Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm cho học sinh lớp 7 chương i quang học - Pdf 44

Rốn luyn k nng lm thớ nghim vt lớ cho hc sinh lp 7 Chng I: Quang hc

MC LC
NI DUNG
Phn 1: T VN

TRANG
2

I. Lớ do chn ti:

2

II. Mc ớch nghiờn cu:

2

III. i tng nghiờn cu:

2

IV. Phng phỏp nghiờn cu.
Phn 2: NI DUNG CA SNG KIN KINH GHIM

3
3

I. C s lớ lun:

3


T

Chữ viết thờng

Chữ
viết
tắt

1

Giáo viên

GV

2

Học sinh

HS

4

Sách giáo khoa

SGK

5

Sách giáo viên


bởi tính chất của quá trình nhận thức của học sinh dưới sự hướng dẫn của GV.
Thông qua thí nghiệm Vật lí, có thể tạo ra những tác động có chủ định, có hệ
thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan, với sự phân
tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác
động, ta có thể thu nhận được tri thức mới.
Được phân công giảng dạy môn Vật lí 7 ở trường THCS Đông Vinh, tôi
luôn suy nghĩ, trăn trở làm sao để nâng cao chất lượng học của học sinh, làm sao
để các em có thể lĩnh hội, tiếp thu kiến thức vật lí một cách tốt nhất. Việc kết
hợp các phương pháp giảng dạy để khai thác các thí nghiệm trong các giờ học
Vật lí là cần thiết. Trong 1 tiết học Vật lí có thí nghiệm mà học sinh thực hành
tốt thí nghiệm đó thì giờ học mới đạt kết quả cao. Vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng
làm thí nghiệm cho học sinh là con đường giúp học sinh lĩnh hội tiếp thu kiến
thức mới một cách chủ động, hiệu quả và phát huy trí lực của người học.
Nội dung chương trình Vật lí 7 gồm 3 chương: Quang học - Âm học Điện học. Nên tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học
sinh lớp 7 – Chương I: Quang học. Vì chương I: Quang học - là chương đầu tiên
của chương trình Vật lí 7. Học sinh đã có kĩ năng làm tốt các thí nghiệm ở
chương này thì sẽ tạo ra các kĩ năng cơ bản làm thí nghiệm có hiệu quả, giúp
các em học và phát huy tốt hơn ở các bài, các chương tiếp theo.
II. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu kỹ các thí nghiệm để tìm ra cách thức, kỹ năng cho
HS làm thí nghiệm để nâng cao chất lượng giờ học.
Tôi tìm hiều những hạn chế của học sinh lớp 7 khi sử dụng đồ dùng thí
nghiệm để có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giờ học có hiệu
quả của học sinh.
Thông qua các thí nghiệm mà học sinh tự tay tiến hành các thí nghiệm,
các em sẽ thực hiện các thao tác thí nghiệm một cách thuần thục, khơi dậy cho
các em sự say sưa, tò mò, ham hiểu biết để khám phá ra những điều mới. Đó
chính là những tác động cơ bản giúp cho quá trình hoạt động nhận thức của học
sinh được tích cực, chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức.
III. Đối tượng nghiên cứu

điều kiện hiện có. Để học sinh thực hiện tốt điều đó, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi
để tạo ra được những phương pháp giảng dạy có hiệu quả, nhằm hướng dẫn học
sinh sử dụng thành thạo và làm tốt thí nghiệm vật lí 7 chương I sách giáo khoa.
II. Thực trạng vấn đề
1. Đặc điểm tình hình nhà trường
* Khó khăn:
Trường THCS Đông Vinh là Trường ở xa trung tâm thành phố, cở sở vật
chất còn nghèo nàn, phòng thực hành thí nghiệm chưa có, trường còn thiếu giáo
viên phụ tá thí nghiệm. Đồ dùng thí nghiệm, đồ dùng trực quan đang dần xuống
cấp, có rất nhiều đồ dùng bị hư hỏng. Tổng số học sinh trong trường là 85 em
trong đó: khối 9 là 15 em, khối 8 là 27 em, khối 7 là 24 em và khối 6 là 19 em.
Trường có số lượng học sinh ít, nhiều em gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên
ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học của học
sinh.
* Thuận lợi:
Đội ngũ giáo viên có tâm huyết với nghề, nhiệt tình giảng dạy, luôn có
tinh thần “yêu nghề, mến trẻ”. Giáo viên trong trường luôn luôn đoàn kết, giúp
đỡ nhau, luôn tìm cách khắc phục khó khăn để thực hiện tốt công việc giảng dạy

