng. Mặc dù được học trong một tiết bài trọn vẹn, song, với những
mong muốn như trên thì thời lượng 45 phút dành cho bài học còn hạn chế. Vì
vậy, khả năng hiểu biết cũng như sự liên hệ việc làm của học sinh để thể hiện ý
thức giữ gìn, phát huy nét đẹp văn hóa dân tộc còn mờ nhạt, thiếu cụ thể.
Từ thực trạng trên, để giúp HS nhìn nhận rõ vẻ đẹp của thú chơi chữ và qua
đó, bồi dưỡng cho HS tình yêu đối với nét đẹp văn hóa này, tôi đã mạnh dạn
để dạy các bài học đồng dạng ( trong đó có “ Ông đồ” của Vũ Đình Liên)
2.3.2. Giải pháp cụ thể:
a. Đối với bài dạy thực nghiệm “Ông đồ”, trong dạy chính, tôi đã tiến
hành như sau:
* Chuẩn bị của GV:
- Cung cấp kiến thức khái quát về thú chơi chữ cho học sinh ngay sau khi HS
nhận diện các bức tranh chiếu về ông đồ và công việc đặc trưng của ông đồ
(Ông đồ có thể sử dụng thư pháp bằng chữ Hán và cả thư pháp quốc ngữ)
11
12
- Thiết kế giáo án, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp để HS chủ động chiếm
lĩnh kiến thức bài học, đồng thời khơi gợi cho HS nhận biết về thú chơi chữ và
bản chất của nó để các em liên hệ tới ý thức của bản thân đối với nét đẹp văn
hóa này.
- Sử dụng máy chiếu – Ti vi với các tranh ảnh về thư pháp, về hoạt động viết
chữ thư pháp của các nghệ nhân, hoạt động xin chữ của người thưởng thức, các
clip về không khí của các câu lạc bộ thư pháp,…( Chỉ chọn một số hình ảnh
minh họa vì thời gian có hạn)
- Thực hiện một số thể nghiệm để kiểm nghiệm tính hiệu quả của đề tài bằng
cách yêu cầu HS trả lời một số câu hỏi:
+ Sau khi kết thúc phân tích phần 1(Hình ảnh ông đồ thời chữ Nho thịnh
hành), Gv đưa ra câu hỏi: Em hãy nhận xét về vị trí của ông đồ cùng với thú
chơi chữ trong xã hội lúc bấy giờ?
+ Sau khi phân tích xong khổ thơ 3 và 4 thuộc phần 2(Hình ảnh ông đồ khi chữ
Nho suy tàn), GV đưa ra câu hỏi: Vị trí của ông đồ cùng với thú chơi chữ hiện
sau).
Trong bài học ôn tập này, khi hướng dẫn đến câu 4, GV thực hiện các bước
sau:
Bước 1: GV chiếu một số clip về hoạt động của các câu lạc bộ thư pháp ở
Thành phố Hồ Chí minh, Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Phòng và Thanh Hóa để HS
thấy được sự khôi phục, phát huy mạnh mẽ của thú chơi chữ - Nét đẹp văn hóa
dân tộc, giúp các em cảm nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa thiêng liêng của thư pháp,
về trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động văn hóa chung của cả nước.
Các bạn trẻ xếp hàng đợi xin chữ đầu năm mới
Các bạn trẻ xin chữ mong muốn điều tốt
đẹp trong cuộc sống
Trong bước này, sau khi cho HS xem xong các clip, tôi đưa ra một số câu hỏi
đàm thoại nhanh để chuẩn bị tốt cho đoạn văn viết của các em:
Qua các clip vừa rồi, các em hiểu biết gì về vị trí của thư pháp trong đời
sống của người dân? Hoạt động xin chữ và cho chữ thường diễn ra vào thời
gian nào? Thái độ của người cho chữ và người xin chữ như thế nào? Các bức
thư pháp sẽ được treo ở đâu?
( HS có thể nêu những nội dung cơ bản sau:
Hoạt động thư pháp - Thú chơi chữ có vị trí đặc biệt trong đời sống nhân dân.
Điều này được thể hiện qua hình ảnh từng dòng người xếp hàng, chờ đợi để được
thưởng thức nghệ nhân viết chữ rồi xin cho mình những chữ tâm đắc. Đặc biệt sự
có mặt đông đảo của các bạn trẻ ở đây đã thể hiện rõ sức sống lâu bền, mạnh mẽ
của thư pháp trong đời sống tinh thần của người Việt ta và sức lan tỏa lớn trong
đời sống tinh thần của giới trẻ ngay giữa xã hội hiện đại nhiều bề bộn, lo toan cho
cuộc sống.
Hoạt động xin chữ và cho chữ thường diễn ra sôi nổi nhất mỗi khi tết đến,
xuân về.
- Ôn tập tốt bài học “ Ông đồ”.
- Suy nghĩ sâu hơn về câu hỏi thực nghiệm đã làm.
- Đem theo các bức thư pháp ( Bằng giấy; khổ nhỏ, vừa, đem theo thuận lợi).
- Bút dạ đen( hoặc màu).
