MỤC LỤC
Mục
1.1
1.2
1.3
1.4
2.1
2.2
2.3
2.4
Nội dung
Mục lục
1. Mở đầu
Trang
1
2
2
3
4
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiên kinh nghiệm
4
Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
4
môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó
trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng tình cảm cho học sinh. Nhà văn hào
Nga Mác – xim Gorơ ki nói: “Học văn là học làm người”. Học sinh học tốt môn
Ngữ văn sẽ có tác động tốt đến việc học các môn khác, và ngược lại. Học tốt
môn Ngữ văn không nhất thiết là đi theo nghề văn. Học tốt môn Ngữ văn sẽ
giúp các em rất nhiều trong giao tiếp với đời sống gia đình và bạn bè, với đời
sống xã hội. Từ đó chúng ta thấy môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường Trung học cơ sở, góp phần hình
thành những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng gia
đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư
tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có
tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân,
thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết trong văn học; có năng lực thực hành và
năng lực sử dụng tiếng Việt như công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó là những
người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở còn có nhiệm vụ hoàn
thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ
được thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói,
đọc, viết.
Xuất phát từ tình hình thực tế của việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh
trong giờ dạy Ngữ văn nói chung và trong giờ luyện nói của môn Tập làm văn Ngữ
văn 7 nói riêng trong nhiều năm trực tiếp giảng dạy và qua nhiều lần dự giờ đồng
nghiệp bản thân tôi thấy việc tổ chức dạy - học tiết luyện nói còn nhiều hạn chế.
Nghịch lý của giờ luyện nói vẫn thường xuyên xảy ra: giờ luyện nói là điều kiện tốt
nhất để học sinh bày tỏ quan điểm, tình cảm, khả năng giao tiếp của mình trước bạn
bè nhưng các em lại im phăng phắc, nép mình chờ nghe giáo viên chỉ định. Dường
2
Trong mục tiêu dạy học môn Ngữ văn Trung học cơ sở, chương trình môn
Ngữ văn nhấn mạnh trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho học sinh là
làm cho học sinh có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thành thạo theo các kiểu
văn bản và có kỹ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng
lực cảm nhận và bình giá văn học. Chính vì thế, sách giáo khoa Ngữ văn Trung
học cơ sở đã chú trọng hơn tới việc hình thành và phát triển kỹ năng nói. Đây là
một trong những điểm mới về quan điểm dạy học của môn học. Cụ thể là nội dung
chương trình sách giáo khoa bố trí một số giờ luyện nói độc lập theo từng kiểu văn
bản như sau:
Lớp 6:
Tiết 29 – Tuần 8 – Bài 7: Luyện nói kể chuyện
Tiết 43 – Tuần 11 – Bài 1: Luyện nói kể chuyện
3
Tiết 83, 84 – Tuần 21 – Bài 20: Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh
và nhận xét trong văn miêu tả.
Tiết 96 – Tuần 24 – Bài 23: Luyện nói về văn miêu tả
Lớp 7:
Tiết 40 – Tuần 10 – Bài 10: Luyện nói : Văn biểu cảm về sự vật, con người.
Tiết 56 – Tuần : 14 – Bài 13: Luyện nói: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn
học.
Tiết 112 – Tuần 28 – Bài 27: Luyện nói: Bài văn giải thích một vấn đề.
Lớp 8:
Tiết 42 – Tuần 11 – Bài 10: Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với
miêu tả và biểu cảm.
Tiết 54 – Tuần 14 – Bài 14: Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng.
Lớp 9:
Tiết 65 – Tuần 13 – Bài 13: Luyện nói: Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu
thành thạo. Đây cũng là sự cụ thể hoá tư tưởng dạy học theo lý thuyết giao tiếp.
