SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG VIẾT BÀI
VĂN TỰ SỰ LỚP 6
Người thực hiện: Cao Thị Tình
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS TT Thọ Xuân
Huyện Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2016
1
MỤC LỤC
1. Mở đầu:
1
2. Nội dung sáng kiến
1
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn ngoài việc trang
bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng vấn đề văn học, tạo cho học
sinh khả năng khám phá về vẻ đẹp của tác phẩm văn học còn có nhiệm vụ giúp
cho học sinh hình thành và phát triển khả năng sản sinh văn bản mới( nói và
viết).
Trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiện hiện đại, thông tin
đại chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đường ham chơi điện
tử, sách kiếm hiệp. Các em đã không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu vì vậy
viết được một đoạn, bài văn quả là một điều rất khó đối với các em. Nhiều em
không ngần ngại bê nguyên si bài văn mẫu, lắp ghép những mảnh vụn mà các
em đã nhặt nhạnh được để tạo một bài văn thiếu lô gích. Các nhà giáo dục cho
rằng: Học trò ngày nay không còn là “chiếc bình chứa” để thầy rót kiến thức
vào nữa, mà các em là “ngọn lửa”. Việc dạy của thầy là phải làm sao tiếp cho
“ngọn lửa” bùng cháy lên niềm khát vọng chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến tạo
cho học trò một “con đường” để các em tự học.
Để viết được một đoạn văn, bài văn hay không phải dễ đối với học sinh hiện
nay. Bởi vì các em học sinh cần phải có kĩ năng quan sát, vận dụng tổng hợp các
kiến thức trong môn học, các kiến thức trong đời sống xã hội và đặc biệt phải có
vốn từ phong phú để đưa vào làm một đề văn cụ thể. Trong môn tập làm văn 6
kì I, phần hướng dẫn học sinh viết một bài văn tự sự ( dạng văn bản sáng tạo)
chiếm thời lượng tương đối lớn. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy, tôi thấy các em
chưa biết lập dàn bài, dựng đoạn trước khi bước vào khâu viết văn bản, sự việc
sắp xếp thiếu tính hợp lí, chưa làm nổi bật được nhân vật chính. Thường thì học
sinh nhớ đâu viết đó, viết lan man dẫn đến quên ý, ý nọ xọ ý kia, kể lể dài dòng,
các ý trùng lặp, bài văn không nhất quán, không làm nổi bật được nội dung, chủ
đề của tác phẩm. Đặc biệt, một thực trạng đáng buồn là học sinh không biết tách
đoạn, phần thân bài là một đoạn lớn, các đoạn văn chưa đúng với chức năng,
* Tự sự tưởng tượng:
- Là kể lại một câu chuyện theo trí tưởng tượng của người kể, không có sẵn
trong sách vở hay trong thực tế.
- Sự tưởng tượng đó không thể hiện tùy tiện mà phải dựa vào những điều có
thật trong cuộc sống đời thường rồi bổ sung, tưởng tượng thêm nhằm đưa đến sự
hấp dẫn, thú vị cho truyện.
- Tưởng tượng đóng vai trò tích cực trong cuộc sống, tạo nên những hình ảnh
rực rỡ, phản ánh ước mơ, khát vọng cao đẹp của con người.
- Như vậy, điều quan trọng là câu chuyện tưởng tượng phải có diễn biến tự
nhiên, hợp lí vì chứa đựng ý nghĩa xã hội.
* Mục đích của tự sự:
- Thông qua nhân vật, chủ đề, giọng điệu kể, người kể giải thích sự việc, tìm
hiểu con người, nêu vấn đề bày tỏ thái độ yêu ghét, khen chê.
b. Sự việc và nhân vật trong văn tự sự:
* Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách rõ ràng:
5
-
Trong thời gian cụ thể
Ở địa điểm cụ thể
Do nhân vật cụ thể
Có nguyên nhân, diễn biến và kết quả
Đặc biệt, sự việc được sắp xếp theo một trình tự, một diễn biến hợp lí để
thể hiện tư tưởng của người kể.