- Chuẩn bị tốt mọi yêu cầu của GV để ôn tập tốt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
2.4.1. Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy, với mong muốn đặt ra là giúp HS hiểu được nét
đẹp văn hóa dân tộc được gợi nhắc trong bài thơ Ông đồ để HS bổ sung vào kiến
thức “Bản sắc văn hóa Việt Nam trong tôi” với sự giàu có và phong phú đến vô
cùng, điều quan trọng hơn là khơi dậy trong các em tình yêu và ý thức trách
nhiệm đối với việc gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa của dân tộc - Thú chơi
chữ. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi đã từng bước vận dụng kiến thức phù
hợp, ở những phần nội dung học, ôn tập cụ thể khi dạy văn bản Ông đồ (Như đã
trình bày ở trên) và tôi nhận thấy nếu kết hợp hợp lý, khéo léo kiến thức để bồi
dưỡng tình yêu của các em đối với nét đẹp văn hóa dân tộc sẽ mang lại hiệu quả
tốt, đáng khích lệ trong phương pháp giảng dạy của GV và tạo hứng thú học tập
của học sinh. Và khi bồi dưỡng cho các em, giáo viên cũng thực sự được sống
trong thời đại của những nét đẹp văn hóa dân tộc được gợi nhắc trong các bài
học, được hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về nghệ thuật chơi chữ thư pháp và
đặc biệt từ trong trái tim, niềm tự hào, yêu quý dân tộc với sự giàu có về thuyền
thống văn hóa càng thấm đẫm hơn bao giờ hết và muốn truyền tình yêu ấy tới
học sinh của mình với mong muốn các em sẽ luôn tự hào về dân tộc và có ý thức
gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có thú
chơi chữ.
2.4.2. Về phía học sinh:
Qua cung cấp kiến thức kết hợp với việc dẫn dắt của giáo viên, đặc biệt là
qua các hình ảnh trực quan về nghệ thuật thư pháp, các em có được hiểu biết
nhất định và nhận diện được dễ dàng hơn về thú chơi chữ. Điều quan trọng hơn
là sự hứng thú học tập của các em và tình cảm các em dành cho nét đẹp văn hóa
Chưa đạt yêu cầu
Số lượng
%
Số lượng
%
34
31
91.2
3
8.8
34
30
88.2
4
11.8
với phương châm
“ hòa nhập nhưng không hòa tan”.
Nhiệm vụ của người giáo viên nói chung, giáo viên dạy văn nói riêng là
phải giáo dục cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước, ý thức giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc qua từng tiết dạy, từng tác phẩm văn học Việt Nam, nuôi dưỡng
tâm hồn thế hệ trẻ qua từng trang sách để các em tiếp nối sức sống bền bỉ, mãnh
liệt, đậm bản sắc của cốt cách và khí phách con người Việt Nam.
Với đề tài “Bồi dưỡng tình yêu nét đẹp văn hóa dân tộc-Thú chơi chữ- cho
HS lớp 8 Trường THCS Nga Hải thông qua dạy học văn bản Ông đồ của Vũ
Đình Liên” bản thân tôi thấy đã phần nào góp phần giúp học sinh nói chung, học
sinh trường THCS Nga Hải nói riêng thêm yêu những nét đẹp văn hóa dân tộc,
hiểu rõ giá trị của “Thú chơi chữ” qua tác phẩm “ Ông đồ”. Từ đó mà các em có
ý thức nâng niu, giữ gìn những bức thư pháp khi các em gặp trong đời sống, đặc
biệt các em thể hiện tình yêu đối với thú chơi chữ qua một biểu hiện nhỏ là cố
gắng luyện viết chữ đẹp – một biểu hiện bình dị mà sâu sắc, thiêng liêng.
Tôi thiết nghĩ rằng với tình hình, điều kiện về cơ sở vật chất ở các nhà hiện
nay thì đề tài này không chỉ thực hiện được ở trường THCS Nga Hải mà có thể
áp dụng được cho các nhà trường trong dạy - học nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ
bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam.
3.2. Kiến nghị:
Qua thực tiễn dạy học với kết quả đạt được như đã trình bày ở trên, tôi mạnh dạn
đưa ra một số đề xuất sau:
- GV cần vận dụng phối kết hợp các cách thức dạy học cụ thể, linh động, sáng
tạo để giúp HS hứng thú học tập, khơi dậy ở các em lòng tự hào, tự tôn dân tộc
với những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mà nét đẹp văn hóa chơi
18
chữ thư pháp qua bài thơ “Ông đồ” của tác giả Vũ Đình Liên là một dẫn chứng
4. Một số kiến thức – kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 8, Nguyễn
Thị Mai Hoa – Đinh Chí Sáng, Nhà xuất bản Giáo dục – 2005.
5. Kiến thức cơ bản Ngữ văn 8, Lê Lương Tâm, Thái Thủy Vân, Nguyễn
Lan Thanh, Nhà xuất bản Đà Nẵng – 2004.
6. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản Giáo dục –
1999 ( Trang 10, 38)
20
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO THANH HÓA
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Hoàn
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Nga Hải
TT
1.
2.
