PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG LONG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
KINH NGHIỆM TÍCH HỢP GIÁO DỤC TÌNH YÊU
BIỂN ĐẢO VIỆT NAMCHO HỌC SINH THCS TRONG
GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN
Người thực hiện: Phạm Thị Hòa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Long
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Ngữ văn
.
THANH HÓA, NĂM 2016
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông
Nam Á. Toàn bộ diện tích: đất liền và đảo là 331212Km 2 với 3260Km bờ biển;
hơn 4000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa. Biển đảo Việt
Nam có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
Biển Việt Nam án ngữ trên tuyến đường hàng hải huyết mạch thông thương giữa
Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; biển có nguồn tài nguyên phong phú, đặc
biệt là dầu mỏ, khí đốt; biển Việt Nam có nhiều cảng nước sâu, nhiều bãi tắm
đẹp; biển và đảo có vai trò quan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ cho đất
cao.Từ ý nghĩa và thực tiễn đó tôi chọn đề tài: “ kinh nghiệm tích hợp giáo dục
tình yêu biển, đảo Việt Nam cho học sinh trường THCS Quảng Long trong
giờ dạy học Ngữ Văn” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn tại các Trường
THCS trong toàn huyện nói chung và trường THCS Quảng Long nói riêng, đồng
thời để bồi dưỡng thêm kiến thức về biển đảo Việt Nam cho đội ngũ giáo viên.
Giúp học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn trong quá trình tiếp nhận tri
thức và kiến thức về tình yêu biển, đảo; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và biên
giới quốc gia.
Giúp học sinh hiểu được khái niệm; sự hình thành; các bộ phận cấu thành
lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam và cách xác định
đường biên giới quốc gia trên biển.
Quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước; các nội dung biện pháp cơ
bản về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia.
Xác định thái độ, trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ biển đảo Việt
Nam.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là học sinh các lớp: 6A; 7B; 8B; 9A học môn Ngữ văn năm
học 2015 - 2016 của trường THCS Quảng Long.
Chỉ chủ yếu đề cập đến những vấn đề về biển đảo Việt Nam có liên quan
đến chương trình Ngữ Văn THCS.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Tích hợp, khái quát, mô tả
- Phân tích, tổng hợp, thống kê
- Đánh giá, khái quát, bình luận
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Có thể khẳng định vấn đề biển đảo chưa có vị trí xứng đáng trong chương
trình học ở bậc THCS. Khảo sát ở các môn học có liên quan cho thấy: Ở môn
Địa lý, đây là môn học nghiên cứu kỹ nhất về các vấn đề liên quan đến điều kiện
tự nhiên (trong đó có phần biển đảo), xã hội và tình hình phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước. Nhưng phần biển đảo chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ, thời lượng ngắn
nên dù muốn giáo viên cũng không thể chuyển tải hết các nội dung có liên quan
về vấn đề này. Ở môn Ngữ văn, không có nội dung nào, bài nào, văn bản (kể cả
các đoạn văn, văn bản ví dụ) trực tiếp đề cập đến vấn đề biển đảo. Trong những
năm trước đây, do chương trình nhiều kiến thức và khi ấy chủ quyền biển đảo
chưa trở thành vấn đề nóng trong đời sống chính trị của đất nước thì hầu như nội
dung này không được tích hợp vào giờ dạy học Ngữ Văn.Từ năm học 20132014, cùng với quá trình tuyên truyền rộng rãi của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
Quốc Việt Nam, đoàn TNCS Hồ Chí Minh...về chủ quyền biển đảo Việt Nam,
nhiều giáo viên Ngữ văn đã tích hợp nội dung này vào bài dạy học.
Qua khảo sát tình hình cụ thể ở trường THCS Quảng Long, tôi thấy thực
trạng vấn đề “Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh THCS trong
giờ dạy học Ngữ văn” nổi lên mấy điểm sau:
- Vì những kiến thức về vấn đề biển đảo không liên quan đến nội dung thi
học kì, thi khảo sát, thi vào lớp 10 THPT nên nhiều giáo viên xem nhẹ.