* Nhân vật:
- Nhân vật chính và nhân vật phụ:
+ Nhân vật chính: xuất hiện nhiều, từ đầu đến cuối, được tập trung khắc họa
trên nhiều phương diện: tên tuổi, lai lịch, diện mạo, tài năng, tính cách, hành
- Ngôn ngữ tả: tả nhân vật, tả khung cảnh làm nền, làm phông cho câu chuyện.
- Ngôn ngữ nhân vật: lời đối thoại và độc thoại của nhân vật.
d. Thứ tự kể trong văn tự sự:
6
* Kể theo dòng chảy thời gian: (kể xuôi)
- Câu chuyện được kể theo sự việc diễn ra, sự việc nào diễn ra trước thì kể
trước, sự việc nào diễn ra sau thì kể sau, kể cho đến hết: các truyện dân gian
được kể theo lối này.
* Kể theo dòng hồi tưởng và phép đồng hiện:( kể ngược)
- Có lúc chuyện sau được kể trước, chuyện trước được kể sau, các sự việc đan
xéo nhau, mục đích gây bất ngờ, hứng thú cho người đọc, tô đậm tính cách nhân
vật: các truyện đương đại thường kêt theo kiểu này.
e. Lời văn, đoạn văn tự sự:
* Lời văn:
- Lời văn giới thiệu nhân vật: tên gọi, lai lịch, hình dáng, tài năng, tính nết, tâm
hồn, quan hệ tình cảm...
- Lời văn kể việc: kể hành động, việc làm, kết quả và sự thay đổi do hành động
đó đem lại.
* Đoạn văn:
Bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Đoạn văn tự sự có thể giới thiệu về nhân
vật ( lai lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng...) hoặc kể về các việc làm, hành
động, lời nói, kết quả và sự thay đổi do các hành động ấy đem lại. Ở những đoạn
có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với một đoạn thoại, tức là
đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộc
thoại.
g. Chủ đề và dàn bài của một bài tự sự:
* Chủ đề:
- Là vấn đề chủ yếu, là lí tưởng mà người kể muốn thể hiện, gửi gắm qua văn
+ Có thể kết bài theo hướng mở: Hành động của nhân vật vẫn như đang còn tiếp
diễn.
2. Thực trạng vấn đề:
a. Kết quả, khảo sát nghiên cứu:
Năm học
Tổng số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
HS
2013 -2014
27
0
5
15
7
2014 -2015
45
2
7
28
8
- Số học sinh nắm được kiến thức cơ bản về văn tự sự: 74,1%
- Só học sinh nắm chưa chắc kiến thức : 25,9 %
- Số học sinh biết viết đoạn tương đối hoàn chỉnh: 15%
- Còn lại số học sinh không hiểu, viết chưa đúng, chưa hay.
b. Nguyên nhân của thực trạng trên:
* Về phía giáo viên:
thức chưa cao, về nhà không làm bài (không luyện viết) nên khi viết thường
vụng về, lúng túng.
* Cơ sở vật chất của nhà trường:
Trang thiết bị và đồ dùng trực quan như tranh ảnh, băng hình chưa có hoặc
chưa đáp ứng được nhu cầu của môn học.
- Sau nhiều năm trăn trở trong quá trình giảng dạy, tôi đã có những kinh
nghiệm giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương trình Ngữ văn 6.
3. Giải pháp tổ chức thực hiện:
1.1. Giải pháp:
a. Đối với giáo viên:
Người giáo viên phải nắm lấy ưu thế của học sinh như: những tri thức, vốn
sống, tư tưởng, tình cảm để phát huy những khả năng cao hơn; đồng thời, qua đó
uốn nắn, điều chỉnh, hạn chế những lệch lạc trong nhận thức, vốn sống, tư tưởng
của các em.
Giáo viên không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là
người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động
tìm tòi, khám phá, giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Giáo viên phải có
năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai trò
của học sinh và hoạt động dạy học, từ cách dạy thông báo - giải thích- minh họa
sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá.
Giáo viên phải thực sự say mê, tâm huyết với nghề, biết truyền lửa, khơi
gợi niềm đam mê văn học trong bài giảng, kích thích năng lực quan sát, tư duy,
sáng tạo của học sinh.