Điểm mới mẻ và cần lưu ý là chú trọng hơn tới cách tổ chức cho học sinh hoạt
động để phát triển kỹ năng nói trong giờ Tập làm văn. Luyện nói tốt sẽ giúp học
sinh biết bộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
Ai cũng biết ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Trong
giờ luyện nói hiệu quả lao động của học sinh được cảm nhận trực tiếp qua ngôn
ngữ. Giờ luyện nói có thế mạnh của một sinh hoạt giao tiếp tập thể, không như giờ
làm văn viết là một hoạt động tĩnh, cá nhân. Không khí giờ làm văn miệng dễ kích
thích hứng thú hoạt động của học sinh hơn, nếu giáo viên ý thức được vấn đề này.
Về tâm lý, con người trong hoạt động tập thể bao giờ cũng năng động hơn. Có thấy
rõ đặc thù của hoạt động luyện nói và đặc điểm tâm lý học sinh thì giáo viên mới
tiến hành có hiệu quả giờ học vốn rất sinh động, hấp dẫn và hướng dẫn được những
học sinh có tâm lý ngại ngùng phát biểu trước tập thể lớp. Giờ luyện nói là cơ hội
tốt nhất để giáo viên hiểu về con người, tư tưởng tình cảm học sinh qua cách nói
năng, diễn đạt...
Nếu người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám phá
chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, thì người học (học sinh) phải tự mình bộc lộ sự
hiểu biết, phải biết phát triển tư duy thành lời - ngôn bản. Muốn cho người nghe
hiểu cho được thì người nói phải nói cho tốt, nghĩa là nói phải có nội dung nói, đảm
bảo mạch lạc, logic, phải tuân thủ các qui tắc hội thoại, phải chú ý đến các cử chỉ,
nét mặt, âm lượng, …Vì thế, luyện nói là việc rất quan trọng trong quá trình dạy
học văn, là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy học Ngữ
văn. Luyện nói tốt sẽ giúp người học sẽ có được một công cụ giao tiếp hiệu quả
trong cuộc sống xã hội.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Qua những năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, ở bộ môn Ngữ
văn, tiết dạy “Luyện nói” mặc dù nhiều giáo viên cũng đã cố gắng hết sức nhưng
cũng ít người thành công qua tiết dạy. Bởi vì kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nói
cho học sinh chưa nhiều so với rèn luyện kỹ năng viết. Học sinh không tự tin khi
cảm thụ, phân tích, đánh giá một cách tự tin trước tập thể. Vừa là biện pháp có khả
năng khắc phục đựơc những khó khăn, thực trạng mà chúng ta đang quan tâm. Từ
đó nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
BẢNG KHẢO SÁT CH ẤT LƯỢNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN SKKN
Năm học
Mức độ
2015-2016
Khả năng nói tốt
trong tiết luyện nói
Khả năng nói chưa tốt
trong tiết luyện nói
7C : 42 học sinh
17/42 học sinh bằng 40,5%
25/42 học sinh bằng 59,5%
7A : 42 học sinh
12/42 học sinh bằng 28.6%
30/42 học sinh bằng 71.4%
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Với quan điểm dạy học theo phương pháp mới hiện nay đã nhấn mạnh: “Thầy
chủ đạo, trò chủ động”, “Học sinh là chủ thể sáng tạo”. Để phát huy tính tích cực của
học sinh, thì giáo viên phải làm tốt vai trò của người nhạc trưởng. Cụ thể để dạy được
Trong tiết luyện nói, giáo viên hoạt động rất ít để trao quyền ưu tiên cho
học sinh hoạt động với thời lượng tối đa có thể được; thậm chí hầu như giáo
viên không làm gì cả. Nhưng ở đây, không làm gì cả không có nghĩa là khoán
trắng, phó mặc học sinh kiểu như đã nói ở trên; mà giáo viên vẫn là người bao
quát, chỉ đạo linh hoạt để đảm bảo cho hoạt động của học sinh đúng hướng và
đạt hiệu quả cao.
2.3.4. Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy- học trong tiết luyện nói
- Giáo viên nên linh hoạt trong việc thiết kế các hoạt động dạy - học.
- Sau đây là vài đề xuất để tham khảo, vận dụng .
+ Hái hoa tìm ý
Có thể dùng hình thức này đối với lớp dạy có nhiều HS yếu kém, chưa thành
thạo kĩ năng tạo lập kiểu văn bản đang học, chưa quen nói trước tập thể; lại ít có
( hay không có ) nhân tố tích cực ( học sinh khá, giỏi, lanh lợi, hoạt bát) làm
nòng cốt.
