Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn học dân gian lớp 6 - Pdf 44

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Văn học dân gian có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bồi đắp tâm
hồn con người. Bởi văn học dân gian mang nhiều giá trị sâu sắc; là kho tri thức
vô cùng phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội, con người;
giáo dục đạo lí làm người như tôn vinh giá trị con người, tình yêu thương con
người, đấu tranh không ngừng để bảo vệ, giải phóng con người khỏi bất công,
cường quyền, thể hiện niềm tin bất diệt về chiến thắng của chính nghĩa và cái
thiện; hình thành những phẩm chất truyền thống tốt đẹp như tình yêu quê
hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, lòng vị tha, đức kiên trung, tính cần kiệm,
óc thực tiễn…; ngoài ra văn học dân gian còn có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần
quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc. Dạy học văn học dân
gian là giúp học sinh cảm nhận được những giá trị sâu sắc ấy.
Đối với học sinh lớp 6, văn học dân gian như một dòng suối mát lành tưới
vào tâm hồn trẻ thơ. Ở lứa tuổi mà ý thức và nhân cách đang phát triển, tâm hồn
đang trong sáng thì không gì gây tác động mạnh mẽ bằng những câu chuyện
thần thoại, truyền thuyết, cổ tích với những chi tiết đầy trí tưởng tượng hoang
đường, kì ảo, những truyện ngụ ngôn, truyện cười đầy sức hấp dẫn. Thế nhưng
để có những tác động mạnh mẽ, học sinh thực sự hiểu được những giá trị đặc
sắc của từng tác phẩm lại không phải là dễ bởi học sinh lớp 6 mới ở cấp Tiểu
học sang chưa quen với phương pháp học Ngữ văn của cấp THCS, chưa quen
với việc tiếp cận đọc hiểu văn bản dài để tìm ra giá trị nội dung, nghệ thuật, giá
trị tư tưởng của từng tác phẩm, chưa quen với việc nhận xét, đánh giá chi tiết
nghệ thuật trong văn bản… Vì vậy nếu giáo viên không tìm ra những biện pháp
dạy học tối ưu thì dễ dẫn tới tâm lí ngại học văn, hiểu tác phẩm một cách hời
hợt.
Xuất phát từ thực tế trên, làm thế nào để tác phẩm văn học dân gian thực
sự sống trong lòng các em, thực sự yêu thích và hiểu nội dung, nghệ thuật, tư
tưởng của từng tác phẩm, làm thế nào để bồi đắp tâm hồn, văn hóa dân gian,
nâng cao hiệu quả dạy học? Trong quá trình giảng dạy, tôi đã sử dụng một số
biện pháp gợi niềm hứng thú, phát huy tính tích cực chủ động tiếp cận văn bản

hóa dân gian với nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Vì vậy mục tiêu của
dạy học văn học dân gian là giúp học sinh hiểu, trân trọng, giữ gìn và phát huy
những giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc của ông cha qua từng tác phẩm.
Để đạt được mục tiêu đó, giáo viên phải luôn tìm tòi, đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá
trình lĩnh hội tri thức.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học là một trong những mục tiêu quan
trọng giáo dục đề ra.
2


II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã dạy, dự giờ và thực hiện khảo sát hứng thú
cũng như chất lượng học văn học dân gian của học sinh lớp 6A năm học 2014 2015 với đề khảo sát như sau;
Câu 1: Em có hứng thú khi học văn các truyện truyền thuyết, cổ tích,
truyện ngụ ngôn, truyện cười không ?
Câu 2: Em hiểu dụng ý nghệ thuật trong chi tiết Lạc Long Quân khi chia
tay Âu Cơ như thế nào; Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm
mươi con lên núi cùng nhau cai quản các phương, nếu có việc gì thì giúp đỡ lẫn
nhau đừng quên lời hẹn.
Kết quả đạt được về mức độ hứng thú học văn học dân gian như sau:
Sĩ số
32

Rất hứng thú
5

Hứng thú
10


nhiều hạn chế bởi vì;
- Giáo viên kết hợp chưa linh hoạt nhiều phương pháp giảng dạy, chưa
phát huy tối đa ưu thế của một số phương pháp dạy học văn.
- Chưa xác định trọng tâm, những điểm sáng nghệ thuật để làm nổi bật giá
trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm để dạy kĩ, dạy sâu.
- Chưa chú ý đến đặc trưng thể loại khi dạy học, tính liên hệ thực tiễn còn
xem nhẹ….

