MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.3 Các giải pháp thực hiện
2.4 Hiệu quả của sáng kiến
3. Kết luận, kiến nghị
TRANG
Trang 1
Trang 1
Trang 1
Trang 1
Trang 1
Trang 2
Trang 2
Trang 3
Trang 3
Trang 9
Trang 11
1
1. Mở đầu:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử, tạo sự hấp dẫn, sự dễ hiểu,
nắm vững nội dung bài học bằng những câu chuyện.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp kể truyện trong giờ dạy học Lịch sử với mục đích tạo hứng
thú học tập cho học sinh.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành làm đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Kiểm tra đánh giá.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu bổ trợ.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Thao giảng, dự giờ, trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp trong quá trình dạy.
2
- Áp dụng kinh nghiệm, phương pháp mới trên lớp học.
- Đánh giá kết quả ban đầu và điều chỉnh bổ sung.
- Kiểm tra đánh giá cuối cùng và hoàn chỉnh công việc
2. Nội dung:
2.1 Cơ sở lý luận:
“Sử dụng phương pháp kể chuyện trong giờ học Lịch sử lớp 8 nhằm tạo hứng
thú học tập cho học sinh trường PTDTBT THCS Trung Tiến”. Là một trong
những khâu quan trọng trong quá trình dạy học môn lịch sử. Vì từ những câu
chuyện học sinh mới hiểu được nội dung bài học. Chính vì vậy,tôi chú trọng rèn
luyện cho học sinh kỹ năng kể chuyện để học sinh hiểu bài một cách sâu sắc.
Như chúng ta biết Lịch sử có văn hoá, văn hoá gắn liền với các sự kiện lịch
sử, trong các sự kiện lịch sử thường xuất hiện các nhân vật lịch sử. Ngày trước, khi
vô tuyến truyền hình, phim truyện chưa nhiều như bây giờ thì các tích truyện, nhân
vật lịch sử trong các triều đại phong kiến, những nhà cách mạng qua hai cuộc
kháng chiến chồng Pháp và chống Mỹ được đông đảo mọi người biết đến từ chính
những thành tích hay chiến công của mình sẽ gây ấn tượng mạnh với học sinh, làm
các em ngưỡng mộ và ghi nhớ về nhân vật lịch sử này. Từ việc ghi nhớ nhân vật
lịch sử các em sẽ dễ dàng nhớ lại các sự kiện lịch sử có liên quan đến nhân vật đó
và nhớ lại được nội dung bài học.
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Thực trạng vấn đề:
- Lịch sử là môn học đòi hỏi học sinh phải tái hiện một cách chính xác, lôgíc các
sự kiện, nhân vật lịch sử…dẫn đến học sinh thường có tâm lí không thích học môn
này. Hầu hết học sinh chưa ham học, chưa thực sự yêu thích bộ môn lịch sử, chỉ đối
phó tức thời, năng lực tiếp thu cũng hạn chế, điều kiện học tập của các em chưa đáp
ứng được yêu cầu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học.
+ Giáo viên còn lạm dụng quá việc kể chuyện, đưa vào bài học những chi tiết
không liên quan hoặc những chi tiết rườm rà không cần thiết, biến giờ học Lịch sử
thành tiết kể chuyện Lịch sử làm cho học sinh chỉ chú ý vào câu chuyện mà không
chú ý vào nội dung bài học.
+ Ngôn ngữ kể chuyện lịch sử của giáo viên chưa thật sự hấp dẫn, lôi cuốn được
học sinh, chưa khắc sâu nên học sinh nghe xong trên lớp về nhà là quên ngay.
+ Trong quá trình kể chuyện, giáo viên chưa đặt câu hỏi liên hệ thực tế với nội
dung, hay tình tiết nào đó của chuyện nên học sinh không phát huy được khả năng
tư duy của học sinh.
+ Giáo viên chưa kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp kể chuyện với các phương
pháp dạy học lịch sử khác.
- Chất lượng học sinh không đồng đều nên trong khi thực hiện đề tài phải có
nhiều yêu cầu khác nhau phù hợp với học sinh.
Qua điều tra khảo sát thực trạng việc chuẩn bị bài mới môn Lịch sử, đặc biệt là
việc tìm hiểu các câu chuyện lịch sử có liên quan tới nội dung bài học của học sinh
khối 8 ở nhà trường PTDTBT THCS Trung Tiến Trung tôi thấy:
- Đại đa số học sinh khối 8 không có hứng thú học tập môn Lịch sử.
- Phần lớn học sinh lớp 8 được hỏi đều chưa có phương pháp học bài và chuẩn bị
Kém
SL
%
4
17,39
Nhận xét : - Tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình và dưới trung bình còn cao.
- Tỷ lệ học sinh khá, giỏi còn thấp.
Từ những thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn cải
tiến nội dung và phương pháp như sau:
2.3 Các giải pháp thực hiện:
4
- Trước hết, giáo viên phải xác định vị trí, ý nghĩa của việc kể chuyện lịch sử
trong dạy học lịch sử. Bởi vì phương pháp kể chuyện trong giờ học lịch sử nhằm
tạo hứng thú cho học sinh, góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, là chỗ
dựa để học sinh hiểu biết sâu sắc, nhớ lâu nội dung bài học.
- Giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn, phát huy tính tích cực, độc lập của học
sinh trong quá trình tìm hiểu nôị dung lịch sử được phản ánh qua câu chuyện
lịch sử. Sau khi kết thúc một bài học ở trên lớp, giáo viên hướng dẫn học sinh về
nhà ( tuỳ vào từng bài) tự tìm hiểu các câu chuyện về các nhân vật, sự kiện lịch
sử…trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đến khi đến lớp học bài mới, học
sinh sẽ có dịp thảo luận (dưới sự hướng dẫn của giáo viên) những gì các em đã
chuẩn bị, tạo nên một không khí học tập sôi nổi, tạo tâm lí tốt cho học sinh khi học
tập, phát huy được tính tích cực, độc lập của học sinh. Muốn vậy, việc chuẩn bị ở
nhà của giáo viên là vô cùng cần thiết.
- Chuẩn bị của giáo viên: Đối với công việc dạy học, việc chuẩn bị ở nhà của
giáo viên là vô cùng cần thiết. Giáo án như bản thiết kế cho tiết học. Ngoài việc xác
định mục đích, yêu cầu, chuẩn bị các tài liệu liên quan tới bài dạy, dự định các
a. Khi trình bày diễn biến của một cuộc khởi nghĩa, một cuộc kháng chiến, hay
một chiến dịch…
Khi học các bài có nội dung liên quan đến diễn biến của một cuộc khởi nghĩa,
cuộc kháng chiến hay chiến dịch, giáo viên ngoài sử dụng lược đồ, bản đồ hay sa
bàn trong quá trình tường thuật sự kiện, giáo viên kết hợp kể những câu chuyện liên
quan đến sự kiện đang trình bày, điều này có tác dụng giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn
diễn biến đó.
- Ví dụ khi dạy Bài 24: Tiết 36-37: “Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm
1873”
( tiết 2), phần II. Cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1858 đến năm 1873, giáo
viên kể chuyện về tinh thần chiến đấu kiên quyết của nhân dân ta, bất chấp sự ngăn
cản của triều đình bằng câu chuyện Trương Định phúc đáp thư của vua Tự Đức: “
Triều đình hoà nghị thì cứ việc hoà nghị, còn việc Định thì Định cứ làm, Định thà
chịu tội với triều đình chứ nhất định không chịu ngồi nhìn giang sơn chìm đắm” và
Ông cùng nhân dân đã chống lệnh của triều đình để đánh Pháp. Qua câu chuyện
này, học sinh sẽ thấy được tinh thần kiên quyết đánh giặc của nhân dân ta cho dù
phải trái lệnh Vua.
b. Khi trình bày các sự kiện có liên quan đến các chân dung nhân vật lịch sử:
Khi trình bày các sự kiện có liên quan đến chân dung nhân vật lịch sử nào, giáo
viên cần sưu tầm những mẩu chuyện liên quan đến nhân vật đó, có thể là kể về tài
năng, sự đóng góp hay cống hiến của nhân vật đối với quê hương, đất nước hay
một câu chuyện vui về nhân vật đó. Điều này có tác dụng làm cho học sinh nhớ lâu
về nhân vật đó.
- Ví dụ khi dạy Bài 26: Tiết 40-41: “ Phong trào kháng Pháp trong những năm
cuối thế kỉ XIX” (tiết 1) phần I. Cuộc phản công của phái chủ chiến tại kinh thành
Huế. Vua Hàm Nghi ra “ Chiếu Cần vương”, ngoài việc sử dụng Lược đồ kinh
thành Huế năm 1885 và chân dung Hàm Nghi có trong sách giáo khoa, giáo viên
cần khắc hoạ cho học sinh hình ảnh ông vua trẻ tuổi Hàm Nghi, khác hẳn với các
ông vua khác với trước đó và sau này: “ Vua Hàm Nghi lên ngôi lúc 14 tuổi. Ông là
vị vua trẻ tuổi, yêu nước, có tinh thần chống Pháp, tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự
hô) ngân lên trong không trung. Quân khởi nghĩa trèo qua các chiến luỹ, tràn ngập
các lối ra vào cung điện…khuấy động sự yên tĩnh trong các căn phòng của Nga
hoàng. Cuộc tấn công Cung điện Mùa Đông giành thắng lợi”.
d. Khi trình bày các sự kiện sách giáo khoa chỉ nêu hoặc trình bày vắn tắt:
Giáo viên sử dụng phương pháp kể chuyện vừa có tác dụng làm rõ sự kiện, vừa
khắc sâu kiến thức cho học sinh vì sách giáo khoa nêu quá sơ lược:
- Ví dụ các sự kiện:
+ Cách mạng tư sản Nêđéclan chống thực dân Tây Ban Nha thế kỉ XVI.
+ Cuộc chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc ( 1840-1842).
+ Sự kiện đội quân của Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hi vọng của Pháp trên
sông Vàm Cỏ.
+ Phong trào chống sưu thuế ở Trung Kì do ảnh hưởng của phong trào Duy tân do
Phan Châu Trinh khởi xướng.
e. Khi trình bày các bài học về kinh tế, văn hoá, chính trị: Giáo viên cần đưa ra
các câu chuyện sinh động tăng thêm sự hấp dẫn cho bài dạy.
- Ví dụ khi dạy Bài: 1: Tiết 1,2,3: “Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên”, giáo
viên kể về phương thức sản xuất mới hình thành và phát triển ở các nước Tây Âu
trong các thế kỉ XV và XVII, đó là các công ti thương mại lớn dần được thay thế
cho các thương hội thời trung đại; câu chuyện về các cuộc phát kiến địa lí của Magien-lăng, của Cô-lôm-bô để tìm ra những vùng đất mới. Từ đó, học sinh thấy được
sự xuất hiện phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa nó kéo theo nhiều việc tất
yếu.
- Đặc biệt khi trình bày Bài 8: Tiết 15: “ Sự phát triển của kĩ thuật, khoa học,
văn học và nghệ thuật thế kỉ XVIII-XIX”, giáo viên nhất thiết phải đưa ra những câu
chuyện liên quan đến các phát minh, hay những câu chuyện về các nhà khoa học,
những thành tựu ngoài sức tưởng tượng hiện nay của nhân loại.
+ Khi dạy mục I. Những thành tựu chủ yếu về kĩ thuật, để tạo biểu tượng cho học
sinh về tác dụng của xe lửa đối với sản xuất và đời sống, giáo viên có thể kể câu
chuyện:
7
loãng”, không tập trung vào mục đích chính của bài, không đáp ứng được yêu cầu
bài dạy.
a. Giáo viên có thể kết hợp kể chuyện với việc cho học sinh xem tranh ảnh,
quan sát lược đồ, sa bàn.
- Ví dụ khi dạy Bài 26: Tiết 40-41: “ Phong trào kháng Pháp trong những năm
cuối thế kỉ XIX” (tiết 2), phần II. Những cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần
vương, giáo viên kết hợp câu chuyện kể về căn cứ Hương Khê với việc hướng dẫn
học sinh tìm hiểu lược đồ căn cứ Hương Khê trong sách giáo khoa: “Địa bàn hoạt
động của nghĩa quân Hương Khê lan rộng khắp 4 tỉnh miền Trung: Thanh Hoá,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đại bản doanh đặt tại khu Ngàn Trươi thuộc
huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Khu trung tâm Ngàn Trươi là vùng rừng núi rậm
rạp, nằm ở cuối con sông Ngàn Sâu, bên cạnh dãy núi Vụ Quang hiểm trở. Từ
Ngàn Trươi có 3 con đường độc đạo, khúc khuỷu có thể vào Quảng Bình, Quảng
Trị và ra Nghệ An, Thanh Hoá, thông sang Lào và Xiêm. Lợi dụng địa hình hiểm
8
trở, nghĩa quân chủ yếu áp dụng lối đánh du kích, gây cho Pháp nhiều phen khốn
đốn”. Từ đó, giúp học sinh hiểu rõ hơn thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã
biết lợi dụng địa hình hiểm trở để đánh giặc, hiểu rõ hơn tại sao khởi nghĩa Hương
Khê là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương.
- Khi dạy Bài 30: Tiết 49-50: “ Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ
XX đến năm 1918”, khi dạy mục I, ý 3. Cuộc vận động Duy tân và phong trào
chống thuế ở Trung Kì, giáo viên có thể kể chuyện về Phan Châu Trinh kết hợp với
việc yêu cầu học sinh quan sát ảnh trong sách giáo khoa ( hoặc giáo viên có thể
dùng ảnh đã được phóng to có trong thư viện của trường) để giới thiệu cho học sinh
về Phan Châu Trinh: “Ông sinh ra trong một gia đình quan lại nhỏ. Năm 1900, ông
thi đỗ cử nhân, năm 1903, đỗ Phó bảng và làm Thừa biện Bộ lễ. Năm 1905, ông
cáo quan; từ năm 1906, ông hoạt động trong phong trào Duy tân. Phan Châu Trinh
kịch liệt lên án tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu và tích cực đề xướng tư tưởng
bóc lột đến cùng cực, đời sống của họ vô cùng cực khổ, vì vậy họ luôn đi đầu trong
cuộc đấu tranh đòi tự do và no ấm.
2. 4 Hiệu quả của sáng kiến:
Từ thực trạng về ý thức cũng như về chất lượng học tập của học sinh học kì I, tôi
đã tiến hành thực nghiệm đề tài đối với khối 8, kết quả thu được sau học kì I so
sánh với khảo sát đầu năm có sự khác nhau như sau:
- Học sinh khối 8 có ý thức tự giác tìm hiểu các kiến thức lịch sử, các câu
chuyện lịch sử trước khi đến lớp.
- Trên lớp học sinh học tập tích cực, chủ động hơn, hầu hết học sinh nắm được
nội dung cơ bản của bài học ngay tại lớp, nhớ lâu những câu chuyện mà giáo viên
kể trong bài học.
- Học sinh có phương pháp học tập phù hợp, hiểu bài nên hứng thú học tập cũng
được nâng lên đáng kể. Số lượng học sinh thích học môn Lịch sử và tự chuẩn bị các
câu chuyện lịch sử mà sách giáo khoa chưa đề cập đến để nâng cao sự hiểu biết của
mình ngày càng nhiều.
Kết quả kiểm tra chất lượng học kì I của 2 lớp 8 như sau:
Tổng
số
23
Giỏi
SL
3
%
13,04
Kết quả điều tra
- Nhà trường cần mua một số tư liệu, tài liệu có liên quan đến bộ môn lịch sử để
trong thư viện nhà trường để giáo viên và học sinh tham khảo thêm như: “ Những
mẩu chuyện lịch sử văn minh thế giới” tập 1 và tập 2; “ Việt sử giai thoại” ; “ Các
triều đại Việt Nam” ; “ 13 vua 9 chúa”; “ Lịch sử văn minh thế giới” ; phim tài liệu,
băng ghi âm lời nói của các nhà cách mạng, sách viết về tiểu sử của các anh hùng
dân tộc và các sách nói về phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử.
- Trong các phong trào thi đua của Nhà trường như chào mừng ngày nhà giáo Việt
Nam, ngày thành lập Đoàn…các tổ chức Đoàn, Đội trong Nhà trường nên tổ chức
10
các cuộc thi có liên quan đến môn Lịch sử như dựng lại các câu chuyện lịch sử kể
về các danh nhân, các nhân vật có công dựng nước và giữ nước, thi kể chuyện lịch
sử, các câu đố về lịch sử.
- Với phương châm “ Trăm nghe không bằng mắt thấy”, là giáo viên dạy lịch sử
tôi kiến nghị trong chương trình cần cho học sinh đi thực tế, sau đó viết bài thu
hoạch, tổ chức giờ ngoại khoá, những buổi đi thăm các bà mẹ Việt Nam anh hùng,
thăm nghĩa trang liệt sĩ ở địa phương nhằm giáo dục lòng biết ơn các anh hùng liệt
sĩ…đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc để đất nước có được như ngày hôm
nay.
Trên cơ sở bàn về phương pháp kể chuyện trong giờ dạy-học lịch sử ở lớp 8
THCS chắc chắn sẽ làm cho học sinh yêu thích bộ môn này hơn, nhận thức đúng
việc học tập môn lịch sử đúng mức. Từ đó, hình thành cho học sinh một thói quen
tư duy, ghi nhớ sự kiện, nhân vật thông qua việc liên tưởng tới các câu chuyện được
kể, để từ đó khắc sâu hơn nữa nội dung đó, hay một vấn đề lịch sử nào đó mà mục
tiêu bài học đặt ra cho thầy và trò cần đạt được đối với bộ môn được cho là không
mấy hấp dẫn đối với người học này.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình giảng dạy môn Lịch
sử, hiểu biết và kinh nghiệm của tôi chắc chắn không tránh khỏi những sai sót.
Kính mong Hội đồng sư phạm xem xét và bổ sung, đóng góp ý kiến để bài viết của