Việc luyện viết bài văn tự sự là rất cần thiết, bởi học sinh viết tốt bài văn
tự sự có nghĩa là đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học văn.
Trong thực tế giảng dạy môn Tập làm văn lớp 6 ở trường THCS hiện nay,
đặt trọng tâm ở thực hành: xây dựng qua bài thực hành, thực hành nhận biết và
thực hành làm văn bản. Do đó điểm mới và khó trong chương trình là phương
pháp dạy thực hành.
b. Đối với học sinh:
Để khắc phục được khó khăn đó và học sinh thực hiện tốt bài này tôi đã kết
hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em và thời gian phụ đạo buổi
chiều để hướng dẫn các em thực hành.
Ví dụ:
Đề 1. Cho đề văn: Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng bằng lời văn của em.
* Yêu cầu trả lời:
- Kiểu bài của đề bài là gì?
- Em hiểu thế nào là kể bằng lời văn của em?
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào?
* Lưu ý: Đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ quan trọng.
Bước 2. Tìm ý, lập dàn ý và xác định ngôi kể:
* Lập ý:
Trong việc tìm ý giáo viên cần lưu ý các em các thao tác tưởng tượng, hư cấu.
* Lập dàn ý:
Học sinh lập dàn ý theo bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
* Xác định ngôi kế: GV hướng dẫn học sinh lựa chọn ngôi kể phù hợp để thể
hiện tốt nhất nội dung mà mình muốn gửi đến người đọc. Hai ngôi kể: ngôi kể
thứ nhất và ngôi kể thứ ba.
Bước 3. Xác định câu chủ đề cho từng ý, mỗi ý viết thành một đoạn văn.
Mỗi ý lớn trong phần dàn ý sẽ viết ít nhất một đoạn văn. Cần cho học sinh
nắm được khái niệm và nhận biết đoạn văn:
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo lập văn bản, do nhiều câu tạo thành.
10
Về hình thức: bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm
xuống dòng.
Về nội dung: đoạn văn chỉ biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh.
Trong bài văn tự sự sẽ có những nội dung như: kể về nhân vật, kể về các sự
việc, diễn biến các sự việc đó... Như vậy, mỗi nội dung đó cần được thể hiện
* Mở bài trực tiếp: Mở bài bằng cách giới thiệu về nhân vật hoặc sự việc.
Tôi đã được học và tiếp xúc với rất nhiều thầy cô giáo. Nhưng tôi không thể
nào quên được cô Nguyệt đã dạy tôi hồi học lớp 4 trường Tiểu học mà tôi từng
mắc lỗi.
* Mở bài gián tiếp: Là cách mở bài yêu cầu cao hơn, đòi hỏi học sinh phải có sự
tư duy, sự lựa chọn.
- Dùng phương thức tự sự kết hợp với miêu tả để giới thiệu sự việc, nhân vật và
tình huống câu chuyện.
Ví dụ: Sau một đêm mưa rào, bầu trời quang đãng. Bình minh lên! Một bình
minh thật trong trẻo. Đâu đó trong không gian vẫn còn đọng chút hương vị của
trận mưa đêm. Mặt trời lên cao dần. Những tia nắng vàng tươi làm cảnh vật
thêm bừng sáng. Cây cối trong khu vườn xôn xao. Chúng hớn hở phô ra bộ cánh
màu xanh rờn lấp lánh những giọt mưa còn đọng lại.
- Nêu tình huống hoặc sự cố nào đó hay kết cục câu chuyện, số phận nhân vật
rồi ngược lên kể lại từ đầu, nêu chủ đề câu chuyện.
Ví dụ: Hoan hô! Hoan hô! Sẻ Em giỏi quá!
Cả khu rừng xôn xao những tiếng reo vui. Việc sẻ em biết bay đã trở thành
một sự kiện thật quan trọng. Từ chị sóc nâu cho đến bác Nhím già, ai cũng có
lời chúc mừng khiến Sẻ Em cảm động ứa nước mắt.