3


Bên cạnh đó, ở cấp Tiểu học, học sinh chưa được tiếp cận đọc – hiểu một
tác phẩm có độ dài như những tác phẩm văn học dân gian ở chương trình lớp 6,
lại phải tiếp cận với phương pháp học mới ở cấp THCS nên có rất nhiều bỡ ngỡ,
lúng túng khi đọc hiểu văn bản, thậm chí là có tâm lí ngại học….
Với những lí do trên nên một số giờ dạy chưa gợi được niềm say mê hứng
thú học tập văn học dân gian ở học sinh, chưa phát huy được tính tích cực chủ
động tìm hiểu của học sinh. Học sinh chưa cảm nhận sâu sắc nội dung tư tưởng
của tác phẩm văn học dân gian, chưa khám phá ra vẻ đẹp đậm đà và thi vị của
từng tác phẩm. Đặc biệt tác phẩm chưa thực sự sống trong lòng các em.
III. Các giải pháp giải quyết vấn đề
Để nâng cao chất lượng dạy học văn học dân gian lớp 6, tôi thực hiện
một số các biện pháp sau;
- Tạo tâm thế tiếp cận văn bản cho học sinh.
- Tổ chức đọc hiểu theo đặc trưng thể loại.
- Chú trọng khai thác những điểm sáng nghệ thuật thể hiện giá trị nội dung, tư
tưởng của tác phẩm.
1.Tạo tâm thế tiếp cận văn bản cho học sinh.
“Tạo tâm thế” cho học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản thực chất là việc
giáo viên tạo cho học sinh một tâm lý thoải mái, một xúc cảm, hứng thú và một

hồ. Từ đó sẽ tích cực tìm hiểu kiến thức để giải đáp vấn đề đặt ra trong văn
bản.
Thứ ba phát huy tối đa ưu thế của phương pháp đọc diễn cảm sẽ tạo
được sự lôi cuốn, hấp dẫn và niềm yêu thích học văn, ham muốn được tìm
hiểu tác phẩm cho học sinh, bước đầu học sinh cảm nhận được cái hay, cái
đẹp của hình tượng nghệ thuật qua hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu.
Để hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, giáo viên nên tìm hiểu cách đọc
từng văn bản, bởi vì mỗi văn bản có một giọng điệu riêng, một cách đọc
riêng, giáo viên phải rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm để đọc mẫu trước khi
hướng dẫn học sinh bắt nhịp được giọng điệu văn.
Khi hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên cần híng dẫn học sinh đọc
đúng ngữ liệu của từng văn bản, hướng dẫn chi tiết giọng đọc ở từng phần,
từng đoạn, từng nhân vật. Giọng đọc các truyện dân gian cũng gần như là
giọng kể, lúc lên bổng xuống trầm, lúc nhẹ nhàng, truyền cảm tạo không khí
xa xưa…
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh đọc truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh
giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc bằng giọng kể, chú ý đọc đoạn vua Hùng
ra điều kiện kén rể phải đọc lên giọng thể hiện thái độ rõ ràng, mạnh mẽ, dứt
khoát của vua Hùng, hay khi đọc đoạn giao tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh,
nên đọc giọng nhanh, gấp, thể hiện tình thế căng thẳng, quyết liệt để từ giọng
điệu đó, học sinh thấy được tình huống truyện cũng như tài năng, sức mạnh của
Sơn Tinh, Thủy Tinh hay chính là sức mạnh của nhân dân khi chế ngự thiên tai.
Hay khi hướng dẫn đọc truyện dân gian nước ngoài Ông lão đánh cá và
con cá vàng, truyện có rất nhiều nhân vật có lời đối thoại với nhau, giáo viên
5


nên tổ chức học sinh đọc phân vai, chú ý với học sinh khi đọc phải thể hiện được
tính cách nhân vật: Đối với ông lão giọng đọc chậm rãi, thể hiện sự hiền lành,
tốt bụng nhưng cũng không kém phần nhu nhược; giọng mụ vợ nhanh, lên giọng