Tên đề tài SKKN
Hoạt động nhóm trong
dạy học Văn ở môn
Ngữ văn Trung học cơ
sở.
Rèn luyện kỹ năng viết
21
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN ÔNG ĐỒ
(NGỮ VĂN 8)
Ngữ văn: Tiết 65 - Văn bản:
ÔNG ĐỒ
(Vũ Đình Liên)
A. Mục tiêu cần đạt: Giúp HS.
- Biết đọc - hiểu một tác phẩm thơ lãng mạn để bổ sung thêm kiến thức về tác
giả, tác phẩm của phong trào thơ mới.
- Thấy được một số biểu hịên của sự đổi mới về thể loại, đề tài, ngôn ngữ, bút
pháp nghệ thuật lãng mạn. Hiểu được những xúc cảm của tác giả trong bài thơ.
1. Kiến thức: Sự đổi thay trong đời sống xã hội và sự tiếc nuối của nhà thơ đối
với những giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc đang dần bị mai một. Lối viết
bình dị mà gợi cảm của tác giả trong bài thơ.
2. Kĩ năng: Nhận biết được tác phẩm thơ lãng mạn. Đọc diễn cảm tác phẩm.
Phân tích được những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm.
3. Thái độ: Biết trân trọng và có ý thức giữ gìn giá trị của một nét đẹp văn hóa
tinh thần của dân tộc.
B.Chuẩn bị:
1. GV: - Các kiến thức về nghệ thuật thư pháp, thú chơi chữ, hoàn cảnh xã hội
khi tác phẩm “Ông đồ” ra đời.
- Giáo án.
2. HS: Đọc kỹ bài thơ “Ông đồ” và trả lời các câu hỏi phần “ Đọc - Hiểu văn
bản”.
C. Tiến trình lên lớp:
1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số.
? Em biết gì về vị trí của VB?
- GV hướng dẫn HS đọc-> đọc mẫu
và gọi HS đọc bài thơ.
- GV nhận xét cách đọc của HS.
Yêu cầu cần đạt
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả: Vũ Đình Liên, sinh ngày
12/11/1913, mất ngày 18/1/1996.
- Ông làm thơ, nghiên cứu, dịch thuật và
giảng dạy văn học.
- Thơ ông mang nặng lòng thương cảm
và nỗi niềm hoài cổ.
2. Văn bản :
a. Vị trí: Là bài thơ hay nhất của Vũ
Đình Liên và của phong trào Thơ mới –
giai đoạn đầu.
b. Đọc:
- Y/c:
+ Khổ 1: giọng nhẹ nhàng, bình thản.
+ Khổ 2: giọng đọc vui, thán phục.
+ Khổ 3,4: giọng chùng xuống, chậm
dần lại.
+ Khổ 5: đọc thật chậm, giọng buồn
thương, da diết.
c. Giải thích từ ngữ: 1, 2, 4, 5 và 6
- GV yêu cầu HS giải nghĩa một số từ
khó.
? Bài thơ được làm theo thể thơ gì?
đông vui, náo nhiệt của phố phường.
H/ả gần gũi, thân quen như không thể
thiếu trong mỗi dịp tết đến xuân về.
- Thái độ của mọi người:
+ Thuê viết…
+ Ngợi khen: tài, có hoa tay, chữ rồng
24
đang xin chữ của ông đồ.
? Em có nhận xét gì về h/ả ông đồ ở
hai khổ thơ đầu?
- HS suy nghĩ,trả lời.
- Lớp nhận xét ->GV khái quát, nhấn
mạnh vị trí quan trọng của ông đồ
trong đời sống tinh thần của nhân
dân.
- Gọi HS đọc khổ 3, 4, 5 của bài thơ.
? Hình ảnh ông đồ lúc này ra sao?
? Em nghĩ gì về hai câu:
“Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu”
- HS trả lời->GV khái quát, bình thêm
về nghệ thuật diễn đạt cũng như biểu
hiện tâm trạng trong hai đoạn thơ.
cũng như tâm trạng của ông đồ một cách
sâu sắc à nỗi sầu như lan ra cả những
vật vô tri vô giác. Tờ giấy đỏ cứ phơi ra
đấy mà chẳng được đụng đến trở thành
bẽ bàng, màu đỏ của nó trở thành vô
duyên, không thắm lên được; nghiên
mực cũng vậy, không hề được chiếc bút
lông chấm vào, nên mực như đọng lại
bao sầu tủi và trở thành nghiên sầu.
- Hai câu thơ tả cảnh ngụ tình - bộc lộ
tâm trạng (tâm cảnh), nỗi lòng của ông
đồ. Đây là hai câu thơ đặc sắc nhất của
bài thơ. Lá vàng gợi sự tàn tạ, buồn bã;
đây lại là lá vàng rơi trên những tờ giấy
dành viết câu đối của ông đồ. Vì ông ế
khách, tờ giấy đỏ cứ phơi ra đấy hứng lá
vàng rơi và ông cũng bỏ mặc. Ngoài
giời mưa bụi bay gợi sự ảm đạm, lạnh
lẽo tới buốt giá -> đây chính là mưa
25