MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Mùa thi đã gần kề, hàng triệu học sinh cuối cấp đang ráo riết chuẩn bị cho
lần “vượt vũ môn”. Đối với học sinh lớp 9, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 được gia
đình và bản thân học sinh đánh giá là bước ngoặt cuộc đời. Bởi đây là kỳ thi có
tính quyết định đến việc lựa chọn môi trường học tập mới, tự lập hơn trong 3
năm tới và định hướng tương lai sau này của học sinh. Vì vậy, bản thân học sinh
phải có sự chuẩn bị thật chu đáo và kĩ lưỡng.
Thế nhưng, từ lớp 1 đến lớp 9 cơ bản là học sinh chưa phải trải qua cuộc
thi cạnh tranh nào (trừ những cuộc thi học sinh giỏi dành cho đối tượng học sinh
giỏi) thì học sinh cứ đủ điểm là lên lớp. Vì thế học sinh chưa có kinh nghiệm và
chưa ý thức nhiều về sự cạnh tranh khi bước vào lớp 10 trong khi các bạn của
mình sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Bên cạnh đó, số lượng tuyển sinh của
từng trường đã được các Sở GD-ĐT phê duyệt nên tính cạnh tranh lại càng cao.
Chính vì vậy, đây được xem là nấc thang đầu đời của học sinh. Thành công của
học tập chỉ dành cho những em chịu khó, có ý thức học tập và được sự kèm cặp,
giáo dục nghiêm khắc cùng với cả những định hướng của gia đình và nhà
trường.
Có thể thấy đây là kì thi căng thẳng, nhiều áp lực đối với học sinh, đặc
biệt là đối với học sinh có học lực trung bình. Bởi ngoài tính cạnh tranh cao thì
dung lượng kiến thức các môn thi rất nhiều, thời gian ôn lại gấp rút nên học sinh
khó có thể nắm hết được khối lượng kiến thức đó. Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây đối
với mỗi thầy cô giáo là làm thế nào để học sinh có thể làm tốt bài thi vào 10?
Bản thân là giáo viên môn Ngữ văn đã nhiều năm dạy lớp 9 và ôn thi vào
10 tôi thấy, riêng môn Ngữ văn thì dung lượng kiến thức trong một bài thi tương
đối nhiều, bao gồm cả ba phân môn: Tiếng Việt, Văn bản và Tập làm văn. Trong
quá trình dạy học, tôi rất chú ý đến các đối tượng là học sinh có học lực trung
bình, bởi với học lực này thì để đủ điểm vào lớp 10 rất “bấp bênh”. Do đó, để
học sinh tránh điểm liệt, tránh mất điểm trong bài thi thì trong ba phần của một
bài thi Ngữ văn tôi rất chú trọng đến câu hỏi phần Tiếng Việt, dù nó chỉ chiếm
20% tổng số điểm của bài nhưng lại là phần thi dễ dàng có điểm nhất. Tuy nhiên,
đúc rút kinh nghiệm. Có thể quan sát thông qua việc dự giờ đồng nghiệp, quá
trình học tập của học sinh, tự kiểm nghiệm của bản thân. Quá trình quan sát có
thể diễn ra trong suốt một quá trình.
- Phương pháp so sánh: Phân loại, đối chiếu kết quả trước và sau khi áp
dụng những kinh nghiệm vừa tìm tòi đối với học sinh.
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp: bằng cách nêu vấn đề rồi đi
phân tích, sau đó thống kê và tổng hợp lại vấn đề một cách khái quát nhất.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình
tổ chức dạy học giữa giáo viên và học sinh như: phát hiện và giải quyết vấn đề,
hoạt động nhóm, vấn đáp, đàm thoại….
NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Trong hệ thống các môn học ở nhà trường Phổ thông, Tiếng Việt là môn
học, nội dung học giữ vai trò quan trọng. Bởi nó là cầu nối giữa con người với tri
thức khoa học, là phương tiện để học các môn khác, là chìa khóa trong giao lưu,
giao tiếp. Với tư cách là môn học độc lập, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho
học sinh những kiến thức về ngôn ngữ học và hệ thống tiếng Việt cùng với
những quy tắc sử dụng trong giao tiếp. Mặt khác vì tiếng nói là công cụ của tư
duy nên tiếng Việt còn đảm nhận thêm nhiệm vụ khác đó là trang bị cho học sinh
công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường. Do
đó Tiếng Việt đã được chú ý tập trung cao độ ở trường trình cấp Tiểu học và
xuyên suốt quá trình học tập của người học sinh.