Cách thực hiện
a. Khâu chuẩn bị
- Lựa chọn một bài tập ( không ôm đồm nhiều về số lượng bài tập ).
- Thông báo bài tập đã chọn cho học sinh biết trước để chuẩn bị .
- Định hướng cho học sinh bằng một số câu hỏi ( để giải quyết bài tập ).
Những câu hỏi này được cung cấp từ trước tiết học để học sinh suy nghĩ, chuẩn
bị lời.
- Một bảng phụ- mô hình dàn ý phù hợp với bài tập.
- Các câu hỏi được viết trên mảnh giấy lớn, chữ to để có thể gắn với mô
hình dàn ý (mỗi câu hỏi được trình bày về hình thức tựa như những bông hoa)
- Học sinh tự trình bày dàn ý vào vở soạn theo gợi ý từ các câu hỏi cho
trước và tập chuẩn bị ngôn ngữ nói trước khi đến lớp.
7
b. Trình tự tiến hành trong tiết học
dụng, soạn thảo câu hỏi- đáp án…
- Có thể chuẩn bị vài phần quà nho nhỏ giúp trò chơi thêm hào hứng.
- Học sinh được thông báo giới hạn một số đề tài chính để nghiên cứu,
suy nghĩ trước.
c. Trình tự thực hiện trong tiết học
- Chia cuộc chơi thành 2-3 chặng. Lượng câu hỏi, bài tập được sắp xếp
vào từng chặng cho phù hợp.
- Sau mỗi chặng, có nhận xét và đổi người tham gia chơi.
- Giáo viên trực tiếp làm giám khảo và cho điểm theo một thang điểm đã
được thống nhất và công bố; cử học sinh làm thư ký theo dõi và tổng kết điểm ở
từng chặng, cả đợt.
8
- Cuối cùng giáo viên tổng kết, củng cố phương pháp tạo lập văn bản .
Nhận xét các đội chơi, khen thưởng và trao quà.
Khi đã thuần thục với cách làm trên thì lớp có thể “tự biên tự diễn” mà giáo viên
chỉ là người định hướng từ xa chứ không cần tham gia trực tiếp vào quá trình
hoạt động của học sinh.
+ Dàn hợp xướng
- Đây là một hình thức có thể giúp cho các đối tượng học sinh cùng bổ trợ
cho nhau trong quá trình thực hành kỹ năng nói về một vấn đề nào đó.
- Tạo cho học sinh khả năng làm việc tập thể, biết phối hợp nhịp nhàng,
ăn ý, biết đoàn kết, hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ.
- Hoạt động diễn ra chủ yếu dựa trên cơ sở đơn vị nhóm. Nhóm trưởng
giữ vai trò đặc biệt quan trọng (tựa như người nhạc trưởng một dàn nhạc) trong
việc điều hành nhóm.
Cách thực hiện
a. Chuẩn bị
+ Thi nói hay( Thi hùng biện, thi kể chuyện,…)
Hoạt động thực hành này vẫn dựa trên cơ sở gợi ý của sách giáo viên.
Nghĩa là học sinh luyện nói ở tổ, nhóm; sau đó nói trước lớp trên cơ sở đã chuẩn
bị dàn ý và tập nói ở nhà.
Nhưng có thể thay đổi ở chỗ là cơ cấu việc luyện nói ấy thành một cuộc
thi để tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn học sinh.
Nên tổ chức hình thức Thi nói hay đối với những lớp khá, học sinh mạnh
dạn, hoạt bát. Mục tiêu cụ thể của tiết dạy khi dùng hình thức này là luyện cho
học sinh khả năng nói đúng, nói hay, nói truyền cảm trước tập thể về một vấn đề.
Cách thực hiện
a. Chuẩn bị
- Bảng phụ (tính điểm)
- Thông báo số lượng bài tập, nội dung bài tập
- Thông báo hình thức hoạt động để học sinh tập luyện .
