MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu............................................................2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...........................................2
3.1. Đối tượng.......................................................................2
3.2. Phạm vi nghiên cứu:......................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu......................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG......................................................................3
1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu...................................3
2. Thực trạng của vấn đề........................................................4
3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn
Tiếng Việt ở trường THCS bằng việc áp dụng kỹ thuật dạy học
bản đồ tư duy............................................................................6
3.1. Biện pháp:.....................................................................6
4. Hiệu quả.............................................................................15
4.1 Kết quả kiểm nghiệm so sánh, đối chứng.....................15
4.2. Bài học kinh nghiệm:...................................................16
III. KẾT LUẬN..............................................................................16
1. Kết Luận:............................................................................16
2. Đề xuất..............................................................................17
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
“Văn học là nhân học”.Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và
trong sự phát triển tư duy của con người. Là một môn học thuộc nhóm
khoa học xã hội, môn Ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục
quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là môn học thuộc
1
Trường học thân thiện, học sinh tích cực” chính là đổi mới phương pháp dạy học
để thay đổi tư duy và tăng sự hứng thú của cả giáo viên và học sinh . Từ đó cần
tìm ra nhiều phương pháp phù hợp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng của
việc dạy và học Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng. Để giúp học
sinh có kĩ năng hệ thống, ghi nhớ kiến thức được lâu, được kĩ, tôi thấy áp dụng
bản đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS là vô cùng quan trọng
và đó cũng là lí do tôi chọn lựa đề tài nghiên cứu " Một số biện pháp nâng cao
hiệu quả dạy học phân môn Tiếng Việt ở trường THCS bằng bản đồ tư duy"
này.
2. Mục đích nghiên cứu.
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu, vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ
tư duy, tôi nhận thấy phương pháp này rất có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng
dạy và học Ngữ văn. BĐTD không chỉ giúp bài học được hệ thống một cách
logic, dễ hiểu, dễ nhớ mà còn tạo được không khí sôi nổi trong lớp học, nâng
cao tính tương tác giữa thầy và trò Đặc biệt là phương pháp dạy học này đã đem
đến cho học sinh cái nhìn mới, tư duy mới về môn Ngữ văn.
Với đề tài này tôi mong muốn hướng dẫn cho học sinh học văn nói riêng
và học sinh nói chung cách xây dựng bản đồ tư duy trong việc học vào lúc nào
và như thế nào để đạt hiệu quả. Đây là một phương pháp dạy học tích cực kích
thích vai trò chủ động, sáng tạo và tự giác của người học sinh góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng
Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh
nghiệm chỉ gói gọn ở đối tượng học sinh của trường THCS Nga Tiến – Nga Sơn
– Thanh Hóa năm học 2016 -2017.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
năng tư duy phát hiện kiến thức của học sinh. Việc áp dụng bản đồ tư duy có thể
áp dụng cho nội dung từng phần học, bài học với khả năng sử dụng kiến thức
của một cá nhân trong quá trình nhận thức và giải quyết thực tế. Bằng những
tình huống rèn luyện trí óc, đòi hỏi học sinh phải vận dụng phối hợp các lĩnh vực
đọc hiểu mới đưa ra được giải pháp lựa chọn kiến thức để bổ sung vào sơ đồ tư
duy ở nhiều dạng của sơ đồ câm. Kết quả đạt được của quá trình dạy và học môn
Ngữ văn cũng như các môn học khác sẽ khả quan hơn rất nhiều khi giáo viên và học
sinh cùng biết áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS
Bên cạnh vai trò của việc áp dụng BĐTD vào dạy học, một vấn đề lí luận
quan trọng nữa cũng cần làm sáng tỏ, đó là vai trò của phân môn tiếng Việt trong
chương trình Ngữ văn THCS. Tiếng Việt là một trong những môn có tầm quan
trọng đặc biệt trong các môn khoa học xã hội - nhân văn, có vai trò trọng yếu
trong việc giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc. Chất lượng dạy học tiếng
Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp đến năng lực ngôn ngữ, năng
lực tư duy của các thế hệ nối tiếp, và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng
Việt, vận mệnh văn hoá Việt Nam. Với tư cách là một môn học, Tiếng Việt có
nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt,
3
quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động và những sản
phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp. Mặt khác, vì tiếng Việt là một công
cụ giao tiếp và tư duy nên môn Tiếng Việt còn đảm nhận thêm một chức năng
kép mà các môn học khác không có. Đó là chức năng trang bị cho HS công cụ
để giao tiếp, tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường.