Trong chương trình Ngữ văn của bậc THCS, phần Tiếng Việt dạy cho học
sinh ngoài việc củng cố thêm những kiến thức mà học sinh đã được học ở bậc
Tiểu học còn cung cấp những kiến thức ở mức độ đòi hỏi tư duy sâu rộng hơn
với nhiều nội dung khác nhau. Riêng phần Tiếng Việt lớp 9 cũng không nằm
ngoài mục đích đó. Nội dung học của học sinh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
như: từ vựng, ngữ pháp, biện pháp tu từ và một số nội dung liên quan đến giao
thời gian dài để tích lũy cho mình. Nhưng tôi thấy, khi lên lớp 9 học sinh vẫn
học như những năm trước, không có sự chủ động chuẩn bị từ trước cho mình,
cho đến khi kết thúc năm học bước vào kì ôn thi nước rút học sinh mới thật sự
chú tâm. Do đó lượng kiến thức học sinh tiếp thu được thường là lượng kiến
thức bị dồn ép nên đã dẫn đến việc nhớ trước quên sau, lẫn lộn giữa kiến thức
bài này với kiến thức bài kia, ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả bài thi.
- Thứ hai, với những em có học lực khá, giỏi lại thường học lệch do học
sinh dành nhiều thời gian cho các kì thi học sinh giỏi. Khi kì thi học sinh giỏi
kết thúc thì cũng đã hết 2/3 năm học. Với khoảng thời gian còn lại để chuẩn bị
cho kì thi vào 10 đối với học sinh là quá ít. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến
việc học sinh không thể tiếp thu đầy đủ lượng kiến thức của các môn học thi
vào 10.
- Thứ ba, do đặc điểm nơi cư trú của học sinh Yên Giang thuộc vùng
nông thôn, đời sống còn nhiều khó khăn, ngoài thời gian học ở trường thì phần
nhiều học sinh dành thời gian phụ giúp công việc gia đình. Mặt khác, một số
gia đình có phụ huynh làm ăn xa nên không thể quan tâm sát sao đến việc học
tập của con em mình. Khi học sinh bước vào lớp 9, phụ huynh không có sự
định hướng cụ thể, thường để học sinh tự định hướng cho mình.
Đây chính là những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình học tập của
học sinh nói chung và kì thi vào lớp 10 nói riêng. Cụ thể ở các bài thi cuối kì
(Bài khảo sát) thì tôi thấy có rất nhiều điểm thấp. Riêng đối với phân môn
Tiếng Viết học sinh thường mắc các lỗi không nắm được các dạng bài, không
xác định được yêu cầu của đề… tất cả đều xuất phát từ việc học sinh chưa nắm
vững kiến thức môn học.
2. Về phía giáo viên
Qua tìm hiểu các đồng nghiệp ở trường, tôi nhận thấy phần lớn các thầy
cô chưa thật sự coi trọng việc định hướng kiến thức cho học sinh bước vào lớp
10 mà mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức giống như dạy ở các lớp dưới.
Mặt khác, khi đi dự giờ, đặc biệt là dự giờ Tiếng Việt tôi thấy có những
giáo viên vẫn còn nặng vào việc bám sát sách giáo khoa, chỉ dừng lại ở kiến thức
9HS
III. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
1. Xác định kiến thức trọng tâm thi vào 10
Xác định kiến thức trọng tâm với mục đích giúp học sinh có được tâm
thế chủ động, có sự chuẩn bị trước về kiến thức để thi vào lớp 10. Do đó trong
quá trình dạy, tôi không chờ đến giai đoạn ôn thi mới định hướng cho học sinh,
mà tôi thường chủ động định hướng trong quá trình giảng dạy trên lớp từ đầu
năm lớp 9. Bởi nếu so sánh ta thấy, kiến thức phần Tiếng Việt để thi vào lớp 10
cũng chính là phần kiến thức học sinh thi ở kì thi Khảo sát chất lượng học kì I
và học kì II của Sở GD&ĐT. Qua các kì thi Khảo sát đó cũng chính là cơ hội
để học sinh cọ sát, thử sức của bản thân, thấy được những mặt mạnh cũng hạn
chế của mình, từ đó có hướng khắc phục những hạn chế về kiến thức và cách
trình bày trong bài thi.