- Các nhóm chuẩn bị dàn ý, phiếu học tập của nhóm
- Học sinh chuẩn bị thêm tranh ảnh, vật dụng liên quan( nếu cần )
- Có thể chuẩn bị thêm tranh ảnh, vật dụng…
- Chuẩn bị vài mòn quà nho nhỏ .
- Có thể chọn học sinh dẫn chương trình.
b. Trình tự thực hiện trong tiết học
- Giáo viên nêu tiêu chí, yêu cầu, thang điểm
- Thi vòng 1: học sinh nói trong nhóm. Nhóm chọn ra người Nói hay để dự
thi vòng 2.
- Thi vòng 2: Tranh tài Nói hay giữa các nhóm
- Sau mỗi phần tranh tài của một nhóm là có phần nhận xét và bình điểm
của lớp, giáo viên.
- Kết thúc cuộc thi: Công bố điểm, chọn giải nhất, nhì và trao quà.
- Tổng kết tiết học, rút kinh nghiệm.
+ Đóng vai nhập cuộc
2.3.6. Tổ chức triển khai thực hiện giờ luyện nói trên lớp
a. Bước 1: Kiểm tra khâu chuẩn bị ở nhà của học sinh
Bước này giáo viên phải đặc biệt chú ý, không thể bỏ qua hay lơ là được vì
đây là cơ sở cho tiết luyện nói. Mặt khác, kiểm tra chặt chẽ khâu chuẩn bị ở nhà sẽ
tạo thói quen học tập, tự giác cho học sinh và có biện pháp kịp thời đối với những
học sinh yếu hoặc lười học.
b. Bước 2: Thống nhất lại dàn bài chung
Phần này giáo viên không đi lại từng bước nhỏ như phần chuẩn bị bài vì sẽ
mất thời gian. Giáo viên chỉ đưa ra những câu hỏi, những vấn đề có tính chất giải
đáp vướng mắc mà các em gặp phải trong phần chuẩn bị bài. Trên cơ sở đó, xây
dựng dàn bài chung làm yêu cầu về kiến thức để đánh giá nội dung bài nói của học
sinh.
c. Bước 3: Yêu cầu chung cho bài nói của học sinh
Giáo viên nêu yêu cầu luyện nói chung để học sinh rõ (chỉ áp dụng cho tiết
luyện nói đầu tiên của từng khối lớp, những tiết sau, bước này sẽ do học sinh tự
nhắc lại trước lớp)
- Nội dung: nói phải đúng trọng tâm, yêu cầu đề bài. Dựa vào dàn bài thống
nhất để trình bày theo ý cho hệ thống.
- Kỹ thuật nói: trình bày rõ ràng, mạch lạc đảm bảo tính liên kết giữa các
phần các đoạn. Lời nói có ngữ điệu, diễn tả thái độ, tình cảm tự nhiên, phù hợp.
- Tác phong: bình tĩnh, đĩnh đạc, tự tin. Trước khi nói phải có lời thưa gửi,
kết thúc phải có lời cảm ơn.
d. Bước 4: Bước chuẩn bị của học sinh trước khi nói
Giáo viên dành thời gian khoảng 5 phút để học sinh chuẩn bị trình bày bài
nói.
e. Bước 5: Học sinh trình bày bài nói
Để cho học sinh có điều kiện trình bày bài nói của mình một cách tự nhiên,
hiệu quả, giáo viên nên lựa chọn nhiều hình thức, nhiều cách trình bày bài nói khác
nhau có thể:
luyện nói có thể có những hình thức khác nhau. Hình thức rất phong phú đa dạng.
Điều quan trọng là phải nắm vững đặc trưng giờ luyện nói để đảm bảo yêu cầu một
giờ học Tập làm văn trong nhà trường Trung học cơ sở.
2.3.7. Giáo án minh họa
LUYỆN NÓI
VĂN BIỂU CẢM VỀ SỰ VẬT, CON NGƯỜI
Ngữ văn 7: Tiết 40:
A. Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức: các cách biểu cảm trực tiếp và gián tiếp trong việc trình bày văn
nói biểu cảm, những yêu cầu khi trình bày văn nói biểu cảm.