Trong chương trình THCS, môn Tiếng Việt giữ vai trò “môn học công cụ”
giúp HS tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy ở nhà
trường. Nói cách khác, học sinh muốn thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, trước
hết phải nghiên cứu và rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt - chìa khoá
Nếu nhìn nhận vấn đề một cách khách quan ta dễ dàng nhận thấy đa số
giáo viên còn chưa thực sự đổi mới phương pháp dạy học. Trong đó phải nhận
thấy rõ đổi mới ở đây là đổi mới cả nội dung và hình thức hoạt động của giáo
viên và học sinh, đổi mới hình thức dạy học, đổi mới kĩ thuật dạy học với định
hướng phù hợp với nội dung bài học cụ thể.
Một vấn đề nữa đặt ra trong dạy và học phân môn Tiếng Việt trong
chương trình Ngữ văn THCS là bài học Tiếng Việt chiếm tỉ lệ lớn trong nội dung
chương trình và được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp, việc dạy Tiếng Việt
không thể tách rời dạy học văn bởi Văn học( Văn bản) là ngữ liệu trực tiếp cho
dạy học Tiếng Việt với ý nghĩa là ngữ cảnh rộng cho việc lý giải của các đơn vị
ngôn ngữ, đồng thời ngôn ngữ văn học là một trong những chuẩn mực cho việc
dạy học tiếng Việt hướng tới. Đây là tư tưởng được quán triệt trong việc xây
dựng chương trình cũng như việc dạy văn học trong nhà trường. Tất cả các GV
đều cho rằng môn tiếng Việt rất quan trọng đối với HS ở nhà trường
THCS nhưng về thực tế chất lượng học tập môn tiếng Việt của HS chỉ ở mức độ
trung bình vì HS không hứng thú học thậm chí không soạn bài trước khi đến lớp
GV. Một thực tế đáng quan tâm hiện nay là HS không chủ động phát biểu xây
dựng bài mà chỉ nghe giảng và ghi chép một cách thụ động, máy móc. Điều này
dần dần hình thành thói quen lười suy nghĩ, ngại tư duy trong HS...
Trong những năm học gần đây, với tư duy đổi mới phương pháp dạy học,
trong các đợt chuyên đề, chúng ta được tiếp cận với rất nhiều các kĩ thuật dạy
học mới để góp phần đổi mới phương pháp, gây hứng thú cho học sinh với môn
học. Song việc lựa chọn kĩ thuật dạy học nào vừa hiệu quả lại vừa phù hợp với
đối tượng học sinh lại là một vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên đứng lớp. Trong
quá trình dạy học và áp dụng kĩ thuật dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD), tôi
nhận thấy đây là một phương pháp dạy học tích cực. Cùng với các mảnh ghép,
khăn phủ bàn, …việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh
học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển
tư duy.
Sau kết quả điều tra ban đầu, tôi nhận thấy trên thực tế, đối tượng học sinh
tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động
tương tự. Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.
Tony Buzan đã sáng tạo ra bản đồ tư duy theo nguyên lí hoạt động của bộ
não. Bản đồ tư duy không những sử dụng chữ, số, các dòng kẻ mà còn có thể sử
dụng cả màu sắc và hình ảnh. Các dòng kẻ, chuỗi, chữ, số, và các danh sách
được xử lí bằng chức năng thần kinh của não. Như vậy bản đồ tư duy là một
công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ. Đó là
một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét,
màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não.
- Nguyên lí hoạt động: Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy đúng theo
nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của bộ não. Ở vị trí trung tâm của bản
đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ
đạo. Ý trung tâm đó được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các
6
nhánh chính. Từ các nhánh chính đó lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2
để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay
hình ảnh luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh
tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng.
- Phương thức tạo lập:
+ Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên mặt giấy .
+ Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm .
+ Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
-. Tác dụng của bản đồ tư duy:
+ Tiết kiệm thời gian, công sức.
+ Cung cấp bức tranh tổng thể. Kích thích tiềm năng sáng tạo.
+ Tổ chức và phân loại suy nghĩ. Ghi nhớ tốt hơn.
học...Từ kĩ năng chọn lựa đơn vị kiến thức có thể áp dụng BĐTD, học sinh dần
rèn được thói quen khái quát hóa trong bộ môn, trong các môn học và cao hơn là
áp dụng khả năng khái quát hóa trong các lĩnh vực của đời sống. Đó cũng chính
là mục tiêu tăng thực hành, gắn kiến thức với thực tiễn đời sống mà yêu cầu của
cuộc sống hiện đại đặt ra cho giáo dục hiện đại.