Còn nếu đến giai đoạn ôn thi giáo viên mới định hướng phần kiến thức,
thì sẽ tạo nên áp lực căng thẳng cho học sinh. Bởi vì thời gian kết thúc năm học
cho đến ngày thi chính là thời gian để học sinh ôn và tổng hợp lại những kiến
thức đã được học chứ không phải là thời gian để học sinh học lại từng đơn vị
kiến thức như trên giờ học chính khóa. Do đó người giáo viên dạy lớp 9 phải
luôn luôn có sự chủ động định hướng trước kiến thức thi vào lớp 10 cho học
sinh.
Phần Tiếng Việt thi vào lớp 10 gồm những nội dung kiến thức sau:
- Các phương châm hội thoại
- Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp
- Sự phát triển của từ vựng
- Các biện pháp tu từ
- Khởi ngữ
Một hạn chế ở học sinh là khi học Tiếng Việt chỉ chú tâm vào phần bài tập
mà quên đi phần lí thuyết. Xác định dạng bài tập này để học sinh có sự chủ động
hơn trong việc nắm vững lí thuyêt rồi mới tiến hành làm bài tập ở mỗi bài học.
Dạng 2. Dạng bài tập tìm hoặc xác định.
Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh tìm hoặc xác định một vấn đề nào
đó ở trong câu văn hay trong đoạn văn. Đây là dạng bài tập nhận diện tương
đối dễ và cũng là dạng bài tập thường hay ra trong các kì thi khảo sát cuối kì và
thi vào lớp 10. Ví dụ:
Câu 1. Tìm khởi ngữ trong đoạn trích sau:
Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan - xi - păng ba nghìn một trăm
bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
(Đề thi vào lớp 10 năm học 2014 - 2015)
Câu 2. Từ tay trong những câu thơ sau được dùng theo nghĩa gốc hay
nghĩa chuyển?
- Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
(Chính Hữu, Đồng chí)
- Cũng nhà hành viện xưa nay,
Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
(Đề thi vào lớp 10 năm học 2016 - 2017)
Đối với dạng bài tập này thì chỉ cần học sinh nắm vững phần lí thuyết và
phần bài tập trong sách giáo khoa thì sẽ làm được, bởi nó không đòi hỏi mức
độ tư duy cao ở học sinh.
không cao. Nên ở sáng kiến này tôi sẽ tập trung vào việc hướng dẫn từng dạng
bài tập một để học sinh làm tốt hơn.
3. Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập
3.1. Dạng bài tập lí thuyết điền từ ngữ thích hợp vào dấu ba chấm (chỗ
trống)
Có một điều ta thấy, ở dạng bài tập này không yêu cầu học sinh viết lại
hoàn chỉnh một khái niệm hay một nội dung mà chỉ yêu cầu học sinh điền từ
ngữ còn thiếu vào chỗ trống (những từ ngữ quan trọng, trọng tâm của khái
niệm). Ví dụ:
Câu 1. Điền vào chỗ trống để có khẳng định đúng:
Khi giao tiếp cần chú ý nói ngắn gọn ......................... ; tránh cách nói
..................... (Phương châm cách thức).
=> Từ ngữ cần điền là rành mạch; mơ hồ
Câu 2. Điền từ ngữ còn thiếu vào chỗ trống để có kết luận đúng:
Có hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức
…………………………….và phương thức…………………………................................