- Nội dung, phương pháp tích hợp còn chưa phong phú.
- Việc tích hợp còn mang tính ngẫu hứng, tự phát chưa có mục tiêu, nội
dung mang tính hệ thống, liên tục.
- Cũng có khi cao hứng, giáo viên sa đà vào kiến thức mở rộng về chủ đề
biển đảo làm ảnh hưởng đến nội dung chính của bài học.
Có thể thấy việc tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh
THCS nói chung và trong giờ dạy học Ngữ văn nói riêng mới đang trong giai
đoạn thử nghiệm. Vì vậy, thực trạng ấy dẫn đến kết quả như sau:
Học sinh còn nhận thức lơ mơ về vấn đề biển đảo và chủ quyền biển đảo
của Tổ quốc. Cụ thể, khi hỏi nhiều em về biển, đảo của nước ta, đặc biệt là quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa, em nào cũng có thể trả lời đó là “một phần máu thịt
chủ đề, chủ điểm, khái niệm, hiện tượng và vấn đề, các vấn đề thời sự. Đối với
các môn khoa học tự nhiên, tâm điểm có thể là các khái niệm xuyên chương
trình như mô hình, năng lượng...
Khi chọn tâm điểm tổ chức tích hợp, giáo viên cần dựa trên một số tiêu
chí, như tính phái sinh, tính có ý nghĩa, sự xác đáng và sự gắn kết.
2.3.3. Xác định câu hỏi cốt lõi và các câu hỏi gợi mở
Câu hỏi cốt lõi là trung tâm của việc thiết kế chủ đề tích hợp, liên môn,
thúc đẩy việc hiểu tất cả các lĩnh vực môn học tham gia vào chủ đề tích hợp.
Câu hỏi cốt lõi mang tính phổ quát chứ không gắn với một môn học cụ
thể nào, hướng đến những ý tưởng lớn và những khái niệm mang tính bền vững,
không nhằm mục đích gợi ý cho học sinh đưa ra câu trả lời “đúng”, “sai”.
Giáo viên cần sử dụng các câu hỏi cốt lõi để thực hiện một đơn vị bài học
lấy việc tìm tòi làm hoạt động chính mà không phải đưa ra cho học sinh một câu
trả lời đúng duy nhất.
Nếu đơn vị bài học không đòi hỏi học sinh phải có sự tìm tòi - tức là khi
giáo viên truyền đạt những thông tin cụ thể mà học sinh không cần phải đặt ra
các câu hỏi hay phải nghiên cứu thì không cần đặt ra câu hỏi cốt lõi.
Câu hỏi gợi mở còn được gọi là các câu hỏi liên quan đến bài học, xuất
phát từ chương trình môn học cụ thể. Đó chính là những mục tiêu trong chương
trình được cụ thể hóa thành các câu hỏi.
Ví dụ, trong một dự án tìm hiểu về côn trùng, học sinh đóng vai một cá
thể côn trùng trong loài. Công việc của học sinh là phải thuyết phục một thành
viên trong gia đình vốn rất sợ rệp, nhận ra tầm quan trọng của chúng đối với hệ
sinh thái và không việc gì phải sợ chúng...
Khi thực hiện điều này, học sinh phải xem xét và trả lời những câu hỏi :
làm thế nào mà con vật nhỏ bé lại rất cần thiết cho những vật khác đến như vậy
(câu hỏi cốt lõi);
Vì sao chúng ta không nên sợ rệp? Nếu côn trùng biết nói, nó sẽ nói với
1
Cô Tô
Trong phần tìm Ngoài các đoạn văn đã có trong SGK,
hiểu các đoạn GV có thể đưa thêm 1 số ví dụ khác
văn ngữ liệu
trong SGK trang
89.
- Chương trình Ngữ văn 7
STT
Tên bài
Địa chỉ tích hợp
1
Sông
núi Bài thơ
nước Nam
là văn bản có liên quan đến chủ đề
biển đảo Việt Nam (lấy từ nguồn tin
cậy).