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

3


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

đạt kết quả cao. Học sinh Trường THCS Đông Vinh luôn ngoan ngoãn, chăm
học, kính trọng, lễ phép với các thầy cô giáo.
2. Thực trạng vấn đề
Thực tế, khi giảng dạy học sinh lớp 7 các năm học trước, kết quả chưa cao

* Đối với học sinh
Bước 1: Chuẩn bị bài mới:
Tôi yêu cầu học sinh về nhà học thuộc ghi nhớ: Làm bài tập trong sách
bài tập và chuẩn bị bài mới ra vở phần thí nghiệm bằng cách tìm hiểu các dụng
cụ có trong thí nghiệm, các bước làm thí nghiệm và sau đó dự đoán kết quả thí
nghiệm bằng các nội dung sau:
- Đọc kỹ cả bài.
Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

4


Rốn luyn k nng lm thớ nghim vt lớ cho hc sinh lp 7 Chng I: Quang hc

- Tỡm hiu phn thớ nghim :
+ Mc ớch ca thớ nghim l gỡ ?
+ Nờu nhng dng c dựng trong thớ nghim .
+ D oỏn kt qu thớ nghim.
Hc sinh lm tt cụng vic trờn thỡ khi n lp s lm thớ nghim mt
cỏch d dng, tn ớt thi gian.
lm tt vic ú thỡ giỏo viờn thng xuyờn kim tra v bi tp v nh
v cụng vic chun b bi mi nh bng cỏch giỏo viờn giao cho bn nhúm
trng kim tra. Giỏo viờn kim tra bt k 1 bn no trong nhúm m khụng
chun b bi thỡ nhúm ú s b tr im thi ua ca c nhúm. Khõu chun b nh
vy n lp, hc sinh khụng cũn b ng , lỳng tỳng trong quỏ trỡnh lm thớ
nghim.
Bc 2: Phõn chia cỏc nhúm lm thớ nghim:
Lp 7A cú 24 em thỡ tụi chia lm 4 nhúm (c nh nhúm, duy trỡ nhúm
trong c hc k), mi nhúm cú 6 em sao cho s hc sinh gii, khỏ, trung bỡnh,
yu trong cỏc nhúm l nh nhau. Mi nhúm cú 1 nhúm trng, 1 th ký. Nh


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

kiến thức chủ động, hiệu quả.Vì vậy, tiết học sẽ không bị thiếu thời gian hay
giáo viên bị “ cháy giáo án”.
* Đối với giáo viên:
Chuẩn bị giờ dạy có thí nghiệm vật lí:
Chuẩn bị thí nghiệm là khâu rất quan trọng. Vì trường THCS Đông Vinh
không có phụ tá thí nghiệm nên giáo viên dạy phải tự chuẩn bị thí nghiệm cho
bài dạy của mình. Trước khi dạy một bài vật lí có thí nghiệm thì giáo viên phải
kiểm tra xem các đồ dùng thí nghiệm có đủ không? có sử dụng được không? làm
thí nghiệm có chính xác và hiệu quả không? Nếu thí nghiệm có bị hỏng thì cần
khắc phục bằng cách nào? Thí nghiệm thành công tức là phải được chuẩn bị kỹ,
làm đi làm lại nhiều lần, nếu thất bại sẽ phá vỡ tiến trình bài học, gây tâm lý
hoang mang, thất vọng đối với học sinh.
Đối với việc chuẩn bị của giáo viên ở chương I: “Quang học” - Vật lí 7
này, còn một vấn đề rất quan trọng nữa đó là: có nhiều thí nghiệm yêu cầu học
sinh phải nhìn rõ các tia sáng thì ánh sáng trong lớp học phải tối ta mới quan sát
được. Một vài ví dụ như các thí nghiệm như sau:
+ Thí nghiệm kiểm tra xem ba lỗ A,B,C trên ba tấm bìa và bóng đèn có
cùng nằm trên một đường thẳng không.