để học sinh nắm vững nhân vật lịch sử được kể là vua Hùng, sự kiện lịch sử
được kể là sự kiện vua Hùng lập nước. Từ đó dẫn dắt học sinh đến tìm hiểu ý

6


nghĩa của sự việc cuối cùng được kể trong truyện là thể hiện thái độ đề cao, tôn
vinh nòi giống và ý nguyện đoàn kết thống nhất cộng đồng của nhân dân ta.
* Đặc trưng của thể loại truyện cổ tích là loại truyện dân gian kể về
cuộc đời một số kiểu nhân vật như nhân vật xấu xí, nhân vật bất hạnh, nhân
vật thông minh, nhân vật có tài năng kì lạ…. truyện cổ tích nêu cao khát
vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội, thể hiện cuộc đấu tranh quyết
liệt giữa cái thiện và cái ác, nhưng cuối cùng, cái thiện luôn luôn chiến
thắng. Cô Tấm mò cua bắt tép cuối cùng trở thành hoàng hậu. Anh Thạch
Sanh kiếm củi, kết thúc là một vị hoàng đế. Chàng Sọ Dừa dị dạng cuối
cùng trở thành phò mã. Còn những kẻ tham lam, nham hiểm, tàn ác nhất thời
có thể hưởng vinh hoa phú quý nhưng rốt cuộc sẽ bị trừng phạt. Những tiên,
bụt có xuất hiện không phải để thuyết minh cho lí tưởng tôn giáo mà chính
là để phù trợ cho cái thiện thắng cái ác. Lòng tin ở hiển gặp lành là một
niềm tin chất phác nhưng tốt đẹp biết bao, nuôi dưỡng trong tâm hồn ta
những cảm xúc trong sáng, những ý nghĩ tốt lành đối với con người và cuộc
đời. Với những giá trị đó, truyện cổ tích thực sự là những giấc mơ đẹp,
những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội. Đây là kho báu về
trí tuệ tâm hồn và thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân ta.
Để làm nổi bật được giá trị nội dung đó, truyện cổ tích bao giờ cũng
xây dựng 2 tuyến nhân vật đó là tuyến nhân vật thiện hay nhân vật chính
nghĩa và tuyến nhân vật ác, nhân vật xấu hay còn gọi là nhân vật phi nghĩa.
Vì vậy trong quá trình đọc hiểu, phân tích văn bản, giáo viên nên tổ chức
học sinh phân tích theo tuyến nhân vật thì học sinh sẽ dễ hiểu giá trị tác
phẩm, nắm vững đặc trưng của thể loại truyện cổ tích và bồi dưỡng sâu sắc

gắng mở rộng tầm hiểu biêt của mình, không được chủ quan, kiêu ngạo.
Để đạt hiệu quả giáo dục hơn nữa giáo viên cần liên hệ với thực tiễn
cuộc sống.
VD: Sauk hi học bài Ếch ngồi đáy giếng, giáo viên liên hệ cho học sinh
bằng câu hỏi Làm thế nào để em không bị chê cười là Ếch ngồi đáy giếng ? Với
câu hỏi này, học sinh vừa tự củng cố được kiến thức bài học, vừa liên hệ được
bản thân để rút ra bài học cuộc sống cho mình.
* Đặc trưng của truyện cười là loại truyện dân gian kể về những hiện
tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm gây ra tiếng cười mua vui hoặc phê
phán những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống. Về hình thức nghệ thuật,
truyện cười là thể loại truyện kể ngắn gọn nhất. Nó có tránh những chữ thừa,
những chi tiết thừa. Kết cấu chặt chẽ. Cái cười là sản phẩm của nhận thức lí
tính, là kết quả của sự phát hiện ra cái mâu thuẫn giữa nội dung và hình
thức, giữa lới nói và việc làm…
Khi dạy truyện cười không chỉ dừng lại ở chỗ gây cười mà cần phải làm
cho học sinh hiểu rõ truyện cười cái gì? Vì sao mà cười? Nghệ thuật gây cười
ở chỗ nào? Và suy nghĩ về cái đáng cười, về cái điều nằm ở phía sau hiện
tượng gây cười. Phân tích truyện cười nên theo các bước: phân tích “tình thế
xuất phát”, phân tích “điểm nút”, phân tích cái “mở nút” và tìm đối tượng
thực sự của cái cười trong truyện.

