ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------o0o----------
ĐINH NHO TÀI
NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------o0o----------
ĐINH NHO TÀI
NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM QUANG VINH
XÁC NHẬN CỦA GVHD
2.1.3. Môi trường kinh tế................................................................................. 23
2.1.4. Môi trường đầu tư................................................................................... 23
2.1.5. Kết cấu hạ tầng và đô thị ........................................................................ 24
2.2. THỰC TRẠNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
CỦA NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2009 – 2013 .................................................... 26
2.2.1. Phân tích quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Nghệ An 26
2.2.2. Phân tích các yếu tố cấu thành của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Nghệ
An .................................................................................................................... 32
2.3. Một số kết quả đạt được và nguyên nhân các hạn chế................................ 61
2.3.1. Các kết quả đạt được .............................................................................. 61
2.3.2. Nguyên nhân các hạn chế ....................................................................... 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA TỈNH NGHỆ AN TRONG THỜI GIAN TỚI
......................................................................................................................... 63
3.1. Giải pháp chung ........................................................................................ 63
3.1.1. Tuyên truyền .......................................................................................... 63
3.1.2. Công tác Quy hoạch ............................................................................... 63
3.1.3. Phát triển cơ sở hạ tầng........................................................................... 63
3.1.4. Cải cách thủ tục hành chính .................................................................... 64
3.1.5. Phát triển nguồn nhân lực ....................................................................... 64
3.1.7. Quản lý nhà nước ................................................................................... 65
3.1.8. Nâng cao nhận thức, kiến thức về pháp luật............................................ 65
3.2. Một số biện pháp cụ thể............................................................................. 68
3.2.1. Chi phí gia nhập thị trường ..................................................................... 68
3.2.2. Tiếp cận đất đai ...................................................................................... 68
3.2.3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin ...................................................... 69
3.2.4. Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước ................. 70
3.2.5. Chi phí không chính thức ....................................................................... 71
Bảng 2.18: Điểm số và thứ hạng của chỉ số tính năng động tỉnh Nghệ An trong giai
đoạn từ năm 2009 - 2013 so với khu vực Bắc trung bộ ________________________50
Bảng 2.19. Chỉ tiêu cụ thể chỉ số Tính năng động năm 2013 tỉnh Nghệ An ________51
Bảng 2.20: Điểm số và thứ hạng của chỉ số dịch vụ hỗ trợ Doanh Nghiệp của tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn từ năm 2009-2013 so với khu vực Bắc trung bộ _________53
i
Bảng 2.21. Chỉ tiêu cụ thể chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp năm 2013 tỉnh Nghệ An ____54
Bảng 2.22: Điểm số và thứ hạng của Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh Nghệ An trong
giai đoạn từ năm 2009 - 2013 so với khu vực Bắc trung bộ ____________________57
Bảng 2.23. Chỉ tiêu cụ thể chỉ số Đào tạo lao động năm 2013 tỉnh Nghệ An _______58
Bảng 2.24: Điểm số và thứ hạng của Chỉ số thiết chế pháp lý của tỉnh Nghệ An trong
giai đoạn từ năm 2009 - 2013 so với khu vực Bắc trung bộ ____________________59
Bảng 2.25. Chỉ tiêu cụ thể chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2013 tỉnh Nghệ An _______60
ii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Biểu đồ chỉ số PCI của Nghệ An từ 2007 - 2013 _____________________27
Hình 2.2: So sánh các chỉ số thành phần của tỉnh Nghệ An năm 2012-2013 _______35