=> Từ ngữ cần điền là ẩn dụ; hoán dụ
Thế nhưng, trong quá trình dạy học, trao đổi với học sinh thì tôi được
biết, khi học Tiếng Việt học sinh ngại nhất là học phần lí thuyết mà chỉ chú tâm
vào phần bài tập. Đối với các khái niệm đòi hỏi phải nhớ chính xác thì học sinh
thường nhớ một cách chung chung mơ hồ, đôi khi còn nhầm lẫn giữa khái niệm
này với khái niệm kia. Nhiệm vụ của giáo viên là phải đưa ra một phương pháp
phù hợp nhất để học sinh có thể nắm được nội dung phần lí thuyết một cách
đơn giản mà hiệu quả nhất.
Một trong những phương pháp mà tôi đã sử dụng đó là hướng dẫn học
sinh vẽ bản đồ tư duy hoặc vẽ sơ đồ đối với kiến thức này. Vì ưu điểm lớn nhất
của bản đồ tư duy và sơ đồ chính là khả năng khái quát toàn bộ kiến thức bài
học rất cao (đặc biệt chương trình Tiếng Việt lớp 9 có rất nhiều nội dung kiến
thức được dạy trong nhiều tiết), lại vừa tập trung vào những từ khóa, từ ngữ
trọng tâm của một khái niệm.
Bằng việc sử dụng bản đồ tư duy hoặc sơ đồ trong quá trình dạy, tôi thấy
học sinh đã hứng thú hơn nhiều khi học phần lí thuyết, điều này đã góp phần
quan trọng trong học tập của các em.
3.2. Dạng bài tập tìm hoặc xác định
Bất kì nội dung kiến thức nào cũng có dạng bài tập này. Tuy nhiên trong
quá trình hướng dẫn làm bài tập tôi thấy, học sinh làm sai nhiều nhất ở bài tập
Xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đó là rất nhiều em không phân biệt đâu
là nghĩa gốc, đâu là nghĩa chuyển trong từng trường hợp cụ thể.
Ví dụ: Xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển ở từ được gạch chân trong
các câu sau.
- Ông cho em ít hạt giống để trồng.
- Chạy ăn từng bữa.
- Bạn Nam ngồi đầu bàn.
Thay vì xác định từ hạt giống là nghĩa gốc, từ chạy và từ đầu là nghĩa
chuyển thì học sinh lại xác định từ hạt giống là nghĩa chuyển, từ chạy và từ
đầu là nghĩa gốc. Lỗi này diễn ra ở rất nhiều em.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy học sinh lại không xác định được, vì đây là
nội dung kiến thức học sinh đã được học từ lớp 6 ở bài Từ nhiều nghĩa và
hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Qua trao đổi tôi được biết, cơ bản học sinh
không nắm được cách xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển. Do đó khi làm bài
tập nhiều khi chỉ là sự xác định chừng. Do đó tôi đã cung cấp lại và cung cấp
thêm kiến thức cho học sinh. Tôi đã tiến hành như sau:
*Bước 1: Nắm vững khái niệm nghĩa gốc và nghĩa chuyển.
- Nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa
khác.
- Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc.
Ví dụ:
- Em bị đau chân. => nghĩa gốc, xuất hiện từ đầu
- Cái bàn này chân đã bị hư. => nghĩa chuyển, hình thành trên cơ sở của
gốc.
Cứng 2: Chỉ trình độ cao, tay nghề vững vàng, không thể dùng tay để
cảm nhận được, có tính chất trừu tượng => nghĩa chuyển
Cứng 3: chỉ về tính cách, bướng bỉnh, khó bảo, không thể cảm nhận bằng
tay được, có tính chất trừu tượng => nghĩa chuyển
Cách 3: Nếu cả hai nghĩa đều cụ thể khó phân biệt, có thể dựa vào các
dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu 1: Nghĩa của từ nói đến bản thân con người (hoặc động vật)
như chân, tay, tai, mắt, mũi... là nghĩa gốc. Ngược lại nếu nghĩa của từ nói đến
các đồ vật, vật có hình dáng, tính chất, hành động gần giống con người thì từ đó
được dùng theo nghĩa chuyển.
Ví dụ: Từ mũi
- Mũi cô ấy rất đẹp.
- Mũi kim đã bị gẫy.
=> Ta có: Mũi 1 là nghĩa gốc, Mũi 2: là nghĩa chuyển.