- Bằng cách bộc lộ cảm xúc:
Ví dụ: Tuổi thơ - hai tiếng ấy thật là thiêng liêng, có lẽ bởi vì thế mà ai cũng
nâng niu, gìn giữ trong trái tim mình. Đó là những hoài niệm đẹp khó phai mờ:
Đêm trăng nghe bà kể chuyện cổ tích, buổi chiều thả diều trên con đê... Và với
12
tôi cũng vậy, kỉ niệm về mùa thu năm ấy với hình ảnh người cha cứ sáng mãi, cứ
dội về mỗi khi nhớ lại, mỗi khi bâng khuâng.
Việc hướng dẫn học sinh viết theo các cách mở bài như vậy khiến mở bài của
Bước 1.Xác định sự việc chính, tình tiết câu chuyện.
? Truyện có những sự việc nào.
(1) Vua Hùng kén rể
(2) Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn
(3) Vua Hùng ra điều kiện chọn rể
(4) Sơn Tinh đến trước được vợ
(5) Thủy Tinh đến sau, tức giận, dâng nước đánh Sơn Tinh
(6) Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh thua,
đành rút quân về.
13
(7) Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng
đều thua.
? Xác định các tình tiết cho các sự việc trên.
? Trong các sự việc, sự việc nào có thể lồng các yếu tố miêu tả, biểu cảm và
nghị luận.
Sau khi nêu câu hỏi, tôi cho học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi, sau đó yêu
cầu các em viết thành các đoạn văn
Đoạn văn kể sự việc: Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn.( yếu tố miêu tả)
Sáng hôm ấy, có hai chàng trai đến cầu hôn. ai cũng mang cốt cách phi
phàm, không giống người thường. Trong bụng ta đã có phần ưng lắm. Một
người tự xưng là Sơn Tinh, tướng mạo khôi ngô, dáng vẻ hùng dũng và oai
phong. Sơn Tinh mặc áo bằng da hổ trắng, vai mang cung tên, tay cầm rìu lớn,
giọng nói oang oang. Người này tài phép cao cường: vẫy tay về phía đông, phía
đông lập tức nổi lên nhiều cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng
dãy núi đồi. Người thứ hai cũng không kém. Người đó tự xưng là Thủy Tinh,
sống ở miền nước thẳm khoác trên mình bộ giáp bằng vẩy cá, sáng lóng lánh
dưới ánh mặt trời. Tay cầm một thanh mâu lớn, cao hơn trượng. Khi thanh mâu
dãy núi dựng lên với những vách đá cao ngất, trùng trùng , điệp điệp khiến bọn
địch tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn chờ chết. Chúng khóc lóc như mưa, vẫy cờ
trắng, lê gối quỳ lạy xin hàng. Mã Lương động làng thương , cấp cho chúng
ngựa và lương thảo để quay đầu về nước. Chàng cũng không quên mở hội khao
quân để ăn mừng chiến thắng.
* Cách 2:
-Kể sự việc 1. Mã Lương rẽ vào một quán tranh ven đường.
Mã Lương sống giản dị, đạm bạc, trong làng ai ai cũng yêu quý. Thỉnh
thoảng, Mã Lương dùng cây bút thần đi đó đây tìm cách giúp đỡ những người
nghèo khổ. vào một ngày nọ, Mã Lương đi qua một quán nhỏ ven đường. Thấy
trong quán treo nhiều tranh quý, mã Lương bèn rẽ vào.
- Kể sự việc 2. mã Lương gặp ông cụ bán tranh và được nhận làm học trò.
Mã Lương chăm chú nhìn kĩ từng bức tranh. Bức nào cũng đẹp, nhưng
điều kì lạ là màu sắc và đường nét có nhiều điểm giống với những bức tranh
của mình. Đang mải mê ngắm nhìn, bỗng Mã Lương nghe có tiếng người nói:
- Ta thấy cháu xem tranh kĩ lưỡng vậy, hẳn cháu là người biết vẽ phải
không?