3.1.2.4. Để BĐTD thật sự là một phương pháp dạy học có hiệu quả, giáo
viên không chỉ hướng dẫn để các nhân học sinh lập được bản đồ tư duy mà quan
trọng hơn là còn gợi dẫn để học sinh biết thuyết trình về BĐTD mà mình vừa
lập. Có thể giao cho một nhóm học sinh lập BĐTD khái quát hóa nội dung kiến
thức đã học rồi thuyết trình trước tập thể, vừa rèn kĩ năng trình bày trước đám
đông vừa giúp học sinh thay đổi không khí giờ học, tạo mối quan hệ thầy - trò,
trò - trò...Đây cũng là một trong những yêu cầu của bộ môn theo đặc trưng môn học.
3.1.2.5. Dạy học các bài tiếng Việt với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy phải
đảm bảo sự tích hợp, phải tích cực hóa hoạt động học tập của HS, phải lấy học
sinh làm trung tâm, phải đảm bảo các quy tắc vẽ bản đồ tư duy: nhấn mạnh, liên
kết, mạch lạc..
3.1.3. Vận dụng BĐTD trong các tiết dạy học phân môn Tiếng Việt
3.1.3.1.Hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà
8
Dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và giúp HS hình thành, phát triển
năng lực tự học phải được thực hiện qua nhiều bước, nhiều khâu khác nhau
trong quá trình dạy học, trong đó bao gồm cả việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp
của cả GV và HS ở tất cả các môn học. Đổi mới PPDH Văn nói chung, dạy học
Tiếng Việt nói riêng được thực hiện qua nhiều khâu, nhiều bước, nhiều thao tác.
Muốn phát huy vai trò chủ thể của HS, GV phải biết khơi gợi, tổ chức, dẫn dắt
HS tham gia tích cực, chủ động vào bài học. Để đạt được mục đích này, chính
các em phải có sự chuẩn bị bài trước một cách khoa học qua phần hướng dẫn
giờ GV cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu
hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các
ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em
lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua
đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất
hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Sơ đồ minh hoạ :
3.1.3.3. Hướng dẫn HS vẽ bản đồ tư duy cho bài tiếng Việt học trên lớp
Trước hết, GV giới thiệu cho HS những hiểu biết về BĐTD, những nguyên
tắc vẽ và các bước vẽ BĐTD.Để tiến hành vẽ MM cho bài tiếng Việt, cần thực
hiện những bước sau đây:
Bước 1: Xác định và phân loại nội dung kiến thức
Khi lập BĐTD cần phân loại nội dung thật cụ thể, rõ ràng, mạch lạc, cần
phải đưa kiến thức về từng chủ đề, từng lĩnh vực có mối liên hệ với nhau, sau đó
chúng ta mới lập
Ví dụ: Tiết 66 Bài Ôn tập tiếng Việt (lớp 6) có thể khái quát hóa theo chủ
đề lớn là từ loại như sau:
10
Bước 2: Lựa chọn kiến thức để lập Mindmap
Như chúng ta đã biết, các bài tiếng Việt gồm hai yêu cầu: Cung cấp kiến
thức và luyện tập, vận dụng làm bài tập. Với yêu cầu thứ nhất, bài tiếng Việt tồn
tại dưới dạng những câu hỏi. Có nhiều loại câu hỏi để học sinh dễ dàng tiếp cận
kiến thức nhưng không phải với bất cứ bài nào nào chúng ta cũng có thể sử dụng
BĐTD để trả lời câu hỏi được. GV cần hướng dẫn cho HS tự chuẩn bị ở nhà
bằng việc lập BĐTD sau khi trả lời các câu hỏi.
Ví dụ khi dạy bài " Cách dẫn trực tiếp cách dẫn gián tiếp" SGK Ngữ văn 9,
mối liên hệ nào giữa các tiêu đề mà chưa thiết lập hay không, BĐTD đã đảm
bảo sự nhấn mạnh, tính thẩm mĩ, tính liên kết, mạch lạc hay chưa? Nếu không
còn vấn đề gì nữa thì việc lập BĐTD cho nội dung bài học đã hoàn thành.
12
3.1.3.4. Sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ gợi mở, kích thích quá
trình tìm kiếm kiến thức của học sinh:
Với những ưu điểm của mình, bản đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở,
kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của HS. Bước quan trọng nhất là giáo viên
giúp học sinh phát hiện, tìm kiếm được trung tâm bản đồ - trọng tâm bài học.