8


VD: Khi dạy truyện “Lợn cưới áo mới”, học sinh phải hiểu được truyện
cười về hiện tượng khoe khoang trong xã hội, cười vì hành động, ngôn ngữ
của từng nhân vật thích khoe của. Của chẳng đáng là bao mà vẫn thích khoe,
hành động và ngôn ngữ khoe của của các nhân vật đều quá đáng, lố bịch. Tác
giả dân gian đã tạo được cuộc ganh đua trong việc khoe của ở các nhân vật.
“Anh áo mới” kiên nhẫn đứng hóng ở cửa từ sáng đến tối, đang tức tối lại bị

9


là thể hiện sự phân bố dân cư vùng miền trong buổi đầu khai sinh đất nước, ý
nguyện đoàn kết cộng đồng của nhân dân và nhắc nhở nhân dân ta đều là an
hem một nhà do cha Rồng mẹ Tiên sinh ra nên phải đoàn kết, yêu thương,
đùm bọc lẫn nhau.
Như vậy việc chú trọng khai thác những điểm sáng nghệ thuật này, học
sinh sẽ hiểu được sâu sắc giá trị của tác phẩm và cách để khai thác sâu kiến
thức trọng tâm này, giáo viên nên sử dụng phương pháp nêu vấn đề để học
sinh thảo luận, trao đổi vừa tạo được tính tích cực chủ động lĩnh hội tri thức
vừa nâng cao hiệu quả bài dạy.
* Mô tả qua cấu trúc một bài dạy.
Tiết 21,22

Văn bản THẠCH SANH

I. MỤC TIÊU BÀI HỌC. Qua bài học, HS cần đạt được
1. Kiến thức: Nhóm truyện cổ tích ca ngợi người dũng sĩ.
- Niềm tin thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà của tác giả dân gian
và nghệ thuật tự sự dân giancủa truyện cổ tích Thạch Sanh.
2. Kĩ năng: Bước đầu biết cách đọc - hiểu văn bản truyện cổ tích theo đặc trưng
thể loại.
- Bước đầu biết trình bày những cảm nhận , suy nghĩ của mình về các
nhân vật và các chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong truyện.
- Kể lại một câu chuyện cổ tích.
- Tự nhận thức giá trị của lòng nhân ái, sự công bằng trong cuộc sống
- Suy nghĩ, sáng tạo, trình bày suy nghĩ về ý nghĩa và cách ứng xử thể
hiện tinh thần nhân ái, sự công bằng
3. Thái độ: Yêu thích truyện cổ tích, sự công bằng và giá trị chân - thiện - mĩ.

- Những đoạn thể hiện kịch tính cần đọc
nhanh, gấp.
- Lời của Lí Thông lúc nhờ vả thì đọc
giọng nhẹ nhàng, khéo léo, lúc dọa nạt
thì gằn giọng, đọc thể hiện được tính
cách nham hiểm và độc ác của nhân vật.
- Khi đọc lời văn kể về Thạch Sanh đọc
giọng chậm, trầm ấm thể hiện tính cách
nhân vật hiền lành, thật thà, nhân hậu…
* GV đọc mẫu một đoạn  HS đọc.
- GV cùng HS nhận xét cách đọc, kể của
học sinh.
* GVHDHS giải thích nghĩa của một số
từ khó; thiên thần, tứ cố vô than, nước
chư hầu, động binh ….
? Nhân vật chính của truyện là ai ? Thuộc
kiểu nhân vật gì trong truyện cổ tích ?
- Nhân vật là nhân vật Thạch Sanh, thuộc
kiểu nhân vật dũng sĩ. Đây là một trong
những kiểu nhân vật tiêu biểu của truyện
cổ tích.

11


? Truyện xây dựng 2 tuyến nhân vật đại
diện cho cái thiện và cái ác, hãy xác định
2 tuyến nhân vật đó ?
? Hai nhân vật này thực hiện rất nhiều sự
việc, đó là những sự việc gì ? Từ đó phân

? Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có
gì bình thường và có gì khác thường ?

a. Sự ra đời và lớn lên của Thạch
Sanh.
* Bình thường:
+ Là con của 1 gia đình nông dân
tốt bụng.
+ Sống nghèo khổ bằng nghề
kiếm củi. * Khác thường :
+ Do Ngọc Hoàng sai Thái tử
xuống đầu thai làm con.
+ Bà mẹ mang thai nhiều năm
mới sinh ra TS.