Hình 2.3: Biểu đồ chỉ số gia nhập thị trường tỉnh Nghệ An từ năm 2007 – 2013 ____37
Hình 2.4. Biểu đồ chỉ số tiếp cận đất đai tỉnh Nghệ An từ năm 2007 – 2013 _______40
Hình 2.5: Biểu đồ chỉ số tính minh bạch tỉnh Nghệ An từ năm 2007 – 2013 _______43
Hình 2.6: Biểu đồ chỉ số Chi phí thời gian tỉnh Nghệ An từ năm 2007 - 2013 ______46
Hình 2.7. Biểu đồ chi phí không chính thức tỉnh Nghệ An từ năm 2007 – 2013 ____49
Hình 2.8. Biểu đồ chỉ số tính năng động tỉnh Nghệ An từ năm 2007 – 2013 _______51
Hình 2.9. Biểu đồ chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp từ năm 2007 – 2013_______________54
Hình 2.10. Biểu đồ chỉ số đào tạo lao động tỉnh Nghệ An từ năm 2007 - 2013 _____58
luận và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nâng cao chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Nghệ An” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Đề tài là nhằm phân tích chỉ số PCI của Nghệ An trên cơ sở so sánh
tương quan với cả nước, qua đó nhận diện những mặt mạnh và những mặt cần được cải
thiện về môi trường kinh doanh ở tỉnh để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân. Đề tài nghiên cứu này, chắc chắn sẽ không thể đầy đủ và bao hàm tất cả những
1
giải pháp tốt nhất. Tuy nhiên, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm cải
thiện môi trường đầu tư và kinh doanh của tỉnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là các chỉ tiêu, các chỉ số
thành phần cấu thành chỉ số NLCT cấp tỉnh của tỉnh Nghệ An và hệ thống các giải
pháp cải thiện chỉ số NLCT của tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chỉ số NLCT cấp tỉnh phạm vi
của tỉnh Nghệ An. Đề tài chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm phương pháp nghiên cứu cơ bản. đồng thời, Đề tài sử dụng các phương pháp cụ
thể:
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống: sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu
vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, các
chỉ số, tiêu chí cấu thành và các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số NLCT cấp tỉnh,…
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp: Các phương pháp này sử
dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm, phân tích đánh giá thực trạng
chỉ số NLCT của tỉnh Nghệ An, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị liên quan đến
nâng cao chỉ số NLCT tỉnh Nghệ An và hoàn thiện nghiên cứu PCI của Việt Nam,…
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng trong thực hiện điều tra hai nhóm đối
đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường.
Trước hết, phải hiểu đúng nghĩa của cụm từ “năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”.
Cụm từ được hiểu là chỉ số đo lường hiệu quả, hiệu năng của hoạt động điều hành
chính sách kinh tế của chính quyền các địa phương. Chỉ số này loại bỏ các yếu tố tự
nhiên, xã hội có thể làm cho địa phương này có lợi thế hơn địa phương khác trong phát
triển kinh tế.
Như thế, các địa phương đều có cơ hội cạnh tranh ngang nhau trước các chính
sách điều hành kinh tế của Nhà nước. Việc địa phương ở vị trí nào trong bảng xếp
hạng chính là thước đo năng lực và thể hiện một cách chân thực cách nhìn nhận, tư
duy và phương pháp điều hành của bộ máy lãnh đạo từng địa phương. Nói cách khác,
đây là câu trả lời của doanh nghiệp và nhà đầu tư trước cung cách quản lý, điều hành
chính sách kinh tế của chính quyền địa phương.
Mỗi năm, PCI gửi phiếu thống kê đến các doanh nghiệp trong các tỉnh thành và
căn cứ theo phản hồi từ đây để xếp hạng. Mỗi năm, các chỉ số thành phần cấu thành
PCI được các chuyên gia tính toán và điều chỉnh lại.
3
Có tất cả 9 chỉ số thành phần nhằm đánh giá và xếp hạng các tỉnh dựa trên thái
độ và ứng xử của chính quyền tỉnh đối với khu vực kinh tế tư nhân. Những chỉ số đó
là :
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Đào tạo lao động
lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính
sách thuận lợi ở mức độ như thế nào cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Năm 2005, chỉ số tổng hợp này bao gồm bảy chỉ số thành phần, mỗi chỉ số
thành phần lý giải khá nhiều sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh của Việt
Nam. Năm 2006 có thêm hai chỉ số thành phần mới được đưa vào (Đào tạo lao động
và Thiết chế pháp lý) để phản ánh hai khía cạnh quan trọng khác về nỗ lực của chính
quyền tỉnh nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ở địa phương. Ngoài ra, hệ thống chỉ
tiêu của các chỉ số thành phần hiện có cũng được cải tiến và hoàn thiện hơn.