2. Kỹ năng: tìm ý, lập dàn ý bài văn biểu cảm về sự vật và con người, biết
cách bộc lộ tình cảm về sự vật và con người trước tập thể, diễn đạt mạch lạc, rõ
ràng những tình cảm của bản thân về sự vật và con người bằng ngôn ngữ nói.
3. Thái độ: biết cảm nhận về sự vật, con người qua tiết luyện nói.
B. Phương pháp
- Phương pháp vấn đáp kết hợp thực hành, thảo luận nhóm.
12
- Phương pháp gợi mở, phương pháp nêu vấn đề.
- Phương pháp nói diễn cảm.
C. Chuẩn bị
1. Giáo viên: giáo án + đề bài về văn biểu cảm, bảng phụ.
2. Học sinh: giấy nháp + vở ghi.
D. Tiến trình lên lớp
1. Ổn định lớp
- Thân bài: Qua miêu tả, tự sự biểu lộ
cảm xúc ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết
sâu sắc.
- Kết bài: Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ về
đối tượng biểu cảm.
Giáo viên: chiếu phần bố cục lên máy
13
Câu hỏi: Có mấy bước tiến hành một
bài văn biểu cảm?
Học sinh: Có 4 .
- Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Bước 2:Tìm ý
- Bước 3: Lập dàn ý
- Bước 4: Viết văn và sửa lỗi
Giáo viên chiếu trên máy.
Câu hỏi: Các bước đó có tiến hành
trong bài luyện nói được không?
Giáo viên cần phải thêm bước luyện nói
Giáo viên: để giúp các em có bài nói tốt
cô cùng các em tìm hiểu sự giống và
khác nhau giữa văn nói và văn viết.
Học sinh chỉ ra một số điểm giống và
khác nhau
Giáo viên khái quát trên máy.
Giống nhau:
- Đều thể hiện cảm xúc với đối tượng
cần biểu cảm.
14
Giáo viên chiếu trên máy đề 1.
Giáo viên kiểm tra khâu chuẩn bị ở nhà
của học sinh.
Câu hỏi: Đề bài đó thuộc thể loại nào?
Câu hỏi: Đối tượng biểu cảm là ai?
xác định thể loại, đối tượng biểu cảm
Câu hỏi: Với đối tượng biểu cảm là
thầy cô giáo thì cảm xúc chính của em
là gì?
- Cảm xúc chính là kính trọng , biết ơn…
Giáo viên chuyển ý
Câu hỏi: Với đề bài này em sẽ trình
bày những gì trong phần mở bài, thân
bài, kết bài?
Giáo viên thống nhất lại dàn bài chung.
Giáo viên chiếu dàn ý và tranh ảnh .
Nhấn mạnh đây là dàn ý mang tính chất
tham khảo, định hướng.
Giáo viên chuyển ý, Cho học sinh hoạt
động nhóm.
- Phân công nhiệm vụ cho từng nhóm
( mỗi nhóm trình bày 1 phần) Đối với
học sinh yếu – trung bình giáo viên cho
học sinh thực hiện nói từng phần ( mở
bài, các ý trong phần thân bài hoặc kết
bài). Thời gian chuẩn bị là 5 phút.
- Sau 5 phút gọi đại diện nhóm trình bày
-Sự kính trọng biết ơn công lao của
thầy cô.
+ Kết bài: Khẳng định lại tình cảm
của em với thầy cô.
Luyện nói
15
Học sinh nhận xét bài của bạn ở 2 mặt:
nội dung và cách trình bày bài nói.
Sau khi gọi học sinh nhận xét giáo viên
nhận xét chung về ưu nhược điểm, động
viên khích lệ học sinh
- Gọi 1 học sinh trình bày 1 bài hoàn
chỉnh (Học sinh: khá, giỏi).
Giáo viên nhận xét động viên khích lệ
học sinh
Giáo viên chốt, chuyển ý sang đề 2
Giáo viên chiếu đề 2 lên màn chiếu
Câu hỏi: Em hãy xác định thể loại và
đối tượng biểu cảm trong đề 2
Học sinh xác định đối tượng và thể loại
Câu hỏi: Với đối tượng là sách vở thì
cảm xúc chính là gì?