Nội dung và cách thức tích hợp
GV tích hợp giáo dục cho HS về ý
thức độc lập, chủ quyền, và tinh thần
chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ
quyền dân tộc của cha ông.
- Chương trình Ngữ văn 8
STT
Tên bài
em (biển Sầm Sơn)
- Chương trình Ngữ văn 9
STT
Tên bài
Địa chỉ tích
Nội dung và cách thức tích hợp
hợp
1
Đoàn thuyền
Bài thơ
GV giúp học sinh biết được về biển
đánh cá
Quảng Ninh, tích hợp giáo dục cho HS
thấy được vai trò, tầm quan trọng, giá
trị của biển. Tình yêu lao động, niềm
hăng say lao động, ý thức vươn khơi
bám biển, chinh phục biển khơi.
Qua phần thống kê tổng hợp trên có thể thấy: Số lượng bài có thể tích hợp
nội dung giáo dục về biển đảo Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn THCS
chiếm tỉ lệ khá ít, 5 bài thống kê trên là những bài điển hình.
Ở phần Đọc- hiểu văn bản: Số lượng bài có thể tích hợp nội dung giáo dục về
biển đảo Việt Nam là không nhiều. Địa chỉ để tiến hành tích hợp thường gắn với
một chi tiết, một hình ảnh, hoặc một hình tượng trong tác phẩm.Vì thế, khi tích
hợp đòi hỏi giáo viên phải rất khéo léo để không làm ảnh hưởng đến nội dung
chính của bài. Cách thức tích hợp chủ yếu là giáo viên liên hệ mở rộng hoặc tiến
hành phát vấn-đàm thoại với học sinh. Thời lượng tích hợp ngắn.(Tối đa khoảng
5 phút)
Ở phần Tiếng Việt và Làm văn: Trong quá trình dạy học Ngữ Văn và nghiên
III: Tiến trình dạy học.
1. Ổn định lớp : kiểm diện học sinh
2. Kiểm tra bài cũ : đọc thuộc lòng bài thơ “Lượm”? Cho biết tình cảm của nhà
thơ đối với Lượm?
3. Bài mới : GV giới thiệu bài
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung kiến thức cần đạt
HS: đọc chú thích
I. Tìm hiểu chung
HSY: nêu một vài nét chính về tác
giả ?
HS: Trả lời theo chú thích
HSTB: văn bản được trích từ tác
phẩm nào? Thể loại gì?
GV giới thiệu: Kí là "một loại hình
văn học trung gian, nằm giữa báo
chí và văn học, gồm nhiều thể - chủ
yếu là văn xuôi tự sự như bút kí,
hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật
kí, tuỳ bút,...".
GV: nêu yêu cầu đọc, Gv và Hs
đọc hết văn bản.
- Khi đọc bài văn, chú ý nhấn giọng
thể hiện sắc thái miêu tả qua các từ
ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh
có tính gợi cảm; cách liên tưởng
độc đáo của tác giả khi tái hiện
cảnh sinh hoạt và lao động của
- Xuất xứ:“ Cô Tô” là phần cuối của bài
kí “Cô Tô” 1976.
- Thể loại: Kí
II. Đọc- hiểu văn bản
1. Đọc – tìm hiểu từ khó
2. Bố cục:
- Từ đầu … sóng ở đây: vẻ đẹp trong
sáng của đảo Cô Tô sau cơn bão.
- Tiếp…nhịp cánh”: Cảnh mặt trời mọc
trên biển.
- Còn lại: Cuộc sống sinh hoạt của người
dân trên đảo.
3. Phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu
tả.
4. Tìm hiểu văn bản
a. Cảnh Cô Tô sau cơn bão:
- Vị trí quan sát: trên nóc đồn
- Cảnh đảo Cô Tô:
+ Bầu trời : trong trẻo, sáng sủa.
+ Cây cối: thêm xanh mượt
+ Nước biển :lam biếc, đặm đà hơn.
+ Cát :vàng giòn.
+ Lưới càng nặng thêm mẻ cá giã đôi.