Tới thời điểm năm 2009, Chỉ số CPI bao gồm 10 chỉ số thành phần là: Chi phí
gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai; Tính minh bạch và trách nhiệm; Chi phí về thời
gian và việc thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính
năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh; Đào tạo lao
động; Thiết chế pháp lý; Kết cấu hạ tầng. Trong từng chỉ số thành phần này lại có các
chỉ số cụ thể để thu thập số liệu và đánh giá, so sánh giữa các tỉnh, thành phố trên cả
nước.
4
PCI 2010 được thực hiện dựa trên điều tra cảm nhận của 7.300 doanh nghiệp
trong nước, sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên cơ sở các đặc
tính về loại hình doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động và tuổi của doanh nghiệp, nhằm
đảm bảo mẫu điều tra đại diện toàn bộ doanh nghiệp tư nhân của tỉnh. Chỉ số PCI bao
gồm chin
chỉ số thành phần, phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh tế tác động lớn đến sự
phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
1.1.2.1.Chi phí gia nhập thị trường
Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị
trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau. Các chỉ tiêu cụ thể
bao gồm:
khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các
chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp.
- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lý như quyết định, nghị định
- Cần có “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% Rất quan
trọng hoặc Quan trọng)
- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (%
Hoàn toàn đồng ý hoặc Đồng ý)
- Khả năng tiên liệu việc thực thi pháp luật của tỉnh (% Luôn luôn hoặc Thường
xuyên).
- Độ mở của trang web tỉnh
- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản
biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng).
1.1.2.4. Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính
cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh
để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.
- % DN sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà
nước
- Số lần thanh tra trung vị (tất cả các cơ quan)
- Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế
- Các cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý)
- Số lần DN phải đi lại để lấy các con dấu và chữ ký cần thiết giảm (% Đồng
ý)
6
- Thủ tục giấy tờ giảm (% Đồng ý)
- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm (% Đồng ý)
1.1.2.5. Chi phí không chính thức
doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ
công nghệ cho doanh nghiệp.
- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức
cho năm nay.
- Số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ tư nhân trong tỉnh.
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tìm kiếm thông tin
kinh doanh trên (%).
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho
dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%).
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%).
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tư vấn về
thông tin pháp luật (%).
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho
dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối
tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho
dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ xúc tiến
thương mại (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho
dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho các dịch vụ liên quan
đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho các
dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của
các công chức (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên).
-
Doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp lý sẽ bảo vệ hợp đồng và các quyền
tài sản (% Hoàn toàn đồng ý hoặc Đồng ý).
9
-
Số lượng các vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa
án kinh tế cấp tỉnh xét xử trên 100 doanh nghiệp.
-
Tỉ lệ nguyên đơn là doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên tổng số nguyên
đơn tại Toà án kinh tế tỉnh.
-
Doanh nghiệp sử dụng tòa án hoặc các thiết chế pháp lý khác để giải quyết
tranh chấp (%).
-
Thời gian từ khi nộp đơn cho đến khi tòa án ban hành bản án có hiệu lực (số
Chính quyền địa phương có tác động đến các nguồn lực thông qua việc ban
hành và thực hiện các chính sách về nguồn nhân lực sẽ tạo cho địa phương một môi
trường hấp dẫn đối với việc thu hút nguồn lao động có chất lượng cao đến với địa
phương. Khi đó địa phương hấp dẫn đối với nhà đầu tư bởi có nguồn lao động có chất
lượng tốt. Các chính sách về tài chính, sử dụng các nguồn vốn đầu tư ngân sách của
địa phương sẽ ảnh hưởng khả năng của địa phương trong việc thoả mãn các nhu cầu về
vốn và đánh về cơ hội và nguy cơ về tài chính của nhà đầu tư khi kinh doanh tại địa
phương. Các chính sách về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của
địa phương sẽ ảnh hưởng sự hấp dẫn của địa phương về khả năng cung ứng nguyên,
nhiên, vật liệu đối với nhà đầu tư.