+ Thạch Sanh được thiên thần
dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi
? Dụng ý của tác giả dân gian khi kể về phép thần thông.
sự ra đời vừa bình thường, vừa khác
=> Cuộc đời và số phận rất gần
thường đó của Thạch Sanh?
gũi với nhân dân. Tô đậm tính chất

12


kì lạ, đẹp đẽ cho nhân vật lí tưởng.
Tiết 2

b. Những chiến công của Thạch

đấu kì diệu.
* NT: chi tiết thần kì tiếng đàn thần,
niêu cơm thần – vũ khí thần kì để
thực hiện công lí xã hội và cảm hóa
kẻ thù -> Là hình ảnh giúp tác giả
dân gian thể hiện ước mơ công lí và
tư tưởng nhân đạo, yêu hoà bình
- Cây đàn thần : giúp nhân vật được giải của nhân dân ta.
oan, kẻ gian bị vạch mặt, quân chư hầu
18 nước xin hang => Tượng trưng cho
tình yêu, ước mơ công lí và tinh thần yêu
chuộng hòa bình của nhân dân ta. Đó là
vũ khí thần kì để cảm hoá kẻ thù. khẳng
định tài năng , tình cảm của chàng dũng
sĩ có tâm hồn nghệ sĩ
? Tiếng đàn thần, niêu cơm thần là những
chi tiết nghệ thuật đầy trí tưởng tượng,
chứa đựng nhiều dụng ý nghệ thuật của
nhân dân ta. Theo em chi tiết này có ý
nghĩa gì ?

- Niêu cơm thần : Tượng trưng cho tình
thương, lòng nhân ái yêu hòa bình của
nhân dân ta.
13


c. Đức tính qúy báu của Thạch
Sanh.
? Qua những thử thách và những chiến - Sự thật thà, chất phác.


- Gian

- Vị tha

- ích kỉ

- Thiện

- ác

- Dũng cảm

- Hèn hạ

-> Chính diện
? Kết cục số phận của các nhân vật tiêu
diện.
biểu trong truyện ?
=> lên ngôi vua
- Mẹ con Lý Thông tham lam, độc ác,
xảo quyệt, tàn nhẫn ... mặc dù được TS thành bọ hung
tha tội chết nhưng đã bị lưới sét của thần
lôi và cũng là công lý của nhân dân trừng
trị hóa thành bọ hung đời đời sống dơ
bẩn  trừng trị tương xứng với thủ đoạn,

-> Phản
=> Bị hóa


2. ý nghĩa truyện :
? Từ nghệ thuật đặc sắc đó đã góp phần
thể hiện nội dung, ý nghĩa gì của truyện ?

- Thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo
đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân
đạo, yêu hòa bình của nhân dân ta.

3. Luyện tập, củng cố.
* Luyện tập: GV tổ chức HS thảo luận: Em rút ra bài học gì từ cuộc đời nhân
vật Thạch Sanh ?
- Thật thà chất phác, dũng cảm, tài năng, giàu lòng vị tha, nhân đạo và yêu
chuộng hòa bình.
? Em thích chi tiết nào trong truyện ? Vì sao ?
- HS nêu ý kiến, GV cùng HS nhận xét, bổ sung.
* Củng cố: Qua phần bài tập, GV củng cố nội dung cơ bản của bài học, Gọi
HS đọc ghi nhớ SGK.
IV. Hướng dẫn học bài và chuẩn bị bài mới.
- Luyện đọc, kể diễn cảm truyện.
- Tập trình bày những cảm nhận, suy nghĩ về các chiến công của Thạch
Sanh.
- Soạn bài: Chữa lỗi dùng từ.

15


IV. Hiệu quả của SKKN:
Sau khi thực hiện một số biện pháp trên, trong quá trình dạy học văn học
dân gian có sự kiểm nghiệm đánh giá, tôi nhận thấy học sinh rất có hứng thú
học, đa số các em chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học, đặc biệt các

12

7

0

Khá

TB

Yếu, kém

11

10

2

Câu 2:
Sĩ số
32

Giỏi
9

16


KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT


Người viết

Nguyễn Thị Hiền

17


18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status