-> So sánh : Bức tranh tươi sáng, bao
la và mang sức sống mới
Vẻ đẹp trong sáng của đảo Cô Tô
chao lại, hải âu là là nhịp cánh.
=> So sánh, miêu tả: Nguy nga, tráng
lệ, rực rỡ…
Hình ảnh mặt trời mọc trên đảo Cô Tô
c. Cuộc sống sinh hoạt của con người
trên đảo Cô Tô:
- Cảnh sinh hoạt:
+ Tắm quanh giếng
HS: Đọc phần còn lại.
Thảo luận nhóm: Để miêu tả cảnh + Gánh nước và múc nước nhộn nhịp
sinh hoạt trên đảo cô Tô, tác giả + Thuyền chuẩn bị ra khơi.
chọn địa điểm nào, thời gian nào để - Hình ảnh so sánh:
+ Cái sinh hoạt của nó vui như một cái
quan sát? Có những hoạt động gì?
bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ
HS: Làm việc theo bàn, trình bày
trong đất liền
GV: Và HS nhận xét.
KG: Tại sao tác giả chọn duy nhất
cái giếng nước ngọt để tả cảnh sinh
hoạt trên đảo Cô Tô ?
HS: Đây là cảnh sinh hoạt đặc
trưng của dân trên đảo.
GV: Liên hệ đời sống cần nước
ngọt, trữ nước ngọt trên đảo.
HSY: Tác giả tập trung miêu tả cụ
thể nhân vật nào?
- Sử dụng các phép so sánh mới lạ và từ
ngữ giàu tính sáng tạo.
2. Nội dung:
Ý nghĩa: Bài văn cho thấy vẻ đẹp độc
đáo của thiên nhiên trên biển đảo Cô Tô,
vẻ đẹp của người lao động trên vùng đảo
này. Qua đó thấy được tình cảm yêu quý
của tác giả đối với mảnh đất quê hương.
Giáo án thứ hai: (Chương trình Ngữ Văn 8)
Tiết 77: Văn bản
QUÊ HƯƠNG
(Tế Hanh)
I. Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức:
- Nguồn cảm hứng lớn trong thơ Tế Hanh nói chung và ở bài thơ này : tình yêu
quê hương đằm thắm.
- Hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của con người và sinh hoạt lao động ; lời
thơ bình dị, gợi cảm xúc trong sáng, thiết tha.
2. Kĩ năng:
- Nhận biết được tác phẩm thơ lãng mạn.
- Đọc diễn cảm tác phẩm thơ.
- Phân tích được những chi tiết miêu tả, biểu cảm đặc sắc trong bài thơ.
3. Thái độ
- Giáo dục các em lòng yêu lao động, yêu quê hương, yêu đất nước
II. Chuẩn bị:
- Giáo viên: nghiên cứu SGK, SGV, chuẩn kiến thức, giáo dục kĩ năng sống và
tài liệu có liên quan, bảng phụ, phiếu học tập, tranh ảnh. Hướng dẫn học sinh
3. Tìm hiểu văn bản
KG: Mở đầu bài thơ tác giả đã giới a. Giới thiệu làng quê của tác giả :
thiệu về quê hương của mình như thế - Một làng ven biển, dân làng sống
nào?
bằng nghề chài lưới .
(Vị trí địa lí, đặc điểm nghề nghiệp
của làng quê: Nghề chài lưới )
GV nói thêm về làng quê của tác giả
( Nằm giữa con sông Trà Bồng êm
đềm và xanh trong 4 mùa ). Tác giả
từng nói về con sông quê hương
mình : “ Trước khi đổ ra biển dòng
sông lượn vòng ôm trọn làng biển quê
tôi”.
Hình ảnh làng chài
KG: Em có nhận xét gì về 2 câu thơ
giới thiệu này ?
b. Cảnh dân chài bơi thuyền ra
( Giản dị, tự nhiên nhưng rất đầy đủ )
khơi đánh cá :
- HS đọc 6 câu tiếp theo :
- Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai
HSTB: Cảnh thuyền chài ra khơi đánh
cá được miêu tả trong khung cảnh như
thế nào?( Ngày đẹp trời )
KG: Khung cảnh ấy gợi cho người
đọc cảm giác gì ?