Chính quyền có thể tác động đến môi trường cạnh tranh thông qua các quy định
về thương mại. Nhìn chung, các nhà đầu tư đều mong muốn ở địa phương một môi
trường cạnh tranh lành mạnh. Chính vì vậy, các chính sách ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của địa phương có ảnh lớn đến sự đánh giá của nhà đầu tư về sự hấp dẫn
của địa phương. Các chính sách ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh như là các quy
định về quản lý cạnh tranh, thái độ của chính quyền đối với khu vực nhà nước và khu
vực tư nhân, thái độ của chính quyền đối với các ngành kinh doanh, thái độ của chính
quyền trong việc bảo hộ các doanh nghiệp của địa phương, các quy định về quản lý thị
trường địa phương…
Thứ hai, nguồn lao động: Nhà đầu tư khi đến kinh doanh tại địa phương có
nhu cầu sử dụng lao động tại địa phương. Nguồn lao động có ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư tại địa phương. Chính
vì vậy nguồn lao động của địa phương sẽ ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của địa phương
đối với nhà đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của địa phương. Khi đánh giá
về nguồn lao động người ta xem xét dưới hai góc độ: số lượng và chất lượng nguồn lao
động. Các yếu tố sử dụng để đánh giá nguồn lao động như: số lượng người lao động,
chất lượng nguồn lao động, trình độ người lao động, mức lương và đạo đức nghề
nghiệp của người lao động. Một địa phương có lượng cung lớn về nhân công với mức
lương thấp thì có lợi thế trong việc thu hút các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động
với tư cách là một thị trường tiêu thụ và có những hoạt động truyền thông phù hợp để
khách hàng biết và quan tâm đến thị trường địa phương.
Thứ tư, các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ phục vụ kinh doanh tại
địa phương
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì ngoài những nguyên, vật liệu chính
còn phải sử dụng những hàng hoá và dịch vụ do các doanh nghiệp khác cung ứng.
Trong điều kiện ngày nay, mức độ chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh ngày
một tăng dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn. Chính
12
vì vậy, khi quyết định lựa chọn một địa phương làm địa điểm kinh doanh các nhà đầu
tư còn quan tâm đến các ngành công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp cung ứng
dịch vụ phục vụ kinh doanh của địa phương. Các ngành công nghiệp phụ trợ sẽ cung
cấp cho nhà đầu tư những vật tư phụ, dịch vụ gia công, cung cấp các chi tiết sửa chữa
máy móc, thiết bị… Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ kinh doanh sẽ cung cấp các
dịch vụ như là tư vấn, kiểm toán, ngân hàng, tài chính, tư vấn luật, đào tạo… Địa
phương có ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thoả mãn được
nhu cầu của nhà đầu tư sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của địa phương. Chính
vì vậy, địa phương cần quy hoạch và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đi cùng
với việc thúc đẩy phát triển các dịch vụ phục vụ kinh doanh để cải thiện năng lực cạnh
tranh của các nhà đầu tư.
Thứ năm, đặc điểm về mức độ hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp tại địa phương
Mức độ hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tại địa phương thể hiện
văn hoá ứng xử trong kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn, điều này ảnh
hưởng đến sự hấp dẫn hoặc kém hấp dẫn của các doanh nghiệp tại địa phương. Sự hợp
tác và hỗ trợ lẫn nhau của các doanh nghiệp tại địa phương thúc đẩy việc thu hút tài
năng đến với địa phương, thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao uy tín và
hình ảnh của địa phương đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
thiện hình ảnh mà còn góp phần thu hút đầu tư, tăng cường nguồn thu cho ngân sách
nhà nước.
PCI được đo lường trong nhiều năm và cho tất cả các tỉnh thành nên nó vừa có
tính so sánh theo thời gian vừa có tính so sánh theo không gian. Chẳng hạn như nhìn
vào chỉ số PCI của một địa phương,chúng ta có thể đánh giá được những tiến bộ hay
thoái bộ của địa phương ấy so với các năm trước.Đồng thời chúng ta có thể so sánh
được chất lượng điều hành của địa phương này so với các địa phương khác trong cùng
một năm.Từ cách xây dựng chỉ số PCI, có thể thấy rằng PCI là chỉ số có tính tương đối
chứ không có tính tuyệt đối. Cụ thể, nếu một địa phương đạt điểm tối đa 10/10 cho
một chỉ tiêu bộ phận nào đó thì điều đó chỉ có nghĩa là về chỉ tiêu cụ thể này, địa
phương ấy tốt hơn các địa phương còn lại, chứ không phải là địa phương ấy đã hoàn
hảo. Nói cách khác, đó là một kiểu “so bó đũa chọn cột cờ”.
PCI có thể được nhiều đối tượng khác nhau sử dụng, tất nhiên vì những mục
đích khác nhau. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi cân nhắc khả năng mở rộng
sản xuất kinh doanh hay chọn địa điểm đầu tư có thể nhìn vào PCI như một nguồn
tham khảo về chất lượng điều hành của các địa điểm đầu tư tiềm năng vì thường thì
“đất lành chim đậu”.
14
Báo cáo PCI năm nay chỉ ra rằng nếu như một tỉnh tăng được PCI (không có
trọng số) lên 1 điểm phần trăm thì trung bình sẽ thu hút thêm được ba nhà đầu tư.
Tương tự, nếu nhìn vào các chỉ số bộ phận, nếu một tỉnh tăng được chỉ số tính minh
bạch lên 10 điểm phần trăm thì sẽ tăng được 13% số doanh nghiệp/1.000 dân, 17%
đầu tư/đầu người và 62 triệu đồng lợi nhuận/doanh nghiệp.Mặc dù PCI không phản
ánh ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài nhưng đối với các nhà đầu tư nước ngoài
còn “lạ nước lạ cái”, PCI vẫn có thể hữu ích như một phương tiện tầm soát từ xa cũng
như để khảo sát cận cảnh. Để giảm rủi ro và tiết kiệm chi phí khảo sát thị trường, các
doanh nghiệp nước ngoài thường lên một danh sách ngắn các địa điểm đầu tư tiềm
PCI không chỉ hữu ích cho doanh nghiệp và chính quyền địa phương,mà còn là
một nguồn thông tin quan trọng cho chính quyền trung ương.Ví dụ như năm nay, chỉ
số về tính minh bạch và chi phí không chính thức ở đa số địa phương giảm, quay trở
lại mức của năm 2006-2007. Đây là một chỉ báo rất đáng lo ngại cho cải cách hành
chính và chống tham nhũng trên phạm vi toàn quốc.Không lo sao được khi theo VCCI
và VNCI, “tại Việt Nam đã bắt đầu có xu hướng sử dụng công văn thay văn bản quy
phạm pháp luật, với 9.470 công văn có bao hàm các nội dung quy phạm pháp luật
được ban hành từ năm 2005-2008, nhiều gấp ba lần so với số công văn được ban hành
trong 18 năm trước đó” và có tới “53% doanh nghiệp cho biết cần phải trả hoa hồng
khi tham gia đấu thầu để có được hợp đồng vớicác cơ quan nhà nước”.Những kết quả
này cũng gợi ý rằng mặc dù chủ trương phân cấp quản lý là cần thiết, song chính
quyền trung ương cần tăng cường năng lực và nguồn lực cho chính quyền địa phương,
đồng thời có những biện pháp giám sát và phối hợp hiệu quả để phân cấp không tạo ra
63 “tiểu quốc” với luật lệ riêng, ảnh hưởng xấu tới kỷ cương của đất nước, tới phúc lợi
của người dân và doanh nghiệp.
Theo nguyên lý của điều khiển học, một hệ thống phức hợp không thể tự hoàn
thiện, nếu không có thông tin phản hồi. Vì vậy, mặc dù PCI chưa phải là một thước đo
hoàn hảo nhưng chính quyền các tỉnh thành vẫn có thể sử dụng nó như một công cụ
hữu ích để nâng cao chất lượng điều hành của mình, từ đó cải thiện môi trường kinh
doanh – đầu tư và nâng cao điều kiện sống của người dân địa phương.
Một bài học quan trọng cần được nhắc lại là để có thể thu hút đầu tư từ bên
ngoài, chính quyền địa phương trước hết phải làm hài lòng các nhà đầu tư hiện tại
trước đã.
Với những vai trò như phân tích ở trên thì vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nâng
cao hơn nữa năng lực cạnh tranh câp tỉnh tại các địa phương.
1.3. KINH NGHIệM CủA MộT Số TỉNH TRONG VIệC NÂNG CAO NĂNG LựC
CạNH TRANH
16
mức tốt, đứng ở vị trị 12/63.
1.3.2.THÀNH PHố ĐÀ NẵNG
17
Đà Nẵng đứng đầu PCI năm thứ 2 liên tiếp : “Chúng tôi đặt mình vào vị thế
DN”. Theo Ông Trần Văn Minh – Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng để giữ vững ngôi
quán quân,chính quyền Đà Nẵng đã chủ động chỉ đạo khảo sát các DN nhằm tìm ra
giải pháp nâng cao chỉ số PCI ngay từ đầu năm 2009.
Trên thực tế, tỉnh đã thực hiện các công việc theo quan điểm đặt mình vào vị
thế của DN. Ngay đầu năm 2009, UBND thành phố đã trực tiếp chỉ đạo Trung tâm xúc
tiến Đầu tư Đà Nẵng và Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng dựa vào
các chỉ tiêu cơ bản của chỉ số PCI năm 2008, khảo sát các DN về các chỉ số năng lực
cạnh tranh của Đà Nẵng để vạch ra kế hoạch quyết tâm giữ vững ngôi vị số 1 trong
năm 2009. Kết quả cho thấy,nổi bật nhất là chỉ số tính năng động của chính quyền
thành phố, có tới 82,87% DN cho rằng thành phố luôn linh động trong việc giải quyết
những trở ngại đối với cộng đồng DN; 92,34% DN cho rằng thành phố triển khai tốt
trong khuôn khổ các quy định của Trung ương… Thời gian chờ đợi thực sự để có mặt
bằng kinh doanh từ 75 ngày năm 2008 sang năm 2009 còn 60 ngày;Tỷ lệ DN khó khăn
có đủ giấy phép cần thiết tăng từ 2,8% năm 2008 lên 10,98% năm 2009.
Tuy nhiên, một số chỉ số cấu thành PCI biến động đáng lo ngại như: Chỉ số
“Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất” năm 2008 Đà Nẵng xếp vị trí 58/64
(cách Bình Dương khá xa là 2,2 điểm); Chỉ số “chi phí không chính thức” Đà Nẵng
xếp hạng thấp trên bảng xếp hạng 63 tỉnh thành năm 2008 và đứng sau Bình Dương
với cách biệt 0,40 điểm..
Nắm được các hạn chế đó, UBND thành phố chỉ đạo cho các sở, ban ngành liên
quan thực hiện tốt kế hoạch “một cửa liên thông”. Chỉ đạo tổ chức Hội thảo “Nâng cao
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành phố Đà Nẵng” và mời TS Jim Winkler – GĐ
Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh VN (VNCI) tham dự để tư vấn cho chính quyền