Sau đó theo nguyên lí BĐTD là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá
kiến thức bài học. Bằng trí tưởng tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn,
học sinh phải biết cách phân tích tìm ra những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất.
Khi các nhánh lớn được xây dựng GV cũng nên hướng dẫn học sinh sắp xếp
theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ở đầu mỗi nhánh. Điều đó giúp học
sinh dễ dàng ôn tập sau này.
Ví dụ khi dạy bài ôn tập Tiếng việt ở cuối học kì 1 và học kì 2 của môn Ngữ
Văn lớp 7 giáo viên có thể hệ thống hoá phần từ, phần câu bằng sơ đồ như sau:
Hay ôn tập phần câu lớp 8 giáo viên có thể cho học sinh khái quát thành sơ đồ
13
3.1.3.5. Sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ để củng cố, khái quát bài
học, chương- phần học của học sinh:
Sau mỗi tiết học, chương- phần học bao giờ cũng có phần củng cố, nhắc
lại kiến thức trọng tâm. Với cách học truyền thống, học sinh ghi chép và thực
đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương
pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Nga Tiến, tôi nhận thấy
bước đầu đã có những kết quả khả quan:
- Giáo viên đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong
hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên đã biết sử dụng BĐTĐ để
dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần.
- Đối với học sinh, việc áp dụng bản đồ tư duy vào việc học đã đang và sẽ
dần hình thành cho học sinh lối tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu
sắc. Học sinh học tập một cách chủ động, tích cực, luôn có cách nhìn nhận vấn
đề một cách có hệ thống khoa học, huy động được tất cả học sinh tham gia xây
dựng bài một cách hào hứng . Học sinh có thể dễ nhớ và khắc sâu được nội dung
bài học một cách sâu sắc. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng
BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số HS trung bình đã
biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Đặc biệt hơn các
em còn có thể phát triển được năng lực riêng của mỗi cá nhân như năng lực hội
hoạ: kẽ, vẽ, trình bày,…và vận dụng kiến thức được học ở trường lớp vào thực
tế đời sống.
Kết quả sau khi áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học Ngữ văn ở khối lớp 6, 8
cụ thể như sau :
Điểm
Khối
6
(80em)
8
(78 em)
Điểm kém
Điểm yếu
01
1.2
37
46.3
30
37.5
12
15.0
0
0
03
3.8
49
62.8
19
lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi
người một kiểu khác nhau, dùng màu sắc hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác
nhau cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng bản đồ tư
duy khác nhau.
Việc áp dụng bản đồ tư duy, đặc biệt việc sử dụng thành thạo và hiệu quả
BĐTD trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và
đáng khích lệ trong phương thức học tập của Học sinh và phương pháp giảng
dạy của Giáo viên. Chúng ta đều thấy, trong giảng dạy nhất là bộ môn Ngữ Văn
không có phương pháp, biện pháp nào là độc tôn, là vạn năng cả. Người dạy cần
kết hợp các phương pháp, biện pháp một cách sinh động để gây hứng thú cho
HS và nâng cao hiệu quả giờ dạy.
16
Do đó việc kết hợp hài hoà giữa lập bản đồ tư duy với một số phương
pháp dạy học khác sẽ phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh. Học
sinh có khả năng ghi nhớ kiến thức một cách có hiệu quả. Đây là kết quả mà bất
kì người giáo viên nào nhất là người giáo viên Ngữ văn hằng mong đợi. Kết quả
này sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp “trồng người ”mà mỗi chúng ta đã lựa
chọn. Nói như vậy đồng nghĩa với việc chúng ta đã đang và sẽ thực hiện tốt lời
dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại :
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người ”
Trên đây chỉ là những kinh nghiệm ít ỏi của của cá nhân trong quá trình
giảng dạy. Vì thế còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong với sự nỗ lực hết mình của bản thân cùng với sự đóng góp ý kiến của bạn
bè đồng nghiệp để SKKN của tôi được hoàn thiện hơn và có thể áp dụng có hiệu
quả trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn THCS .
2. Đề xuất.
Tên đề tài SKKN
1
Một số giải pháp dạy các văn
2
bản nhật dụng hiệu quả
Một số giải pháp dạy các văn
bản nhật dụng hiệu quả
Cấp đánh
giá xếp loại
Kết quả
Huyện
A
Tỉnh
C
Năm
học
2006
-2007