Mã Lương ngẩng đầu, thấy trước mặt mình một ông già râu tóc bạc phơ, mắt
sáng, nhân từ, hiền hậu, trông rất quen như đã có lần nào chàng đã gặp. mã
Lương lễ phép đáp:
- Thưa cụ, cháu có biết vẽ đôi chút ạ!
Ông già liền gọi cô cháu gái lấy giấy và bút vẽ ra rồi nói với Mã Lương:
- Giờ cháu hãy thử vẽ cho ta xem. Nếu cháu vẽ tốt, ta sẵn sàng nhận cháu làm
học trò.
Mã Lương cầm bút và giấy vẽ. Một lát sau, Mã lương đã vẽ xong cảnh đẹp
quê hương mình. Ông già ngắm nhìn bức vẽ và gật đầu, tỏ vẻ ưng ý lắm:
- Cháu là người có hoa tay đấy. Vẽ rất có hồn. Từ nay, cháu hãy ở lại đây làm
học trò của ta.
- Kể sự việc3.
Từ đó, ông hết lòng dạy bảo Mã Lương và cô cháu gải tập vẽ. Ngày tháng
Sau khi đưa ra đề bài, giáo viên hướng dẫn và cho học sinh luyện viết và
trình bày trước lớp để nhận xét và chữa. Cuối cùng giáo viên đưa các đoạn văn
mẫu cho học sinh đọc và học tập cách viết.
+ Đoạn văn xây dựng nhân vật bà lão:
Lại nói về mụ vợ ở nhà. Chờ mãi không thấy ông lão về, mụ quyền rủa lão
hết lời . Nhưng rồi sau đó cuộc sống nhung lụa giàu sang, quanh năm yến tiệc,
kẻ hầu người hạ khiến mụ nhanh chóng quên đi ông lão.
Ngày qua tháng lại, nhưng cuộc sống quá đầy đủ khiến mụ cảm thấy nhàm
chán. Mụ nghĩ:" Sao ta nhiều kẻ hầu người hạ, cuộc sống giàu sang phú quý
như thế mà lại không thấy hạnh phúc? " Mụ bỗng nhớ lại những ngày còn bên
ông lão đánh cá trước kia. Ngày ấy tuy vất vả, chỉ có rau cháo qua ngày nhưng
sao hạnh phúc thế. Sáng nào mụ cũng tiễn chồng ra khơi và chiều chiều lại
ngóng chồng trở về trong nỗi lo lắng, mong mỏi, nhớ thương. Dù chỉ đánh được
dăm con cá nhỏ nhưng cả hai vợ chồng đều cảm thấy sung sướng.
Vậy mà giờ đây, người từng gắn bó với mụ bao năm tháng khó khăn nhất của
cuộc đời đâu rồi? cuộc sống nhung lụa của mụ hoàn toàn thiếu vắng ông lão,
giờ đây, mụ bỗng cảm thấy tất cả trở nên trống rỗng, vô vị, tẻ nhạt. Một nỗi xót
xa, ân hận bỗng dâng lên ngập lòng... Mụ bật khóc nức nở và lao nhanh về phía
biển. Mụ vừa chạy vừa khóc vừa gọi ông lão trở về.
+ Đoạn văn miêu tả ngoại hình: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lựa
chọn những chi tiết tiêu biểu để miêu tả nhằm mục đích góp phần nổi bật đặc
trưng nhân vật, cần tránh sa vào văn miêu tả.
Ví dụ: Cô không đẹp, chỉ xinh thôi. Và tính cô cũng như tuổi cô còn trẻ con
lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa cô đã tưởng người ta chọc ghẹo
mình, díu đôi lông mày lại và ngoe nguẩy cái mình. Khách trông thấy chỉ cười.
+ Đoạn văn có kết hợp với yếu tố nghị luận: Phần này chỉ áp dụng đối với học
sinh khá và giỏi. Bởi vì đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận phải sang
16
Bước 4. Đọc và sửa chữa.
Bài viết cần đọc và sử chữa một cách triết để. Để việc chữa lỗi hiệu quả đối
với học sinh, khi đánh giá bài viết của các em, giáo viên cần có sự đánh giá từ
ưu điểm đấn nhược điểm: cách xây dựng nhân vật, sự việc, các tình huống, cách
sử dụng ngôi kể, lời kể; cách dùng từ, đặt câu.
Với những đoạn văn học sinh vừa tạo lập được ngay trong tiết học, trên bảng
hoặc trong vở, giáo viên cần chữa triệt để, những đoạn viết tốt nên cho điểm để
học sinh hứng thú, tự tin hơn trong việc học văn, viết văn.
c. Đặc biệt cần hết sức chú ý coi trọng việc chấm chữa bài cho học sinh:
Quá trình chấm bài cần có sổ ghi cụ thể các lỗi sai của học sinh, ngoài các lỗi
sai thường gặp ở hình thức bài làm như: chính tả, ngữ pháp, cần nhận xét về bố
cục bài viết.
17
Giáo viên cần phải phân loại lỗi và ghi vào sổ trong quá trình chấm bài như:
lỗi bố cục, sắp xếp ý, cách xây dựng nhân vật, ngôi kể, lỗi chính tả, lỗi dùng từ
đặt câu... và chữa lỗi điển hình, nhiều em hay mắc để tránh hiện tượng các em
mắc phải lỗi này trong các bài viết sau.
- Trả bài trên lớp:
Ngoài việc thực hiện các bước trên, trong phần chữa lỗi cụ thể, tôi thường tổ
chức hoạt động theo nhóm, học sinh sẽ lên bảng ghi những lỗi mà các em đã
mắc phải trong bài viết theo sự phân loại lỗi của giáo viên, sau đó tiến hành sửa
chữa. Với cách tổ chức như vậy, học sinh rất hào hứng tham gia, và như vậy,
những lỗi này ở bài viết sau rất ít em mắc phải.
Chú ý khen thưởng những học sinh có tiến bộ, đồng thời nhắc nhở các em ghi
nhận những lỗi sai của mình để các em không bị lặp lại trong các tiết sau. Nên
chú ý nhắc nhở học sinh một cách nhẹ nhàng nếu các em mắc lỗi, tránh phê
bình, chỉ trích nặng nề.
23,5
8
23,5
18
53%
0
0
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
A. Kết luận:
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng viết bài văn tự sự
cho học sinh lớp 6 là rất cần thiết. Có thể nói rằng qua việc thực hiện giải pháp
này tôi đã rút ra cho mình rất nhiều bài học từ việc xác định kiến thức bổ sung,
soạn giáo án cho đến việc giảng dạy.
Như vậy ngay lớp 6 các em đã được rèn kĩ năng viết một bài văn tự sự đúng
thao tác, để rồi lên lớp 7,8,9 các em sẽ tạo lập được các văn bản không những
đạt yêu cầu mà còn rất hay.
Thực hiện việc rèn kĩ năng viết bài văn tự sự lớp 6 cho học sinh giúp học sinh
vận dụng sáng tạo, tổng hợp những kiến thức của phân môn Văn học, Tiếng việt
để có thể nói hoặc viết theo những yêu cầu, những đề tài khác nhau, những kiểu
văn bản khác nhau mà cuộc sống đặt ra cho các em.
Với cách rèn kĩ năng viết bài văn tự sự nêu trên, tôi đã rút ra một số điểm cho bản
thân:
19
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1, NXB Giáo dục
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III
(2004-2007 ) môn Ngữ văn - quyển 1 và 2 - NXB Giáo dục.
Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp
và tích cực - Đoàn Thị Kim Nhung -NXB Đại học quốc gia TPHCM
Dạy học Tập làm văn ở trung học cơ sở - Nguyễn Trí - NXB Giáo dục
Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6 của tác giả Huỳnh
Thị Thu Ba, nhà xuất bản Giáo dục...
Nâng cao Ngữ văn 6, nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Kim Hoa,
Lê Thuận an, nhà xuất bản Giáo dục.
"Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn
Văn", Trần Đình Chung, NXB Giáo dục.
Rèn kĩ năng làm văn và bài văn mẫu lớp 6, nhóm tác giả Lê Anh
Xuân, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Nguyễn Thị Hương Lan, Vũ Thị Hồng
Lê, Ngô Thị Thanh.
20