( Không gian thoáng mát và rực rỡ
khơi những năm trước cách mạng, khi
trình độ và phương tiện còn thấp kém,
thô sơ (chưa có thông tin, chưa có tàu
thuyền đánh bắt xa bờ,…)còn phụ
thuộc rất nhiều vào may rủi, mới thấy
lời cầu nguyện trong thơ không phải là
vô nghĩa.
hồng.
- Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
- Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn
mã ,
- Phăng mái chèo …trường giang .
- Cánh buồm…như mảnh hồn làng ,
- Rướn thân trắng …
-> So sánh, ẩn dụ, nhân hoá .
=> Phong cảnh thiên nhiên tươi sáng,
bức tranh lao động đầy hứng khởi
cùng với sự khoẻ khoắn, dạt dào sức
sống của dân miền biển .
c. Cảnh đoàn thuyền về bến :
- Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
- khắp dân làng tấp nập đón ghe về .
- Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,
- Những con cá tươi ngon thân bạc
trắng.
-> Cuộc sống lao động vui tươi, rộn
ràng đầm ấm .
HSTB:Trong nỗi nhớ của tác giả có
điều gì đặc biệt ?
( Nhớ những ấn tượng của làng chài )
KG: Để diễn tả tình cảm của mình đối
với quê hương, tác giả đã dụng biện
pháp nghệ thuật gì ?
KG: Em cảm nhận gì về tình cảm của
tác giả đối với cảnh vật, cuộc sống và
con người của quê hương ông?
GV: Xa quê hương tác giả luôn nhớ về
quê hương của mình, nỗi nhớ ấy thật
vô cùng đa dạng: Màu xanh của nước
biển, màu trắng của những con cá bạc,
chiếc buồm vôi, nhớ về hình dáng con
Hình ảnh người dân làng chài
- Dân chài lưới làn da ngăm dám
nắng,
- Cả thân hình nồng thở vị xa xăm .
-> Vẻ đẹp giản dị nhưng cũng thật
khoẻ khoắn, thơ mộng .
- Chiếc thuyền im bến mỏi trở về
nằm,
- Nghe chất muối …thớ vỏ .
-> Ẩn dụ, nhân hoá .
=> Sự mãn nguyện thanh bình sau
những ngày lao động.
d.Tình cảm của tác giả đối với quê
hương :
KG: Hãy nêu những nét đặc sắc về
nghệ thuật làm nên cái hay và sức
truyền cảm của bài thơ ?
(Sự sáng tạo hình ảnh thơ: Miêu tả rất
chân thực nhưng lại có những hình ảnh
bay bổng đầy lãng mạn)
HSTB: Qua những nét nghệ thuật đặc
sác đó tác giả muốn làm nổi bật nội
dung gì ?
GV hướng dẫn học sinh luyện tập:
? Em hãy mô tả lại bức tranh sgk bằng
lời văn của mình?
? Ở lớp 7 các em đã được học VB nào
nói về tình cảm gắn bó sâu nặng đối
với quê hương
Cảnh vật, cuộc sống và con
người quê hương
II. Tổng kết
1. Nghệ thuật:
- Sáng tạo nên những hình ảnh của
cuộc sống lao động thơ mộng.
- Tạo liên tưởng, so sánh độc đáo, lời
thơ bay bổng, đầy cảm xúc.
- Sử dụng thể thơ 8 chữ hiện đại có
những sáng tạo mới mẻ, phóng
khoáng.
2. Nội dung:
- Lời kể về quê hương làng biển.
- Tranh minh họa
2. Học sinh
- Chuẩn bị bài theo câu hỏi sgk
III : Tổ chức các hoạt động dạy-học
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới: GV giới thiệu bài mới
Hoạt động của Thầy và trò
Nội dung kiến thức cần đạt
HSY: nêu những hiểu biết về tác I .Tìm hiểu chung
giả.
1.Tác giả: Huy Cận (1919-2005 )
-GV: Giới thiệu chân dung Huy - Quê: Vụ Quang - Hà Tĩnh, là nhà thơ
Cận và nhấn mạnh đặc điểm thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với
ca của Huy Cận trước và sau cách tập "Lửa thiêng"
mạng tháng Tám 1945.
- Ông tham gia cách mạng trở thành nhà
thơ tiêu biểu cho nền thơ hiện đại Việt
Nam.
- Huy Cận được Nhà nước trao tặng giải
thưởng HCM về văn học nghệ thuật năm
1996.
HSTB: bài thơ “Đoàn thuyền đánh 2. Tác phẩm
cá” được sáng tác trong hoàn cảnh - Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
nào? Trích trong tập thơ nào?
Bài thơ này ông sáng tác giữa năm 1958,
?Em hiểu gì về hoàn cảnh đất nước nhân chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng
ta vào những năm 1958 ?
mỏ Quảng Ninh. Bài in trong tập thơ
và người đã hòa nhập vào thiên
nhiên bao la…
KG:Với công việc đánh bắt cá trên
biển thật là đẹp, tác giả đã cho ta
biết thêm về tiềm năng của biển
như thế nào ?
KG: Qua bức tranh lao động trên
biển cả đã gợi lên cho em về những
điều gì về đất nước và con người ở
đây?
“Trời mỗi ngày lại sáng”(1958)
II. Đọc - hiểu văn bản
1. Đọc - tìm hiểu chú thích.
2. Phương thức biểu đạt: Miêu tả + BC
trữ tình
3. Bố cục : 3 phần
4. Tìm hiểu văn bản
a. Hoàng hôn trên biển và cảnh đoàn
thuyền đánh cá ra khơi
-> NT: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ (hình
ảnh then song; cửa đêm) => cảnh rộng
lớn gần gũi
=>Vũ trụ như là một ngôi nhà lớn, màn
đêm buông xuống như một tấm cửa
khổng lồ với những lượn sóng là then cửa
- Đoàn thuyền đánh cá"...lại ra khơi"
-> công việc hàng ngày, đây là một trong
trăm nghìn chuyến đi trên biển
- Câu hát căng buồm -> hình ảnh ẩn
- Giúp em thấy được vai trò, tầm
quan trọng, giá trị của biển: Biển
cho ta nhiều cá, đã hào phóng nuôi
ta bằng tài nguyên phong phú. So
sánh như lòng mẹ đã nuôi ta từ
tấm bé bằng tình thương vô hạn...
? Là những người được thừa
hưởng nguồn lợi trực tiếp từ biển
mang lại, chúng ta phải làm gì
đối với nguồn tài nguyên biển.
( Giữ gìn, bảo vệ môi trường biển,
tài nguyên biển...).
- Gọi HS đọc khổ cuối.( Khổ 7 ).
HSTB:Vẫn là câu hát “ căng buồm
với gió khơi ” như ở khổ thơ đầu,
nhưng ở đây có gì khác?
KG: Qua đó em thấy kết quả lao
động qua một đêm đánh bắt cá trên
biển như thế nào ?
- GV: Hiện nay mặc dù còn nhiều
khó khăn thiếu thốn về phương
tiện đánh bắt, về vốn...Năm 2014
Trung Quốc hạ đặt dàn khoan
HD 981 tại biển Đông, chúng
dùng vòi Rồng uy hiếp ngư dân
đánh bắt xa bờ... nhưng các đoàn
thuyền đánh cá của ngư dân Việt
Nam vẫn không ngừng vươn
khơi bám biển vì những lí do gì?
( Tình yêu lao động, niềm hăng say
em sẽ làm gì cho biển đảo quê
hương?
(Trân trọng, giữ gìn môi trường,
chủ quyền biển đảo, học tập tốt để
xây dựng các huyện đảo của ta
ngày càng phát triển hơn)
nhân hoá, phóng đại.
- Khắc hoạ những hình ảnh đẹp về mặt
trời lúc hoàng hôn, khi bình minh, hình
ảnh biển cả và bầu trời trong đêm, hình
ảnh ngư dân và đoàn thuyền đánh cá.
- Miêu tả hài hoà giữa thiên nhiên và con
người.
- Sử dụng ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh,
nhạc điệu, gợi liên tưởng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân,đồng nghiệp và nhà trường
Để việc tích hợp phát huy hiệu quả tốt cần chú ý các vấn đề sau:
Về phía giáo viên: bám sát nguyên tắc tích hợp. Có sự chuẩn bị chu đáo cho bài
dạy học cả về thiết kế bài học và vận dụng các thiết bị máy chiếu. Phát huy hiệu
quả kỹ năng thực hành của học sinh bằng việc giao nhiệm vụ cho cá nhân,
nhóm. Có thể cho học sinh tham quan thực tế. Cần đa dạng về phương pháp và
hình thức tích hợp. Cần phối kết hợp chặt chẽ với hoạt động tuyên truyền về vấn
đề biển đảo của trường và cả nước.
Về phía học sinh: tích cực chủ động trong giờ học. Tìm hiểu thêm các thông tin
có liên quan đến bài học và đến nội dung về biển đảo Việt Nam theo sự định
hướng của giáo viên. Thu thập thêm các kiến thức thực tế. Vận dụng những điều
học được vào thực tiễn cuộc sống.
Lớp
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
6A
32,5%
40,5%
27%
0%
8B
27,5%
34,5%
38%
0%
9A
37%
37%
26%
0%
Đặc biệt trong tháng 11 năm 2015,trường THCS Quảng Long đã tổ chức
cho học sinh toàn trường hái hoa dân chủ với hình thức “ Hội vui học tập”
trong phần nội dung có lồng ghép những câu hỏi hiểu biết xã hội về Biển đảo
Việt Nam. Học sinh trong toàn trường đã tham gia tích cực, trong đó có học sinh
của những lớp như 6A, 8B, 9A do tôi chủ nhiệm và dạy Ngữ Văn đã trả lời
những câu hỏi này rất xuất sắc. Thành tích ấy là kết quả thực tiễn ghi nhận hiệu
quả của việc tôi đã tích hợp giáo dục biển đảo Việt Nam vào bài dạy học Ngữ
Văn.
Về phía giáo viên
Qua tham khảo ý kiến của các giáo viên đặc biệt là các giáo viên có nhiều
Người thực hiện
Phạm Thị Hòa
TÀI THAM KHẢO
1. Nhiều tác giả, Chuẩn kiến thức, kỹ năng Ngữ Văn 6,NXBGDVN,H,2010.
2. Nhiều tác giả, Chuẩn kiến thức, kỹ năng Ngữ Văn 7,NXBGDVN,H,2010.
3. Nhiều tác giả, Chuẩn kiến thức, kỹ năng Ngữ Văn 8 ,NXBGDVN,H,2010.
4. Nhiều tác giả, Chuẩn kiến thức, kỹ năng Ngữ Văn 9 ,NXBGDVN,H,2010.
5. Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Ngữ Văn 6, NXBGD,H,2009.
6. Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên), Ngữ Văn 8, NXBGD,H,2009.
7. Nguyễn Văn Long (Chủ biên), Ngữ Văn 9, NXBGD,H,2009.
8.Tài liệu Tuyên truyền về biển đảo của Ban tuyên giáo Trung Ương.
9. Nguồn từ Internet.
PHỤ LỤC
Thuyêt minh về biển Sầm Sơn – Thanh Hóa.
Bãi biển Sầm Sơn thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố
Thanh Hóa 16km. Bờ biển dài, bằng phẳng, phong cảnh hùng vĩ, đã được người
Pháp khai thác từ năm 1906.
Bãi biển Sầm Sơn là nơi tắm biển rất tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ
năm 1906 và Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Ðông
Dương. Từ những thập kỷ trước, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát mọc lên ở đây.
Vua Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở
Sầm Sơn.
Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá
thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với
những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách.