Một số biện pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của thành phố hải phòng giai đoạn 2016 – 2020 - Pdf 44

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Một số biện pháp nâng cao chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2020”
là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và chưa được công bố trên bất kỳ
phương tiện thông tin nào. Tài liệu tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo
chính xác, trung thực. Mọi thông tin trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc./.
Hải Phòng, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tác giả

CN. Nguyễn Thị Thanh Hồng

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài “Một số biện pháp nâng cao chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 2020”, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Đan Đức Hiệp, người đã
nhiệt tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo chủ nhiệm
cùng tất cả các thầy cô giáo Viện sau đại học – Trường Đại học Hàng hải Việt
Nam đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá
trình học tập tại trường.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiêncứu./.
Hải Phòng, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tác giả

CN. Nguyễn Thị Thanh Hồng

ii

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng ........... 27
2.2. Tổng quan biến động về chỉ số năng lực cạnh tranh của các tỉnh trong cả
nước giai đoạn 2005 – 2014 ................................................................................ 28
2.3. Thực trạng chỉ số năng lực canh tranh thành phố Hải Phòng 2005 – 2014. 31
2.3.1. Tổng quan biến động về chỉ số năng lực cạnh tranh thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2005 – 2014 ......................................................................................... 28
2.3.2. Phân tích chi tiết các chỉ số thành phần PCI của Hải Phòng năm 2014 ... 31
2.3.2.1. Chi phí gia nhập thị trường .................................................................... 32
iii


2.3.2.2. Tiếp cận đất đai ...................................................................................... 36
2.3.2.3. Tính minh bạch....................................................................................... 38
2.3.2.4. Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước ................... 41
2.3.2.5. Chi phí không chính thức ....................................................................... 42
2.3.2.6. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo thành phố ......................... 44
2.3.2.7. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp .................................................................. 45
2.3.2.8. Đào tạo lao động ................................................................................... 48
2.3.2.9. Thiết chế pháp lý .................................................................................... 50
2.3.2.10. Cạnh tranh bình đẳng ........................................................................... 52
CHƢƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNGLỰC
CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI
ĐOẠN 2016 – 2020 ............................................................................................ 62
3.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016
– 2020. ................................................................................................................. 62
3.1.1. Bối cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế thành phố Hải Phòng giai
đoạn 2016 – 2020 ................................................................................................ 56
3.1.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng giai
đoạn 2016 – 2020. ............................................................................................... 57
3.1.2.1. Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng ................. 57


Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam

TPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

UBND

Ủy ban nhân dân

VCCI

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VNCI

Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam

v


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1.1

2014
Bảng 2.5

Kết quả khảo sát chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định

36

trong sử dụng đất năm 2014
Bảng 2.6

Kết quả khảo sát chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông

37

tin năm 2014.
Bảng 2.7

Kết quả khảo sát chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các

41

quy định của Nhà nước năm 2014
Bảng 2.8

Kết quả khảo sát chỉ số chi phí không chính thức năm

42

2014
Bảng 2.9


Hình 1.1

Mô hình kim cương

Hình 1.2

Mô hình kim cương trong năng lực cạnh tranh địa phương

Hình 1.3

Biểu đồ kết quả các tỉnh theo chỉ số thành phần năm 2014

Hình 1.4

Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh

Hình 2.1

Xếp hạng chỉ số PCI các tỉnh năm 2005

Hình 2.2

Xếp hạng chỉ số PCI các tỉnh năm 2014

Hình 2.3

Biểu đồ chỉ số PCI thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005 –
2014

Sau 10 năm kể từ lần công bố đầu tiên (2005 – 2014), chỉ số PCI ngày
càng được coi trọng đối với chính quyền cấp tỉnh vì PCI được coi là đại diện cho
tiếng nói chung của cộng đồng doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân về “chất
lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh”; đồng thời là kênh tham khảo
quan trọng đối với các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào tỉnh, thành phố nào
ở Việt Nam [20]. Mục tiêu của chỉ số PCI cũng được thiết kế với mong muốn
trở thành một công cụ hữu hiệu cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố thông qua việc
cung cấp các chỉ tiêu, dữ liệu về chất lượng điều hành kinh tế, góp phần chỉ rõ ra
lĩnh vực cải cách nào là cần thiết và cách thức cải thiện chất lượng điều hành
nhằm tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn, tạo động lực cho phát triển kinh tế
của tỉnh, thành phố.
Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của cả nước. Thành phố Hải Phòng
được định hướng phát triển trở thành “thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại,
trung tâm dịch vụ, công nghiệp lớn có sức cạnh tranh cao; là trọng điểm phát
triển kinh tế biển của cả nước; trung tâm giáo dục – đào tạo, y tế và khoa học –
công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ; là đầu mối giao thông quan trọng của cả
nước, cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc và hành lang kinh tế Việt
Nam – Trung Quốc”[3]. Với nhiệm vụ như vậy, thời gian qua, chính quyền
thành phố Hải Phòng đã có nhiều nỗ lực trong cải thiện môi trường kinh doanh,
tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp, tăng cường công khai
1


minh bạch các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.Tuy nhiên, theo kết quả đánh giá xếp hạng chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh của VCCI cho thấy, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành
phố Hải Phòng thường ở nhóm trung bình, thể hiện cảm nhận của doanh nghiệp
về môi trường môi trường kinh doanh và chất lượng điều hành kinh tế của chính
quyền thành phố còn thấp. Kết quả xếp hạng chỉ số PCI ở mức trung bình (năm
2014, chỉ số PCI của Hải Phòng xếp thứ 34/63) là không tương xứng với vị thế

chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nguyên nhân của sự sụt giảm hay thăng
hạng của các chỉ số thành phần, chỉ số PCI;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các văn bản điều hành của
chính quyền thành phố Hải Phòng, tổng hợp thành quan điểm, chính sách của
thành phố;
- Phương pháp thống kê, so sánh: nghiên cứu bài học, kinh nghiệm, phân
tích đánh giá thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành phố Hải
Phòng, đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của
thành phố Hải Phòng.
5. Bố cục của luận văn
Nội dung Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành phố
Hải Phòng giai đoạn 2005 – 2014.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2020.

3


CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CẤP TỈNH
1.1. Cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.1.1. Cạnh tranh
Hiện nay, trong kinh tế học có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh. Khái
quát lại hệ thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy một số quan điểm nổi bật như
sau:
- Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay
gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [24].

thuyết kinh tế học cổ điển về lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối về thương
mại. Hai lợi thế này dựa trên cơ sở năng suất lao động và hao phí các yếu tố sản
xuất cho một đơn vị sản phẩm. Vấn đề đặt ra là yếu tố nào làm cho tăng năng
suất lao động và giảm hao phí các yếu tố sản xuất ngoài sự khác biệt về điều
kiện tự nhiên, dân số, thể chế chính trị, văn hóa … của các quốc gia? Tại sao
trong điều kiện, yếu tố sản xuất như nhau, một số quốc gia thành công, một số
quốc gia thất bại trong phát triển kinh tế? Thậm chí một số quốc gia nhiều tiềm
năng hơn các nước khác vẫn thất bại và một số quốc gia ít tiềm năng hơn vẫn
thành công?
Năng lực cạnh tranh quốc gia là câu trả lời cho các câu hỏi trên.Năng lực
cạnh tranh quốc gia là yếu tố quyết định đến sự thịnh vượng của một quốc gia,
được đo lường bằng năng suất sử dụng lao động, vốn, và tài nguyên thiên nhiên
[9]. Một quốc gia có nền kinh tế năng suất cao, hiệu quả, khai thác tốt các nguồn
lực có hạn là một quốc gia có năng lực cạnh tranh cao. Nghiên cứu của M.Porter
rút ra một số nhận định quan trọng:
- Năng suất là yếu tố quyết định đảm bảo cho nền kinh tế quốc gia thịnh
vượng lâu dài và bền vững.
- Năng suất của một nền kinh tế được cấu thành bởi cả doanh nghiệp nội
địa và doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, năng suất của doanh nghiệp nội địa
đóng vai trò cơ bản đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ nhận định trên cho thấy các nền kinh tế quốc gia cần phải xây dựng và
nuôi dưỡng môi trường kinh doanh vi mô tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các
5


doanh nghiệp cạnh tranh với nhau một cách minh bạch trên cơ sở bình đẳng
nhằm không ngừng tạo ra năng suất mới và cao. M.Porter đã đưa ra mô hình kim
cương phân tích các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia,
đồng thời đánh giá môi trường kinh doanh vi mô của một quốc gia có lành mạnh
hay không?

về năng lực cạnh tranh quốc gia nêu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh là tập hợp những điều kiện sẵn có hoặc khả năng đủ để tạo lập được môi
trường kinh doanh tốt cho doanh nghiệp cùng thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh. Tương tự như cấp
độ quốc gia, các tỉnh thông qua trao đổi, tiếp thu các thành tựu khoa học, kỹ
thuật , công nghệ, quản lý …tiên tiến, áp dụng một cách sáng tạo, hiệu quả, địa
phương hóa trên cơ sở điều kiện, môi trường của địa phương mình để tạo ra môi
trường kinh doanh hấp dẫn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở cấp độ địa phương,
do cùng một quốc gia, cùng chịu sự điều hành của chính quyền Trung ương,
đồng thời với sự ganh đua giữa các tỉnh trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư
là sự hợp tác, liên kết thành vùng kinh tế để cùng phát triển. Việc liên kết này
trên cơ sở lợi thế của từng địa phương, để tận dụng các nguồn lực một cách hiệu
quả nhất, tăng cường năng lực cạnh tranh mỗi tỉnh.
Về vai trò của chính quyền địa phương trong xác định năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh, có thể vận dụng mô hình kim cương như sau:

7


Cơhội

Cấutrúc,Chiếnl
ược
vàcạnhtranhDN

Điềukiệncầu

Điều kiện các
nhân tố


thể là một khách hàng lớn của doanh nghiệp hoặc giúp doanh nghiệp định hướng
sản xuất thông qua những dự báo hoặc tác động lên thị trường tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp.
- Đối với các ngành hỗ trợ và liên quan, vai trò của chính quyền cấp tỉnh
thể hiện ở tính hợp tác, liên kết vùng, tận dụng lợi thế địa phương, tạo ra cụm,
ngành công nghiệp, tạo ra sự thành công của môi trường kinh doanh vi mô cấp
vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi tỉnh, từ đó nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia.
Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường kinh
doanh vi mô thúc đẩy sự cạnh tranh, tạo điều kiện cải thiện, tăng năng suất. Để
“tạo ra” sự thịnh vượng, vai trò của chính quyền địa phương nên ở vị trí hỗ trợ,
xác định mục tiêu, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách nhằm đảm bảo sự
cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Khi đó, các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ đóng vai trò trung tâm, sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp sẽ tạo ra giá trị năng suất lao động mới, cơ cấu kinh tế mới… tạo ra giá
trị của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
1.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.2.1.1. Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI là chỉ số được tính toán
nhằm “đánh giá chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh dựa trên môi trường kinh
doanh để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thông qua cảm
nhận của các doanh nghiệp dân doanh được điều tra”[20].
Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của
Quỹ châu Á và VCCI. Đó là nghiên cứu “Những thực tiễn tốt trong điều hành
9


kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh,
thành phố của Việt Nam. “Nghiên cứu này tập trung vào quan hệ tương tác giữa


nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau:
- Đối với cộng đồng doanh nghiệp dân doanh: PCI rõ ràng là tiếng nói đại
điện cho cộng đồng doanh nghiệp dân doanh, phản ánh trung thực cảm nhận,
quan điểm, nguyện vọng và trải nghiệm của cộng đồng doanh nghiệp. Cộng
đồng doanh nghiệp dân doanh hiện nay ngày càng có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế vì là động lực chính tạo ra nhiều công ăn việc làm và tăng trưởng
kinh tế một cách sáng tạo và hiệu quả. Tuy nhiên, vai trò của cộng đồng doanh
nghiệp dân doanh chưa được chính quyền quan tâm đúng mức trong các đối
thoại chính sách vì quy mô thường nhỏ và rất nhỏ, không có quy mô và nguồn
lực lớn như các doanh nghiệp nhà nước hay các tập đoàn đa quốc gia. Nghiên
cứu về lý thuyết cũng như thực tế phát triển kinh tế trên thế giới và ngay cả ở
Việt Nam những năm gần đây cũng cho thấy, chính doanh nghiệp khu vực tư
nhân mới là khu vực sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, là động lực
tạo ra khả năng cạnh tranh và năng suất mới. Do đó, việc xây dựng chỉ số PCI
với mục tiêu là “tiếng nói chung” của cả cộng đồng doanh nghiệp, nhóm nghiên
cứu mong muốn sẽ “góp phần nâng cao vai trò của cộng đồng doanh nghiệp dân
doanh trong quá trình xây dựng chính sách”. [19].
- Đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước: PCI được sử dụng như một
kênh tham khảo quan trọng để các nhà đầu tư quyết định đầu tư vào tỉnh, thành
phố nào của Việt Nam. Các tỉnh, thành phố có thứ hạng chỉ số PCI cao được
đánh giá là tỉnh, thành phố có năng lực điều hành kinh tế tốt với nỗ lực cải cách
hành chính không ngừng tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn, tất yếu sẽ thu
hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Với chính quyền địa phương cấp tỉnh: PCI được xây dựng làm thước đo
cho năng lực điều hành kinh tế, nỗ lực cải cách hành chính của địa phương nên
qua đó chính quyền địa phương cấp tỉnh có thể thấy được ưu điểm, nhược điểm
trong thực tế điều hành kinh tế, cải cách hành chính của mình. Ưu điểm, nhược
điểm này lại được thể hiện hết sức cụ thể qua các chỉ tiêu của chỉ số thành phần,
là những yếu tố thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh và chính quyền có

phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra mạnh mẽ, chỉ số PCI đã bỏ chỉ số thành
phần Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, chỉ số PCI năm 2009 cũng đổi
tên chỉ số Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành Dịch vụ hỗ trợ
doanh nghiệp.
12


Đến năm 2013, chỉ số Cạnh tranh bình đẳng được bổ sung. Ngoài nội
dung ưu đãi với doanh nghiệp nhà nước như chỉ số cũ, chỉ số mới bổ sung thêm
nội dung ưu đãi đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI. Điều này xuất
phát từ thực tế cạnh tranh không bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có yếu tố
nước ngoài, giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn.
Như vậy, hiện nay PCI được tính toán trên cơ sở tổng hợp của 10 chỉ số
thành phần như sau:
(1). Chi phí gia nhập thị trường: Chỉ số thành phần này đo lường thời
gian một doanh nghiệp cần để thực hiện tất cả các loại thủ tục để có thể tiến
hành tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, như: đăng ký kinh doanh, các giấy
phép con (đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện); hồ sơ xin cấp, thuê đất
và cảm nhận của doanh nghiệp về mức độ khó khăn khi xin cấp các loại giấy tờ
đó.
(2). Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất:
Chỉ số này đo lường độ khó mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình tìm
kiếm mặt bằng để sản xuất kinh doanh và trong quá trình cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh khó khăn khiến
doanh nghiệp bị mất cơ hội đầu tư, còn khó khăn trong quá trình cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lại hạn chế doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng do
không có giấy tờ để thế chấp tại ngân hàng.
Chỉ số này cũng đo lường tính ổn định trong việc sử dụng đất đai của
doanh nghiệp. Việc được sử dụng đất lâu dài, ổn định sẽ khiến doanh nghiệp yên

tra, kiểm tra đối với mình.
(5). Chi phí không chính thức:
Chỉ số này đánh giá số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra để chi trả các
khoản phí không chính thức, tiền phạt và các khoản chi phí bất thường khác
trong điều kiện hoạt động kinh doanh bình thường.
(6). Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, thành phố:
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
của lãnh đạo tỉnh, thành phố, đo lường tính sáng tạo của lãnh đạo thành phố
trong quá trình thực thi chính sách của Trung ương trong khuôn khổ pháp luật
để giải quyết các vấn đề doanh nghiệp tư nhân đang gặp phải. Đây là chỉ tiêu mà
14


cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư rất quan tâm vì năng lực điều hành,
hiệu quả của bộ máy chính quyền tỉnh, thành phố phụ thuộc rất lớn vào tính
năng động, sáng tạo của lãnh đạo tỉnh, thành phố.
(7). Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp:
Chỉ số này phản ánh tính hữu ích của các chính sách cấp tỉnh để phát triển
khu vực kinh tế tư nhân như: Xúc tiến thương mại, cung cấp các thông tin thị
trường, hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp các dịch vụ
công nghệ và phát triển các khu, cụm công nghiệp tạo điều kiện cho các nhà đầu
tư đến với địa phương.
(8). Đào tạo lao động:
Chỉ số này phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động đào tạo nghề
và phát triển kỹ năng do tỉnh, thành phố triển khai nhằm hỗ trợ cho các ngành
công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương.
Các doanh nghiệp cũng rất coi trọng tìm hiểu chỉ số Đào tạo lao động khi quyết
định đầu tư vào một tỉnh hay thành phố nào đó vì lao động là yếu tố quan trọng
mang tính quyết định trong bất kỳ dự án sản xuất kinh doanh nào.
(9). Thiết chế pháp lý:

thức sau để chuẩn hóa điểm: 9

Provincei - Minimum
Maximum - Minimum

+1

Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11
trừ công thức trên: 11- 9

Provincei - Minimum
Maximum - Minimum

+1

Tiếp theo, tất cả các chỉ tiêu được tổng hợp thành điểm chỉ số thành phần.
Sau đó, tính trung bình các chỉ tiêu và áp dụng lại qui trình tính điểm chỉ tiêu
như trên để tạo ra từng chỉ số thành phần cho mỗi tỉnh. Sau khi chuẩn hóa, toàn
bộ các chỉ số của một tỉnh sẽ được thể hiện trên một sơ đồ hình sao như sau:

16


Hình 1.3: Biểu đồ kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ số thành phần năm
2014
Nguồn: Báo cáo PCI năm 2014 [20].
Bước 3: Tính trọng số, xây dựng chỉ số tổng hợp PCI:
Lý do cho việc phải tính trọng số cho từng chỉ số thành phần PCI là do tác
động của các chỉ số thành phần đến sự phát triển kinh tế tư nhân là khác nhau,
tức là có chỉ số rất quan trọng, chỉ số quan trọng và chỉ số ít quan trọng trong


10%

5%

2 Tiếp cận đất đai

5%

5%

5%

3 Tính minh bạch

15%

20%

20%

4 Chi phí thời gian

10%

15%

5%

5 Chi phí không chính thức


9 Đào tạo lao động

15%

20%

20%

10 Thiết chế pháp lý

10%

5%

5%

100%

100%

100%

đẳng

Tổng cộng

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo PCI 2013, 2014.
Các trọng số này được gắn vào số điểm các chỉ số thành phần tương ứng
để tính ra điểm chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng. Việc xem xét trọng số của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status