Hình 2.2
+ Thí nghiệm thể hiện vùng sáng, vùng tối trên màn chắn.

Hình 3.1

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

6

Học sinh sau khi học xong mục 1 sẽ đặt ra câu hỏi: ảnh của một vật tạo
bởi gương phẳng không hứng được trên màn chắn thì làm sao mà so sánh độ lớn

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

7


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

của ảnh và vật được?. Vì vậy giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi để dẫn dắt
học sinh:
+ Gương phẳng và tấm kính có đặc điểm nào giống nhau khi ta để một
vật ở đằng trước nó? (Giáo viên đã gợi mở cho học sinh vấn đề làm thí nghiệm
là sẽ thay gương phẳng bằng tấm kính ).
+ Nếu ta thay gương phẳng bằng một tấm kính thì ta có thể so sánh độ
lớn về ảnh của vật và vật không? Nếu có thì bằng cách nào?
Từ đó, giáo viên yêu cầu học sinh xác định rõ mục đích thí nghiệm hình
5.3: quan sát ảnh của viên phấn trong gương.

Hình 5.3
HS lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm và tiến hành làm thí nghiệm, quan sát hiện
tượng và rút ra nhận xét.
Tiến hành thí nghiệm
Bước 1: Thu thập thông tin
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh lập kế hoạch khám phá thiết kế thí
nghiệm, lựa chọn dụng cụ thiết bị thí nghiệm, chỉ ra đại lượng cần đo, những
điều cần xác định trong thí nghiệm, chỉ ra những yếu tố cần giữ nguyên, không
thay đổi khi làm thí nghiệm.
Tiến hành thí nghiệm: Giáo viên yêu cầu học sinh bố trí lắp đặt dụng cụ

được.
Bước 4: Vận dụng ghi nhớ kiến thức Vật lí
Từ những kết quả thí nghiệm rút ra ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh vận
dụng vào để giải các bài tập.
Khi dạy học thí nghiệm vật lí tôi thường tiến hành
theo các bước sau:
a. Chuẩn bị.
Giáo viên cần đặt vấn đề vào bài, gợi ý để học sinh phát
hiện được nội dung kiến thức cần nghiên cứu, từ đó tiếp tục gợi ý
Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

9


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

để học sinh nêu rõ mục đích của thí nghiệm là gì? Dùng phương
pháp đàm thoại kết hợp hình vẽ ở máy chiếu (nếu có) để học sinh
lập kế hoạch tiến hành thí nghiệm. Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm
và các thao tác mẫu.
b. Tiến hành thí nghiệm
- Nhóm trưởng nhận dụng cụ, điều khiển nhóm tiến
hành thí nghiệm.
- Học sinh trong các nhóm tiến hành thí nghiệm.
- Giáo viên theo dõi chung và giúp đỡ nhóm gặp khó
khăn, nếu cần thì giáo viên yêu cầu cả lớp ngừng làm thí
nghiệm để hướng dẫn, bổ sung. Cần tránh trường hợp một số
em làm thí nghiệm, một số em chuyên ghi chép…
c. Xử lí kết quả thí nghiệm
- Với thí nghiệm thực hành khảo sát: Cả nhóm cùng dựa

tóc đèn pin bằng ống thẳng và ống cong .( Nhìn vào hình vẽ thí nhgiệm và nắm
được mục đích của thí nghiệm thì học sinh sẽ dễ dàng làm tốt thí nghiệm và rút
ra kết luận cần thiết)
Từ thí nghiệm học sinh rút ra được kết luận: ánh sáng phát ra từ dây tóc
đèn pin truyền đến mắt ta theo ống thẳng .
Học sinh trả lời câu hỏi này bằng cách tự làm thí nghiệm, quan sát tìm tòi
được những thông tin cần thiết về đường truyền của ánh sáng. Sau đó, học sinh
xử lý thông tin bằng thí nghiệm kiểm tra hình 2.2. sách giáo khoa

Hình 2.2
Mục đích của thí nghiệm này, học sinh kiểm tra xem khi không dùng ống
thì ánh sáng có truyền đi theo đường thẳng không ?. Việc xử lý thông tin này đòi
hỏi học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi, tiến hành thí nghiệm, lựa chọn thông tin đã
thu thập ở thí nghiệm hình 2.1, để tìm ra kết luận về đường truyền của ánh sáng:
Đường truyền của ánh sáng trong không khí là đường thẳng.
4. Áp dụng vào một trường hợp cụ thể:
Tiết 4:

Bài 4:

Định luật phản xạ ánh sáng
(Vật lí lớp 7)

A. Mục tiêu
* Kiến thức:
- Học sinh tiến hành được thí nghiệm để nghiên cứ đường đi của tia sáng
phản xạ trên gương phẳng.
- Biết xác định tia tới, tia phản xạ, pháp tuyến, góc tới, góc phản xạ trong
mỗi thí nghiệm.
- Phát biểu được định luật phản xạ ánh sáng.

GV: Muốn làm được việc đó phải biết được mối quan
hệ giữa tia sáng từ đèn pin chiếu ra và tia sáng hắt lại
trên gương.
Hoạt động 2: (05 phút) Nghiên cứu sơ bộ tác dụng
của gương phẳng.
GV: yêu cầu HS thay nhau cầm gương soi nhận thấy
hiện tượng gì trong gương ?
Yêu cầu HS trả lời câu c1
GV: các em xem các phim ngày xưa thì thấy các cô gái
soi mình xuống nước để nhìn thấy hình ảnh của mình.
GV: Cho HS quan sát một số hình ảnh một số vật có
thể dùng để soi ảnh như một gương phẳng ở màn hình.
Vậy khi ánh sáng đi đến gương sẽ đi tiếp như thế nào ?
Hoạt động 3: Hình thành khái niệm về sự phản xạ ánh
sáng (05 phút)
GV: yêu cầu HS đọc nội dung thí nghiệm.
GV: đưa hình vẽ 4.2 lên màn hình. HS quan sát.
? Thí nghiệm trên gồm những dụng cụ gì ?
HS: Trả lời
GV: Giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm và yêu cầu các
nhóm HS làm thí nghiệm hình 4.2
GV: Yêu cầu HS dùng đèn pin có màn chắn đục lỗ để
tạo ra tia sáng tới gương phẳng sao cho tia sáng đi là là
trên mặt tờ giấy đặt trên mặt bàn, tạo ra một vệt sáng
hẹp trên mặt tờ giấy đó là tia tới SI

Nội dung cần đạt

I. Gương phẳng
- Gương phẳng tạo ra

và tia phản xạ.

- Tia sáng bị hắt lại gọi là
tia phản xạ.

Hiện tượng tia sáng sau
khi tới mặt gương phẳng
bị hắt lại theo một hướng
xác định gọi là sự phản
xạ ánh sáng.
Hoạt động 4: (10 phút) Tìm quy luật về sự đổi 1. Tia phản xạ nằm
phương của tia sáng khi gặp gương phẳng.
trong mặt phẳng nào ?
GV: Yêu cầu HS quan sát khi tia tới gặp gương phẳng
thì đổi hướng cho tia phản xạ. Thay đổi hướng đi của
tia tới xem hướng đi của tia phản xạ phụ thuộc vào
hướng đi của tia tới và gương như thế nào ?
GV: Giới thiệu đường pháp tuyến IN như SGK.
Mặt phẳng chứa tia tới SI và đường pháp tuyến IN với
gương chính là mặt phẳng của tờ giấy dán trên tấm gỗ
phẳng.
? Tia phản xạ có nằm trên mặt phẳng tờ giấy đó C2 Trong mặt phẳng tờ
không ?
giấy chứa tia tới
HS: rút ra kết luận
Kết luận: Tia phản xạ
(Yêu cầu HS hoàn thành kết luận SGK)
nằm trong cùng mặt
phẳng với tia tới và
đường pháp tuyến.

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

13


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

nghiệm với các môi trường trong suốt và đồng tính
khác cũng đưa đến kết luận như trong không khí. Do
đó, kết luận trên có ý nghĩa khái quát có thể coi là một
định luật gọi là định luật phản xạ ánh sáng.
GV: giải thích cho HS hiểu từ đồng tính và trong suốt.
Hoạt động 6: (08 phút) Quy ước cách vẽ gương và các
tia sáng trên giấy
GV: Hướng dẫn HS vẽ:
- Mặt phẳng phản xạ, mặt không phản xạ của gương.
- Điểm tới: I
- Tia tới: SI
- Đường pháp tuyến: IN
- Tia phản xạ: IR
Lưu ý: Hướng tia phản xạ, tia tới
Hoạt động 7: (07 phút) Vận dụng - củng cố - hướng
dẫn về nhà.
1. Vận dụng
Yêu cầu HS trả lời câu C4.
1 em lên bảng làm câu a, các em ở dưới vẽ bằng bút
chì vào vở (sai còn sửa chữa)
GV: hướng dẫn HS thảo luận sự đúng sai.

cùng mặt phẳng với tia

dụng rất nhiều nhà kính, cửa kính. Do đó, khi ánh nắng
Mặt Trời chiếu vào nhà kính, cửa kính sẽ xảy ra hiện
tượng gì? hậu quả ra sao? Em hãy nêu biện pháp khắc
phục?
HS: …xảy ra hiện tượng phản xạ ánh sáng làm Trái
Đất của chúng ta nóng lên. Biện pháp khắc phục là
chúng ta trồng nhiều cây xanh để ngăn cản đường
truyền của tia sáng Mặt Trời và tia phản xạ của nó.
3. Hướng dẫn về nhà
- Học thuộc định luật phản xạ ánh sáng.

i

N

a)

i’

M

R
S

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

I

N



27

Kết quả xếp loại
Giỏi

Trung
bình

Khá

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

kiểm
tra
7A

24

Kết quả xếp loại
Giỏi

Trung
bình

Khá

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%


là các em cảm thấy yêu thích môn vật lí hơn, ham thích tìm tòi khám phá các thí
nghiệm.
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

15


Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm vật lí cho học sinh lớp 7 – Chương I: Quang học

Đối với GV, phương pháp giảng dạy là vô cùng quan trọng, nó góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, đối với bộ môn vật lí, kỹ năng làm
thí nghiệm quyết định đến chất lượng giờ dạy của giáo viên và hiệu quả tiếp thu
bài của học sinh. Từ đó người thầy luôn phải có nhận thức đúng, luôn yêu nghề,
chăm chỉ và luôn chuẩn bị kỹ, nghiên cứu kỹ bài trước khi lên lớp. Với bài vật lí
có thí nghiệm thì người thầy phải chủ động tiến hành làm thử nhiều lần để áp
dụng khai thác tối đa các kiến thức từ các thí nghiệm. Người thầy phải là người
“đi nhanh hơn học sinh một bước” trong việc lĩnh hội các kiến thức mới từ các
thí nghiệm. Ngoài ra, người thầy là người luôn tìm tòi, sáng tạo, không ngừng
học tập, luôn biết lắng nghe ý kiến của học sinh, ý kiến đóng góp của đồng
nghiệp để trau dồi kiến thức, kỹ năng sống, phương pháp sư phạm cho mình
trong mỗi bài dạy.
Môn vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nó gắn liền với cuộc sống, do
đó việc khai thác hết hiệu quả của từng thí nghiệm là việc rất khó, nên đây cũng
chỉ là những kinh nghiệm nhỏ của tôi, chắc chắn không tránh được những thiếu
sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
II. Kiến nghị

và ĐT)
6. Hướng dẫn tiến hành làm thí nghiệm vật lí - Nhà xuất bản giáo dục

Người viết: Trịnh Mai Xuân – GV trường THCS Đông Vinh

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status