Từ đó học sinh sẽ dễ dàng phân biệt được từ mắt người nghĩa gốc với mắt
na, mắt tre, mắt bão nghĩa chuyển... hoặc miệng người nghĩa gốc với miệng bát
nghĩa chuyển...
- Dấu hiệu 2: Nếu nghĩa của từ dùng để chỉ về tự nhiên như các mùa trong
năm, mặt trăng..., hoặc bộ phận của thực vật như quả, lá, hoa... thì đó là nghĩa
gốc. Ngược lại nếu để dùng chỉ con người là nghĩa chuyển.
Ví dụ: Từ quả
- Vườn nhà em có rất nhiều loại quả đã ăn được.
- Quả tim của ông ấy đã yếu lắm rồi.
=> Ta có: Quả 1 là nghĩa gốc, quả 2 là nghĩa chuyển.
*Bước 3: Áp dụng làm bài tập
Sau khi hướng dẫn học sinh cách phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển để
củng cố kiến thức tôi sẽ cho học sinh làm bài tập. Tôi thường cho học sinh làm
3.3. Dạng bài tập chuyển đổi
Đây là dạng bài tập có mức độ khó hơn so với hai dạng trên. Vì trong
quá trình dạy tôi thấy phần bài tập này không được hướng dẫn cụ thể trong bài
học mà giáo viên cần phải hướng dẫn thêm cho học sinh. Chẳng hạn, ở bài
Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp, phần lí thuyết không hướng dẫn cụ
thể cách chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp hoặc ngược lại nhưng ở phần bài tập
lại có. Rồi ở bài Khởi ngữ cũng thế... Do đó khi hướng dẫn học sinh làm bài
tập, tôi đã “thoát li” sách giáo khoa, cung cấp thêm kiến thức cho học sinh. Cụ
thể như sau:
a. Cách chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp hoặc ngược lại
Đây là một nội dung trong bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp
không được hướng dẫn cụ thể trong sách giáo khoa. Để cung cấp thêm kiến
thức cho học sinh tôi đã tiến hành như sau:
* Bước 1: Yêu cầu học sinh nắm vững kiến thức về lời trực tiếp và lời
dẫn gián tiếp.
- Lời dẫn trực tiếp:
+ Nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý nghĩ
+ Được đặt trong dấu ngoặc kép kết hợp dấu hai chấm hoặc có dấu gạch
đầu dòng (lời thoại của nhân vật)
Ví dụ 1: Họa sĩ nghĩ thầm: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp
quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”.
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Ví dụ 2: Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ
tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
(Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương)
- Lời dẫn gián tiếp:
+ Thuật lại lời nói hay ý nghĩ có điều chỉnh cho thích hợp
+ Không đặt trong dấu ngoặc kép, thường đứng sau từ rằng hoặc là.
- Lược bỏ từ rằng hoặc từ là.
- Nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý nghĩ của nhân vật hoặc người.
*Bước 3: Áp dụng bài tập:
Câu 1. Hãy chuyển câu dưới đây thành cách dẫn gián tiếp:
Họa sĩ nghĩ thầm: « Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước
dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn. »
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Với bài tập này ta thấy khi chuyển sang dẫn gián tiếp thì bỏ đi dấu hai
chấm và dấu ngoặc kẹp, thêm từ rằng và điều chỉnh từ ngữ xưng hô từ cu cậu
thành anh thanh niên trong lời dẫn trực tiếp sao cho thích hợp.
Ta có kết quả sau: Ông họa sĩ nghĩ thầm rằng ông và cô kỹ sư tới bất
ngờ, chắc anh thanh niên chưa kịp quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn
chẳng hạn.
Câu 2. Chuyển lời dẫn trực tiếp sang lời dẫn gián tiếp ở ví dụ sau:
Thành: - Chiều nay tớ không đi lao động được nhé.
Ở bài tập này ta thấy lời dẫn trực tiếp là lời thoại của nhân vật có dấu
gạch đầu dòng trước lời thoại, từ ngữ xưng hô ở ngôi thứ nhất ( tớ), có tình thái
từ ở cuối câu (nhé). Khi chuyển sang gián tiếp ta bỏ dấu gạch đầu dòng, thay
đổi từ ngữ xưng hô sang ngôi thứ ba (hoặc lược bỏ), lược bỏ tình thái từ, thêm
từ là vào trước lời dẫn.
Ta có kết quả sau: Thành nói là chiều nay không đi lao động được.
Câu 3. Hãy chuyển ý kiến dưới đây thành cách dẫn gián tiếp.
Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với
tiếng nói của mình.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
Riêng với bài tập này ta thấy khác so với hai bài tập trên đó là chỉ có ý
kiến để chuyển, không có các dấu hiệu hình thức như trên. Tuy nhiên, nếu tinh
Để giúp học sinh tôi đã làm như sau:
* Bước 1: Xác định các trường hợp cấu tạo của khởi ngữ
-Trường hợp 1: Khởi ngữ là đối tượng (ĐT) mà chủ thể hướng tới ở trong
câu.
Ví dụ: Quyển sách này, tôi đã đọc rồi. (Ở thành phần vị ngữ đã lược đi từ
KN
ngữ chỉ đối tương.)
- Trường hợp 2: Khởi ngữ là đặc điểm (ĐĐ), hoạt động (HĐ), tính chất
(TC) của chủ thể ở trong câu.
Ví dụ: Học, anh ấy học rất chăm.
KN
HĐ
- Trường hợp 3: Khởi ngữ là sự lặp lại chủ thể (CT) ở trong câu.
Ví dụ: Đối với cháu, cháu cảm thấy rất vui.
KN
CT
* Bước 2: Hướng dẫn viết câu có khởi ngữ
Để hướng dẫn học sinh làm dạng bài tập này, tôi đã chia thành các bước
nhỏ sau:
- Xác định từ ngữ để chuyển thành khởi ngữ: Khi xác định từ ngữ trong
câu để chuyển thành khởi ngữ thì sẽ dựa vào việc phân loại ở bước thứ nhất.
- Hướng dẫn viết câu có khởi ngữ: Tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ có
cách chuyển khác nhau.
Ví dụ: Anh ấy học rất chăm.
Ông ấy là người nổi tiếng nhất thế giới.
+ Xác định các yếu tố trong câu (chủ ngữ (CN), hoạt động (HĐ), đối
tượng (ĐT), đặc điểm (ĐĐ)). Ta sẽ có như sau:
Anh ấy học rất chăm.
CN
HĐ
Ông ấy là người nổi tiếng nhất thế giới.
CN
ĐĐ
+ Từ để chuyển thành KN ở hai câu trên là từ học và từ nổi tiếng
+ Cách chuyển: Đưa từ học (câu 1) và từ nổi tiếng (câu 2) lên trước CN. Ở
VN có thể lặp lại thành phần KN. Có thể thêm trợ từ thì đứng sau KN hoặc thêm
quan hệ từ về, đối với ở trước KN.
Ta có kết quả như sau:
Học, anh ấy học rất chăm.
KN
CN
Về nổi tiếng thì ông ấy là người nổi tiếng nhất thế giới.
KN
CN
=> Về việc này, tôi thấy mình có lỗi. (KN là đối tượng trong câu)
KN
+ Tôi
CN
CN
thấy mình có lỗi.
HĐ
=> Đối với tôi, tôi thấy mình có lỗi. (KN là chủ thể trong câu)
KN CN
*Ngoài việc hướng dẫn cụ thể từng trưởng hợp tôi còn lưu ý với học sinh
đối với dạng câu ghép. Câu ghép có bao nhiêu vế thì sẽ có bấy nhiêu khởi ngữ.
Ví dụ: An có máy tính rồi nhưng An chưa biết sử dụng.
Đây là câu ghép có hai vế, do đó sẽ có 2 khởi ngữ. Cụ thể như sau: Máy
tính thì An có rồi nhưng sử dụng thì An chưa biết sử dụng.
KN
CN
KN
CN
cho chính xác và nhanh nhất, để dành thời gian cho những câu hỏi còn lại khó
hơn.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
Đối với hoạt động giáo dục: Thông qua quá trình vận dụng các giải pháp
trên, tôi thấy học sinh đã có sự chuyển biến rõ rệt đối với việc học phân môn Tiếng
Việt và việc ôn tập kiến thức thi vào 10. Đã biết khắc phục những hạn chế, yếu kém
của mình trong quá trình học và thực hành như: biết cách phân biệt các dạng bài
tập; có kĩ năng tiếp thu kiến thức, kĩ năng làm bài tập tốt hơn. Đây cũng chính là
những yếu tố quan trọng để học sinh làm bài tốt hơn trong kì thi vào lớp 10.
Đối với bản thân: Các biện pháp này không chỉ giúp cho chất lượng giảng
dạy được nâng cao hơn mà còn tích lũy thêm cho mình những kinh nghiệm và
phương pháp dạy học sao cho hiệu quả. Bản thân tôi cảm thấy thật hạnh phúc
khi mình đã góp một phần nhỏ trên con đường học tập của các em học sinh thân
yêu.
Đối với đồng nghiệp và nhà trường: Tuy đây chỉ là những kinh nghiệm
của cá nhân bản thân những tôi nghĩ sẽ tác dụng nhất định đối với các đồng
nghiệp trong nhà trường trong dạy học phân môn Tiếng Việt. Từ đó tạo động lục
để mọi người cùng nhau học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với nhau để có thêm
những kinh nghiệm mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà
trường.
Để kiểm nghiệm hiệu quả của sáng kiến tôi đã ra đề thi thử. Kết quả như
sau:
Lớp
Sĩ số
9A
Trên đây là một vài kinh nghiệm tôi đã sử dụng trong việc hướng dẫn học
sinh lớp 9 học phần Tiếng Việt thi vào 10. Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian, tư
liệu và trình độ cho phép nên trong quá trình rút ra kinh nghiệm cho mình, tôi đang
còn gặp nhiều vướng mắc, bỏ ngỏ nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục tìm hiểu sâu
hơn. Kính mong sự đóng góp chân tình của các đồng nghiệp.
II. Kiến nghị
- Đề nghị Phòng Giáo dục thường xuyên tổ chức các chuyên đề về phương
pháp dạy học Ngũ văn, mở các lớp học ngoại khoá để giáo viên có cở hội trao đổi,
học tập những kinh nghiệm của nhau.
- Đề nghị nhà trường tổ chức các buổi thảo luận, trao đổi của tổ, tham quan
giao lưu giữa các trường với nhau để nâng cao chất lượng giờ dạy.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Yên Giang, ngày 10 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm do tôi viết, không sao chép
nội dung của người khác!
Người viết
Phùng Chung Thủy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngữ văn 9 tập 1, NXB Giáo dục
2. Ngữ văn 9 tập 2, NXB Giáo Dục
3. Sách giáo viên Ngữ văn 9 tập 1, NXB Giáo dục
4. Sách giáo viên Ngữ văn 9 tập 2, NXB Giáo dục
5. Ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn (Dành cho học sinh tỉnh Thanh Hóa),
Trang
1
1
2
2
2
3
3
4
5
5
6
8
8
10
13
18
18
20
20
20
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP
PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI
TỪ LOẠI C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phùng Chung Thủy
Chức vụ: Giáo viên Trường THCS Yên Giang
đánh giá
xếp loại
Để có giờ dạy Tiếng Việt hiệu
Phòng
B
2006 – 2007
quả (Ngữ văn 7)
GD&ĐT
Kinh nghiệm khắc phục khó
khăn trong việc
giảng
dạy
Tiếng KIẾNPhòng
TÓM
TẮT
SÁNG
KINH NGHIỆM
A
2011 – 2012
Việt lớp 7 cho học sinh vùng
GD&ĐT
khó
Tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong dạy học chương
Phòng
B
2012 – 2013
trình địa phương môn Ngữ văn
GD&ĐT
Nghị luận xã hội
Góp phần nâng cao ý thức học
sinh thông qua giáo dục kĩ năng
Phòng
C
2015 – 2016
sống cho học sinh qua phần bài
GD&ĐT
tập Nghị luận xãNgười
hội lớpthực
9
hiện: Phùng Chung Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Yên Giang
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ văn
YÊN ĐỊNH, NĂM 2017