Học sinh thảo luận theo 5 nhóm
Lần lượt 5 nhóm lên trình bày
- Học sinh trình bày phần dàn ý
- Học sinh nhận xét dàn ý của bạn
Giáo viên chuyển ý, cho học sinh trình
mình với sách
Luyện nói
Câu hỏi: Qua tiết học em rút ra những
yêu cầu gì của tiết luyện nói văn biểu
cảm? (Học sinh khá)
- Giáo viên khái quát bằng máy chiếu.
Yêu cầu:
16
+ Muốn người nghe hiểu, người nói
phải lập ý theo trình tự (dàn ý)
+ Nói tự nhiên, rành mạch, rõ ràng,
hướng tới người nghe
+Phát âm chuẩn, giọng điệu diễn cảm.
+Bài nói phải có tính liên kết.
4. Củng cố
- Giáo viên nhận xét chung giờ luyện nói, khắc sâu kiến thức văn nói và văn
viết, liên hệ giáo dục học sinh trong khi nói và viết.
Giáo viên chia sẻ cùng học sinh kinh nghiệm để có 1 bài nói tốt đó là:
+ Về nội dung cần nhớ 3 chữ “ T”:
- Tập trung.
- Tường minh.
- Thú vị.
+ Về hình thức:
- Trong sáng.
- Tự tin.
- Truyền cảm.
Khả năng nói tốt
trong tiết luyện nói
Khả năng nói chưa tốt
trong tiết luyện nói
7C : 42 học sinh
24/42 học sinh bằng 57,1%
18/42 học sinh bằng 42,9%
7A : 42 học sinh
29/42 học sinh bằng 69%
13/42 học sinh bằng 31%
Qua kết quả trên cho thấy khi áp dụng sáng kiến có sự chuyển biến theo
chiều hướng tích cực ở nhóm thực nghiệm lớp 7A. Đặc biệt hơn nữa là khi so sánh
kết quả của nhóm lớp 7C với nhóm lớp 7A thì chất lượng ở nhóm lớp 7A đã tăng
cao hơn nhóm lớp 7C với một khoảng cách khá cách biệt. Điều đó cũng đã khẳng
định một phần tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đã đưa ra và áp dụng.
Trong năm học này tôi đang mở rộng áp dụng sáng kiến trên đây cho tất cả các lớp
mà tôi đang giảng dạy, hy vọng sẽ tạo được bước chuyển biến cao hơn về khả năng
nói của các em học sinh trong kiểu bài luyên nói ở phân môn Tập làm văn.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1 Kết luận: bài học kinh nghiệm mà tôi rút ra được từ quá trình nghiên cứu và
vận dụng như sau
Về giáo viên: Muốn thực hiện đạt yêu cầu việc luyện nói cho học sinh giáo
không có mong muốn gì hơn được bày tỏ những đóng góp nhỏ vào công việc giảng
dạy văn và mong được quý thầy cô góp ý. Trong quá trình giảng dạy, tôi sẽ nỗ lực
nhiều hơn nữa để làm tốt nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn.
3.2 .Kiến nghị
Tổ khoa học xã hội đã tổ chức hướng dẫn cách viết sáng kiến kinh nghiệm
nhưng cần có thêm các buổi thảo luận viết sáng kiến kinh nghiệm.
Nhà trường, Phòng giáo dục nên tổ chức báo cáo sáng kiến kinh nghiệm có
tác dụng nâng cao chất lượng giáo dục để các giáo viên có cơ hội học tập kinh
nghiệm.
Trên thực tế khi thực hiện tiết luyện nói chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn:
Thời lượng chỉ có 45 phút cho nên nhiều em vẫn chưa được nói. Tiết luyện nói
chưa có tài liệu hướng dẫn cụ thể. Vì vậy tôi mạnh dạn đề xuất lên Sở Giáo dục
và Đào tạo cần điều chỉnh, bổ sung để giáo viên đứng lớp có điều kiện dạy tốt
hơn tiết luyện nói cho học sinh.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Quảng Xương, ngày 29 tháng 3 năm
2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Dung
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO