MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
2
1. Lý do chọn đề tài :
2
2. Mục đích nghiên cứu:
3
3. Đối tượng nghiên cứu:
3
4. Phương pháp nghiên cứu:
4
a. Phương pháp tham khảo tài liệu:
4
b. Phương pháp phỏng vấn:
4
c. Phương pháp kiểm tra sư phạm:
12
III. PHẦN KẾT LUẬN , ĐỀ XUẤT:
15
1. Kết luận:
15
2. Đề xuất:
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC
17
18
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP
PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN. ĐÁNH GIÁ ĐẠT TỪ LOẠI C TRỞ LÊN
19
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
giá cao khả năng, dễ lẫn lộn giữa dũng cảm với liều lĩnh, giữa khiêm tốn với nhu nhược, giữa tình cảm
đúng với tình cảm sai…
Khi tuyến sinh dục đã hoạt động đủ mạnh, đủ làm xuất hiện giới tính chính thì trở lại kiềm
hãm sự hoạt động của hai tuyến hạ não và giáp trạng. Bởi thế, chiều cao phát triển chậm dần, ít năm
nữa sẽ dừng hẳn, trái lại các chiều ngang, các vòng cơ thể cùng với sức lực tăng lên rõ rệt.
Nói chung, cơ thể học sinh đang trên đà phát triển mạnh. Những sự mất cân đối giữa các mặt
đặt yêu cầu cho các nhà giáo dục phải biết chăm sóc các em thật chu đáo. Thiếu luyện tập thể dục, ý
thức giữ vệ sinh kém, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí không hợp lý sẽ đưa đến những tác hại không nhỏ
cho sức khỏe. Nhưng nếu hiểu biết rõ đặc điểm và sử dụng đúng năng lực của các em thì tuổi này có
nhiều đóng góp tốt, có nhiều tài năng đang độ nảy nở, kể cả tài năng về lĩnh vực TDTT.
Môn học thể dục trong nhà trường ngày nay đã được ngành Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo
nhà trường quan tâm, nhưng vẫn còn một số các em học sinh đang còn có thái độ xem thường mà
chủ yếu là các em học sinh lớp 9 ở lứa tuổi 14-15. Do các em đều là con nhà nông nên sức khỏe yếu,
năng khiếu vận động còn hạn chế, chế độ ăn uống không đảm bảo, thời gian vận động cũng hạn chế
vì phải phụ giúp gia đình và đặc biệt ở lứa tuổi này các em có sự biến đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý nên
các em thường hay nhút nhát, thiếu sự say mê, hứng thú, nhiệt tình trong tập luyện.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục thể chất, là một giáo viên đã có nhiều năm
công tác tại trường, tôi luôn trăn trở có những cải tiến cụ thể để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy và
huấn luyện đội tuyển Điền kinh của trường. Xuất phát từ tình hình thực tiễn của học sinh trường
THCS Nga Nhân và những năm được chuyên môn Phòng giáo dục giao nhiệm vụ huấn luyện đội tuyển
điền kinh cấp huyện dự thi Hội khỏe phù đổng cấp tỉnh và các giải thi học sinh giỏi TDTT cấp huyện,
cấp tỉnh. Tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích. Từ đó tôi mạnh dạn xây dựng đề tài: “Ứng
dụng một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn cho học sinh lớp 9 Trường THCS
Nga Nhân – Nga Sơn – Thanh Hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Lựa chọn và ứng dụng một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn cho học
sinh lớp 9 Trường THCS Nga Nhân – Nga Sơn – Thanh Hóa.
Để giải quyết mục đích nghiên cứu nói trên chúng tôi đề ra các mục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Lựa chọn một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn cho học
+ Kiểm tra mỗi lượt 4 học sinh
+ Mỗi học sinh thực hiện 1 lần lấy thành tích
- Thực hiện chạy ngắn theo luật điền kinh.
+ Loại đạt: Thực hiện đúng 3 giai đoạn kĩ thuật và thành tích đạt 9,0-10,0 giây (nam), 10,011,3 giây (nữ). Có một vài sai sót nhỏ về kĩ thuật hoặc thành tích đạt 9,8 – 10,5 giây nam, 11,1 – 11,6
giây nữ nhưng thực hiện sai 1 trong 3 giai đoạn kĩ thuật.
+ Loại chưa đạt: Thực hiện hai giai đoạn kĩ thuật, không tính thành tích. Thực hiện sai ba giai
đoạn kĩ thuật.
d. Phương pháp thực nghiệm:
+ Nhóm thực nghiệm: Chọn ngẫu nhiên 28 em học sinh lớp 9B .
+ Nhóm đối chứng: Chọn ngẫu nhiên 28 em học sinh lớp 9A
(Số lượng nam và nữ điều nhau).
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sang kiến:
Để hiểu rõ hơn đặc điểm nói trên, cần biết thêm một số hệ thống cơ quan dưới đây:
Hệ thần kinh: đã hoàn thiện về cơ cấu tế bào, nhưng chức năng sinh lý vẫn đang phát triển
mạnh. Hưng phấn vẫn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp mặc dù còn thấp nhưng sâu sắc
hơn tuổi nhi đồng. Dễ thành lập phản xạ, song cũng dễ phai mờ, cho nên tiếp thu nhanh nhưng cũng
chóng quên. Thần kinh thực vật yếu ớt ở mức độ nhất định, các dấu hiệu về kích thích cảm giác tăng
lên, 14% trai và 26% gái xuất hiện trạng thái đau đầu vô cớ, chóng mệt, hồi hộp, đôi khi có biểu hiện
đau ở vùng dạ dày, dể bị chấn thương tinh thần khi rối loạn giấc ngủ, hoặc khi giáo dục sai phương
pháp, khi công việc nặng nhọc, tập luyện quá sức.
Hệ vận động: phát triển đáng chú ý cả về số lượng và chất lượng. Xương đang cốt hóa mạnh
mẽ, dài ra rất nhanh, Các xương nhỏ ở cổ tay, cổ chân đã thành xương nhưng chưa vững vàng, lao
động, học tập nặng nề dễ gây đau kéo dài ở các khớp đó. Mãi đến 15 - 16 tuổi cột sống mới tương đối
4
ổn định các đường cong sinh lý. Nếu đi, đứng, ngồi sai tư thế vẫn có thể bị cong vẹo cột sống. Đặc
biệt đối với nữ do các xương chậu chưa cốt hóa đầy đủ nên nếu tập luyện không đúng sẽ dễ bị méo,
nghiên cứu có thể góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn chạy ngắn cho học sinh bậc trung
học cơ sở tạo một nền tảng vững chắc cho các em bước qua cấp trung học phổ thông.
Ở lớp 9 môn chạy ngắn được tiến hành giảng dạy trong 8 tuần của học kỳ 1 và được phân bổ
trong 15 tiết. Trong một tiết học 45 phút có 3 môn học là chạy ngắn, bài thể dục và chạy bền. Thời
lượng để học 3 môn này chỉ chiếm khoảng 32-35 phút. Do vậy lượng vận động chưa cao nên chưa
phát huy hết khả năng của học sinh.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Như chúng ta đã biết môn Thể dục là môn học có tính chất đặc thù riêng, nó khác các môn văn
hóa khác ở chỗ là giảng dạy ngoài trời học sinh tiếp xúc trực tiếp với điều kiện ngoại cảnh như nắng,
gió, ánh sáng, không khí…
5
Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên đóng vai trò chủ đạo tổ chức, điều khiển và sắp
xếp hợp lý các nội dung và lượng vận động phù hợp với nguyên tắc sư phạm chung. Tác động của
buổi tập phải toàn diện về các mặt giáo dưỡng, giáo dục sức khỏe, trong các nội dung của môn thể
dục chạy ngắn có vai trò quan trọng liên quan đến các nội dung khác. Sức nhanh nói chung và sức
nhanh khi di chuyển nói riêng đều rất cần thiết cho các hoạt động sống.
Tập luyện chạy ngắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác giáo dục và bồi dưỡng học sinh trong
nhà trường. Qua đó hình thành các phẩm chất ý chí và đạo đức của con người, góp phần vào giáo dục
và nâng cao trí tuệ, giáo dục lao động và giáo dục thẩm mỹ cho các em. Chạy 60m là một hoạt động
có chu kỳ nó biểu hiện năng lực di động của con người với tốc độ nhanh nhất. Tần số và độ dài bước
chạy là hai thành phần quyết định tốc độ chạy. Tuy nhiên, nếu cố bước dài sẽ làm giảm tần số, mặt
khác nếu cố tăng tần số và độ dài bước chạy phải hợp lý không để chúng cản phá lẫn nhau mới có tốc
độ cao.
Chạy ngắn gồm các cự ly sau: 60m, 80m, 100m, 200m, 400m, trong đó chạy 60m là một nội
dung bắt buộc theo phân phối chương trình trong giờ học thể dục cấp THCS và chạy 100m là nội dung
mà giải điền kinh và hội khỏe Phù Đổng tỉnh tổ chức thi đấu.
Trong những cuộc thi TDTT do Tỉnh tổ chức, có thể nói môn chạy ngắn là một trong những
Từ những vần đề trên có thể thấy việc ý thức rèn luyện các bài tập thể lực của đại đa số học
sinh là rất kém, các em thường không có tinh thần cố gắng quyết tâm, hoặc khi tập luyện thì chỉ vận
động sơ sài, đôi khi không đúng tần số và biên độ động tác, chỉ cần gặp một khó khăn là sẵn sàng bỏ
luyện tập.
Cụ thể kết quả kiểm tra ban đầu của các em học sinh lớp 9 trường THCS Nga Nhân – Nga Sơn
– Thanh Hóa như sau:
* Kết quả kiểm tra nội dung chạy ngắn (60m) đối với lớp 9B năm học 2016-2017 trước khi áp
dụng sáng kiến:
STT
Họ và tên
Giới
Tính
Thành tích
(giây)
Xếp loại
1
Mai Khắc Anh
Nam
9,98
CĐ
5
Phạm Văn Khiêm
Nam
9,45
Đ
6
Vũ Phương Nam
Nam
10,18
CĐ
7
Mai Văn Tài
Nam
9,36
Đ
11
Đỗ Đăng Trường
Nam
9,88
Đ
12
Hỏa Văn Trường
Nam
10,20
CĐ
13
Mỵ Duy Tuấn
Nam
9,34
Đ
17
Mỵ Thị Ngọc Ánh
Nữ
10,90
Đ
18
Mai Thị Bình
Nữ
11,12
Đ
19
Mai Thị Hằng
Nữ
11,49
CĐ
Ghi chú
7
23
Mai Thị Linh
Nữ
11,08
Đ
24
Mai Thị Phương
Nữ
11,45
CĐ
25
Đỗ Thị Quyên
Nữ
11,22
Đ
* Kết quả kiểm tra nội dung chạy ngắn (60m) đối với lớp 9A năm học 2016-2017 trước khi áp
dụng sáng kiến:
STT
Họ và tên
Giới
tính
Thành tích
Xếp loại
1
Mai Văn Đức
Nam
9,85
Đ
5
Mỵ Duy Đạt
Nam
9,56
Đ
6
Mỵ Duy Đức
Nam
10,08
CĐ
7
Mai Văn Khải
Nam
9,88
Đ
11
Trịnh Hồng Phúc
Nam
9,88
Đ
12
Lê Văn Quân
Nam
10,14
CĐ
13
Hoàng Thái Sơn
Nam
9,38
Đ
17
Mai Thị Ngọc Anh
Nữ
10,98
Đ
18
Đỗ Thị Giang
Nữ
11,42
CĐ
19
Mai Thị Linh
Nữ
11,24
Đ
Nữ
11,39
CĐ
23
Trịnh Ái My
Nữ
11,08
Đ
24
Mai Thị Nga
Nữ
11,17
Đ
25
Trần Thị Sâm
Nữ
11,04
Đ
* Kết quả tổng hợp thành tích chạy ngắn (60m) của lớp 9A và 9B năm học 2016-2017. Trước
khi áp dụng sáng kiến:
XẾP LOẠI
Nhóm thực
nghiệm
Nhóm đối
chứng
LỚP
TỔNG
SỐ
ĐẠT
Tỉ lệ
(%)
CHƯA ĐẠT
Tỉ lệ
(%)
- Chạy đạp sau 30m.
- Chạy nâng cao đùi 30m.
- Chạy 30m tốc độ cao.
- Chạy 30m xuất phát cao.
- Chạy 30m xuất phát thấp.
- Chạy biến tốc 30m.
- Tại chỗ vịn tường, cây nâng cao đùi liên tục.
- Trò chơi vận động: “Người thừa thứ 3”, “Chạy đuổi”,”Chạy tiếp sức chuyển vật”…
9
Những nhóm bài tập này khi áp dụng vào tập luyện phải theo dõi từ lúc học sinh bắt đầu tập
luyện để biết được điểm nào học sinh thực hiện còn yếu, điểm nào cần bổ sung… mới phát huy hết
khả năng tố chất sẵn có của các em. Nếu sử dụng những bài tập không phù hợp với nhu cầu cần của
học sinh sẽ không đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc lựa chọn bài tập cho phù hợp thì
giáo viên phải nắm bắt trước tình hình, tâm lý, thể lực và khả năng của học sinh sao cho bài tập áp
dụng vào tập luyện mới đạt được hiệu quả tốt.
b. Ứng dụng các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn cho học sinh lớp 9:
Sau khi nghiên cứu thực trạng, chọn lựa bài tập, tôi tiến hành soạn thảo chương trình ứng
dụng cụ thể như sau:
Bước 1: Lập tiến trình biểu theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo năm học
2016 – 2017.
Bước 2: Soạn giáo án cho nhóm thực nghiệm (Lớp 9B) theo chương trình của tiến trình biểu.
Bước 3: Ứng dụng vào chương trình giảng dạy. Tiến hành giảng dạy dựa theo tiến trình biểu,
giáo án đã soạn và các bài tập đã được lựa chọn trên nhóm thực nghiệm (mỗi tuần 2 tiết).
Để nghiên cứu tác dụng của các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn cho học
sinh khối lớp 9, tôi tiến hành thực nghiệm trên 2 nhóm đối tượng theo quy ước sau:
+ Nhóm thực nghiệm (Lớp 9B): Chọn ngẫu nhiên 28 em học sinh, thời gian tập luyện là 2
buổi/tuần. Nội dung tập luyện theo phân phối chương trình của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo kết hợp các
Phạm Minh Đạt
Nam
9,70
Đ
3
Lê Minh Đức
Nam
9,71
Đ
4
Mỵ Duy Hậu
Nam
9,94
Đ
5
Đ
8
Nguyễn Văn Thành
Nam
9,72
Đ
9
Mai Văn Toản
Nam
9,62
Đ
10
Nguyễn Văn Tiến
Nam
9,20
Đ
14
Mai Văn Tuấn
Nam
9,42
Đ
15
Mai Công Văn
Nam
9,78
Đ
16
Lý Mai Anh
Nữ
10,40
Đ
20
Mỵ Thị Hồng
Nữ
11,12
Đ
21
Mai Khánh Huyền
Nữ
10,82
Đ
22
Mỵ Thị Mỹ Linh
Nữ
11,27
Đ
26
Mai Thị Tâm
Nữ
11,21
Đ
27
Đỗ Phương Thảo
Nữ
11,26
Đ
28
Mỵ Thị Vui
Nữ
11,18
Nam
9,73
Đ
3
Nguyễn Đức Bằng
Nam
10,08
CĐ
Ghi chú
11
4
Đỗ Minh Đại
Nam
9,70
Đ
8
Mai Xuân Lực
Nam
9,39
Đ
9
Mai Văn Mạnh
Nam
9,97
Đ
10
Nguyễn Văn Mạnh
Nam
10,00
Đ
14
Trần Văn Thế
Nam
9,92
Đ
15
Phùng Đức Tiến
Nam
9,28
Đ
16
Vũ Quỳnh Anh
Nữ
10,75
Đ
20
Mỵ Thị Linh
Nữ
11,31
CĐ
21
Trần Thị Minh
Nữ
11,18
Đ
22
Phạm Thị Mơ
Nữ
11,28
Đ
26
Đỗ Thị Tươi
Nữ
11,32
CĐ
27
Đặng Thị Thu
Nữ
10,90
Đ
28
Mai Thị Huyền Trang
Nữ
11,00
9B
28 HS
28
100 %
0
0%
9A
28 HS
22
78,6 %
06
21,4%
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và
nhà trường.
* Kết quả so sánh trước và sau khi áp dụng sáng kiến:
Nhóm thực
(Đầu năm là:
20)
(Đầu năm là:
71,4 %)
(Đầu năm là:
8)
(Đầu năm là:
28,6%)
+ Sau khi đã hoàn thành chương trình giảng dạy hết nội dung chạy ngắn, tôi đã kiểm tra thành
tích của các em lớp 9B. Kết quả thu được rất khả quan 28/28 học sinh đạt yêu cầu, không có học sinh
nào chưa đạt, so với đầu năm chỉ có 20/28 học sinh đạt yêu cầu, và 8/28 là học sinh chưa đạt yêu
cầu.
Nhóm đối
chứng
( Không
áp dụng bài
tập bổ trợ )
LỚP
9A
TỔNG SỐ
28 HS
bổ trợ, kết quả so với đầu năm không cao, tổng số 28 học sinh mà chỉ có 22/28 học sinh đạt và còn lại
6/28 học sinh chưa đạt yêu cầu, so với đầu năm có 18/28 học sinh đạt yêu cầu và 10/28 là số học sinh
chưa đạt yêu cầu.
Qua bảng trên, ta có thể nhận thấy kết quả học tập của học sinh lớp 9 B so với kết quả của lớp
9A năm học 2016 – 2017 là có sự tiến bộ rõ ràng, không có học sinh chưa đạt yêu cầu, điều cần chú ý
là kết quả của từng lớp hoàn toàn phụ thuộc tương ứng vào tiêu chuẩn quy định thành tích của tiêu
chuẩn RLTT của giáo viên.
III. PHẦN KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
13
Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật môn điền kinh nói chung và kỹ thuật chạy ngắn nói riêng,
việc tìm ra các phương pháp tập luyện, từ đó lựa chọn ra phương pháp tập luyện là hoàn toàn cần
thiết. Có như vậy mới nâng cao được thành tích của quá trình giảng dạy.
Hai phương pháp tôi đã sử dụng thì phương pháp sử dụng các bài tập chuyên môn được tôi
nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng đó đem lại hiệu quả hơn trong việc hoàn thiện kĩ thuật và nâng cao
thành tích chạy ngắn cho các em học sinh lớp 9 trường THCS Nga Nhân – Nga sơn – Thanh Hóa..
Trên cơ sở lí luận thực tiễn cho thấy được rằng quá trình thực hiện phương pháp nghiên cứu
một số bài tập bổ trợ để nâng cao thành tích chạy 60m học sinh lớp 9 đối với môn chạy cự li ngắn nói
riêng và điền kinh nói chung trên các cơ sở đó các bài tập cần phải được lựa chọn một cách phù hợp
sao cho có hiệu quả cao nâng cao chất lượng học sinh đồng thời cũng nâng cao chất lượng bộ môn.
Quá trình vận dụng giáo viên biết lựa chọn phát huy tác dụng bài tập đảm bảo đúng phù hợp
với nội dung, học sinh nắm được các bài tập vận dụng thực hiện tốt, các bài tập đó bổ trợ tốt cho giai
đoạn thực hiện kĩ thuật đạt thành tích cao. Thực hiện yêu cầu đó từ những vấn đề trên việc lựa chọn
các bài tập bổ trợ phù hợp cần được thực hiện nghiêm túc để đáp ứng được yêu cầu giảng dạy
chung, chính vì vậy đối với phương pháp nghiên cứu ứng dụng các bài tập bổ trợ nâng cao thành tích
chạy ngắn cho học sinh lớp 9 là cần thiết và để giải quyết được vấn đề nêu trên quá trình nghiên cứu
cần phải xây dựng đề ra giải pháp hữu hiệu tích cực cụ thể trong việc lựa chọn và ứng dụng để đạt
chất lượng dạy học góp phần cùng nhà trường hoàn thành xuất sắc kế hoạch nhiệm vụ năm học
2016-2017.
2. ĐỀ XUẤT:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình giảng dạy tại trường Tôi xin có một số đề
xuất như sau:
- Đối với nhà trường:
+ Ban Giám Hiệu Trường THCS Nga Nhân – Nga Sơn – Thanh Hóa cần có kế hoạch tu sửa, mở
rộng sân bãi tập luyện và bổ sung thêm các cơ sở vật chất như phương tiện dạy học nhằm đáp ứng
nhu cầu môn học hiện nay.
+ Ban Giám Hiệu Trường THCS Nga Nhân – Nga Sơn – Thanh Hóa cho phép tôi mở rộng
nghiên cứu ứng dụng cho đối tượng học sinh các lớp 6,7,8 nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn của
nhà trường.
- Đối với Ngành Giáo Dục của huyện :
Ngành Giáo dục huyện có thể nghiên cứu áp dụng sáng kiến này trong toàn huyện nhằm nâng
cao hiệu quả giảng dạy môn thể dục nói chung và nội dung Chạy ngắn nói riêng.
Trong điều kiện thời gian nghiên cứu không cho phép, tài liệu tham khảo và phương tiện kĩ
thuật chuyên môn phục vụ cho việc nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm này được
hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
KT. THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
Nga Sơn, ngày 28 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không
sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Hoàng Văn Luật
Trịnh Văn Diệu
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THCS Nga Nhân – Nga Sơn.
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại
(phòng, sở,
tỉnh,…)
1
Điều tra tính hứng thú học tập TDTT của
học sinh lớp 8 và lớp 9 trường THCS Nga
Nhân.
Tỉnh
C
2006-2007
2
Một số phương pháp tập luyện nhằm
nâng cao thành tích môn nhảy xa cho học
sinh nữ lớp 9 trường THCS Nga Nhân.
Kết quả đánh
giá xếp loại
(A, B hoặc C)
Năm học đánh
giá xếp loại
17
9 trường THCS Nga Nhân.
5
Một số phương pháp tập luyện môn nhảy
xa cho học sinh nữ lớp 9 trường THCS
Nga Nhân.
Tỉnh
C
2013-2014
18