Së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o thanh hãa
Trêng thpt chuyªn lam s¬n
............
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Họ và tên: Trương Thị Giang
Chức vu:
Tổ trưởng
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
Thanh Hóa, năm học 2015-2016
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU .......................................................................................1
1.Lí do chọn đề tài……………………………………………………………1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...2
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………..2
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………2
PHẦN II: NỘI DUNG …………………………………………………… 3
1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………….3
trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
hiện nay.
Dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một
dạng bài khó nhất của nghị luận xã hội. Kiểu bài này đòi hỏi ở học sinh kĩ năng
tổng hợp: đọc hiểu văn bản văn học, phát hiện vấn đề nghị luận, sử dụng nhuần
nhuyễn các thao tác nghị luận để bàn bạc về vấn đề... Do đó, đây là dạng bài
thường được sử dụng để đánh giá năng lực của học sinh khá giỏi.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, vi ệc rèn l uyện ki ểu bài này cho
học si nh chư a thự c sự được chú tr ọng. Ở chương trình Chuẩn, kiểu bài
nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn chỉ được tới ở bài tập trong
khi học sinh vẫn chưa được học về cách làm dạng bài này. Còn ở chương
trình Nâng cao, có bài: Luyện tập nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác
phẩm văn học (chương trình lớp 12 - 1 tiết) trong khi chưa xây dựng được tiết
học lí thuyết nào. Điều này đã khiến việc dạy của giáo viên và việc học của học
sinh gặp rất nhiều khó khăn. Về phía giáo viên thời gian ít, tài liệu không nhiều
nên còn hướng dẫn chung chung, chưa đưa ra được đặc trưng của kiểu bài này,
chưa hướng dẫn các em được cách khai thác các vấn đề xã hội đặt ra từ tác
phẩm văn học một cách hiệu quả. Về phía học sinh, lúng túng nhất đối với các
em là không phân biệt được đây là nghị luận văn học hay là nghị luận xã hội,
không biết phải bắt đầu triển khai vấn đề từ đâu và triển khai như thế nào.
3
Với những lí do trên, chúng tôi xin được mạnh dạn trao đổi với các bạn
đồng nghiệp một số kinh nghiệm về Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận
về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học .
2. Mục đích nghiên cứu
Với sáng kiến kinh ngiệm này, chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò quan
trọng cũng như đưa ra các kỹ năng cần thiết nhằm giúp học sinh dễ dàng tiếp cận
và triển khai dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm vốn mang
với nghị luận xã hội, việc đọc hiểu văn bản chỉ là phương tiện, là thao tác đầu tiên
khởi đầu cho một quá trình sau đó. Trong trường hợp này, tác phẩm văn học chỉ
là “cái cớ”, chỉ được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, rút ra ý nghĩa xã hội
khái quát của tác phẩm ấy. Mục đích chính của dạng đề này vẫn là yêu cầu
người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội, đạo lí, tư tưởng, nhân
sinh..v..v. Nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học đó mà luận bàn,
kiến giải.
Mặc dù xét về mặt nội dung dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học có thể thuộc kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý
hoặc nghị luận về một vấn đề đời sống xã hội. Tuy nhiên nó có những đặc trưng
và yêu cầu riêng.Vì vậy cần xét đến với vai trò là một dạng nghị luận xã hội
đặc biệt. Có thể nói đây là kiểu bài giao thoa giữa nghị luận văn học và nghị
luận xã hội. Dạng đề này đòi hỏi người viết vừa phải huy động các kiến thức văn
học, phát huy khả năng đọc hiểu văn bản văn học vừa phải huy động vốn sống, kĩ
5
năng phân tích , đánh giá các vấn đề xã hội . Vì thế đây chính là dạng đề tổng
hợp, thường dành cho học sinh giỏi văn.
1.2.Cách làm kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
1.2.1 Về cấu trúc triển khai tổng quát: Bài viết gồm hai phần
- Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý
nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).
+ Nếu đề văn nêu sẵn vấn đề xã hội rút ra từ một tác phẩm, thì người làm chỉ
cần phân tích qua vấn đề đó đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm.
+ Nếu đề văn chưa cho sẵn vấn đề xã hội, thì người viết cần đọc – hiểu, phân tích
văn bản để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề trước khi vào phần hai.
- Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra
từ tác phẩm văn học (câu chuyện). Khi đã có vấn đề (đề tài, chủ đề) cần bàn bạc
rồi, thì mới bắt đầu làm bài nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm, nêu suy
. Hiện tượng ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống con người
(Cần thể hiện thái độ đồng tình, biểu dương, trân trọng trước vấn đề xã hội
có ý nghĩa tích cực; phê phán những biểu hiện sai trái, suy nghĩ, quan niệm
lệch lạc so với quan niệm, tư tưởng, hiện tượng được nghị luận)
+ Mở rộng: Xem xét vấn đề ở những phương diện, góc độ khác nhau
(phương pháp, góc nhìn, tính hai mặt của vấn đề nghị luận…)
* Bước 3: Rút ra bài học cho bản thân
- Về nhận thức: Vấn đề xã hội đó giúp ta hiểu sâu sắc về điều gì? Rút ra
được điều gì có ý nghĩa?
- Về hành động: Xác định hành động bản thân phải làm gì? Việc làm cụ thể,
thiết thực.
Kết bài:
- Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm.
2. Thực trạng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học của học sinh.
- Nhiều học sinh đứng trước kiểu bài này vẫn thường nhầm lẫn sang kiểu bài nghị
luận văn học
- Nhiều học sinh khi đọc câu chuyện, tác phẩm văn học mà đề bài đưa ra, do năng lực
cảm nhận văn học kém nên không thể khái quát để nhận ra được vấn đề xã hội
- Học sinh còn lúng túng , lan man, dài dòng trong việc xác định hệ thống các luận
điểm để triển khai vấn đề
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
3.1.Rèn luyện kĩ năng nhận diện kiểu bài
7
Như đã nói kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là
dạng đề tổng hợp có sự giao thoa giữa nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Vì
vậy, nếu không tìm hiểu đề cẩn thận để nhận diện đúng kiểu bài, học sinh dễ nhầm
liên tục. Thực chất đây chính là khâu xác định vấn đề nghị luận cho bài văn nghị luận
xã hội. Nếu nhận ra được những thông điệp cuộc sống ý nghĩa, những triết lí nhân
sinh sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm thì bài viết của học sinh mới có thể
tạo được sức thuyết phục. Và theo chúng tôi, làm tốt được thao tác này, biết đọc hiểu
tác phẩm một cách ngắn gọn để nhận ra vấn đề xã hội có ý nghĩa coi như bài viết của
các em đã đi đúng hướng.
Để thực hiện tốt kĩ năng này, đòi hỏi học sinh vừa phải có khả năng đọc hiểu,
cảm thụ tác phẩm, đồng thời phải nhạy cảm, sắc bén, biết vận dụng liên hệ những
nội dung kiến thức văn học lĩnh hội được vào thực tế cuộc sống xung quanh mình để
nhận ra được những vấn đề xã hội có ý nghĩa. Vì vậy việc rèn luyện cho học sinh kĩ
năng phát hiện vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học thường được chúng tôi chú ý
thực hiện khi dạy đọc hiểu tác phẩm trong chương trình và cả khi hướng dẫn đọc
thêm tác phẩm ngoài chương trình, khi dạy học sinh trên lớp và cả khi hướng dẫn học
sinh tự học ở nhà thông qua các bài tập, câu hỏi có tính chất vận dụng cao. Cụ thể
như sau:
- Khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu những tác phẩm văn học trong chương trình, từ
việc tìm hiểu khám phá những tầng sâu ý nghĩa trong tác phẩm chúng tôi vẫn thường
yêu cầu học sinh liên hệ với những hiện tượng trong đời sống, hoặc những bài học
sống sâu sắc mà các em nhận được.
Chẳng hạn như khi dạy truyện cổ tích Tấm Cám, sau khi hướng dẫn học sinh tìm
hiểu về cuộc đấu tranh để giành lại hạnh phúc của Tấm, chúng tôi yêu cầu học sinh:
Trình bày một thông điệp sâu sắc, ý nghĩa mà em nhận được từ cuộc đấu tranh
giành lại hạnh phúc của cô Tấm. Trước yêu cầu này, trên cơ sở những gì đã tìm hiểu
và cảm nhận, bằng khả năng tư duy của mình nhiều em đã đề xuất được một số vấn
đề như: Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái cái ác trong cuộc sống; hạnh phúc là
khi biết đấu tranh với cái ác;hạnh phúc bền vững là do chính mình tự tạo lập nên.
Hay như khi dạy truyện ngắn Chữ người tử tù ( Nguyễn Tuân), sau khi hướng
dẫn học sinh cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của nhân vật Huấn Cao, giáo viên có thể yêu
cầu học sinh thực hiện bài tập sau:
hoạt lớp. Để tạo hứng thú, chúng tôi thường tổ chức theo kiểu cuộc chơi, có dẫn
chương trình, có giám khảo , có bình bầu và xếp giải. Với hoạt động này, chúng tôi
nhận thấy học sinh không chỉ được bồi đắp tình yêu với văn chương , không chỉ biết
gắn kết, liên hệ tác phẩm văn học với đời sống mà còn được trau dồi, rèn luyện nhiều
kĩ năng khác. Sau đây là một vài câu chuyện, bài thơ mà các em đã sưu tầm, cảm
nhận và rút ra ý nghĩa, bài học sống cho mình.
10
VD1: Có em đã chọn một đoạn thơ sau trong bài Biển của Lâm Thị Mĩ Dạ
“… Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào tận bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu…”
Từ nội dung của đoạn thơ học sinh đã biết đặt ra được vấn đề về quan niệm
sống hết sức có ý nghĩa đó là: Phải chăng những gì mà ta dễ dàng có được là không
đáng trân trọng.
VD 2:
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời, ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng chợt
râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng:
Câu 1: Nhận xét của em về nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão trong hai câu thơ cuối
của bài thơ?
Câu 2: Tại sao trong cuộc sống con người ta cần phải biết thẹn?
Câu 3: Hãy lấy ví dụ về những nỗi thẹn đáng được trân trọng trong cuộc sống mà
em biết.
Như vậy thông qua phương pháp phát vấn đàm thoại GV giúp HS định hướng
kiến thức, phát huy được tính tích cực chủ động của mình và khơi dậy được trong
các em những suy nghĩ về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm.
3.3.2 Vận dụng phương pháp nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạy học mà ở đó GV
là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiển HS phát hiện vấn đề,
học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải quyết vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Tình huống có vấn đề là tình huống mà ở đó gợi cho người học những khó
khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết phải vượt qua và có khả năng
vượt qua nhưng không phải ngay tức thời mà cần phải có quá trình tư duy tích
cực, vận dụng, liên hệ những tri thức cũ liên quan.
12
GV có thể áp dụng phương pháp này để giúp học sinh chủ động, tự tin
bộc lộ những suy nghĩ của bản thân trước những tình huống cụ thể được đặt ra, từ
đó rèn luyện kĩ năng và tư duy để viết bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học.
VD: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu câu chuyện của người đàn bà hàng chài
truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, GV đặt ra các tình
huống sau cho học sinh thảo luận, tìm hướng giải quyết :
- Em có đồng tình với cách giải quyết không bỏ chồng, chấp nhận bị đánh
đập của người đàn bà hàng chài để con được ăn no không? Vì sao
- Nếu em là nhân vật Phùng, khi chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ
hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Biện pháp này được chúng tôi thực hiện trong các
giờ luyện tập kĩ năng làm văn ở buổi học thêm và thông qua các bước sau:
-
Giáo viên ra đề bài để học sinh chuẩn bị ở nhà.
-
Gọi hai học sinh trình bày : một em trình bằng bảng , một em trình bày bằng
máy chiếu dàn ý chi tiết của mình.
-
Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét, thảo luận, có sự so sánh đối chiếu
giữa hai phần trình bày.
-
Giáo viên tổng kết và nêu dàn ý định hướng
-
Giáo viên yêu cầu học sinh trên cơ sở dàn ý đã thống nhất về nhà viết thành
bài hoàn chỉnh
-
Học sinh nạp bài và chấm bài của bạn, từ đó thảo luận theo từng tổ đề xuất
giới thiệu bài làm xuất sắc trong buổi học hôm sau.
Với cách tiến hành như trên , sau đây chúng tôi xin giới thiệu dàn ý cụ thể cho
+ Đó cũng là câu chuyện về niềm tin của con người trong cuộc sống. Lòng tốt là rất
đáng quý nhưng niềm tin tưởng lẫn nhau còn đáng quý hơn gấp bội.
2. Nghị luận về ý nghĩa của câu chuyện
* Bàn luận:
- Trong thực tế, nhiều người có lối sống ích kỉ, thực dụng. Họ chỉ biết nhận mà không
biết cho đi, luôn toan tính cho bản thân mà bất chấp tất cả.
- Trong cuộc sống con người không nên có lối sống thực dụng, toan tính, ích kỉ. Lối
sống ấy khiến con người trở nên vô cảm, sống cô đơn, thậm chí chuốc họa vào thân.
- Cuộc sống luôn cần sự quan tâm, hợp tác và sẻ chia để mỗi người luôn cảm nhận
được niềm hạnh phúc.
- Sự quan tâm, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau sẽ khiến cho các mối quan hệ xã hội
luôn tốt đẹp, cuộc sống gần gũi,tràn ngập yêu thương.
- Giá trị cuộc sống nằm ở những điều mình đang có tuy vậy thực tế vẫn còn rất nhiều
người không biết trân trọng những điều đó luôn tìm kiếm những giá trị xa xôi, viển
vông.
- Biết trân trọng mọi điểu thuộc về hiên tại con người sẽ luôn cảm thấy tự tin, yêu
cuộc sống, thấy cuộc sống này thật đáng sống, không ngừng nỗ lực phấn đấu.
15
- Trong cuộc sống, chỉ có lòng tin tưởng lẫn nhau mới giúp duy trì các mối quan hệ
dài lâu, nhưng vẫn có những người trao đi lòng tốt với thái độ ngờ vực, thiếu tin
tưởng.
- Niềm tin giúp cho chúng ta vượt qua những thử thách khó khăn, thấy cuộc sống
luôn có ý nghĩa và tràn đầy yêu thương.
* Bài học:
- Giá trị đích thực của cuộc sống là cho đi và nhận lại. Khi bạn cho đi bạn sẽ nhận lại
nhiều hơn.
- Trong cuộc sống người không biết trân trọng những gì mình đang có sẽ không bao
giờ nhận được hạnh phúc,
- Chiếc lá nhỏ nhoi bình thường là niềm biết ơn lớn lao của bông hoa. Chim sâu cứ
tưởng nó đã đôi lần biến thành hoa, thành quả, thành mặt trời nhưng không, cả đời nó
vẫn là chiếc lá như thế. Chính vì nó luôn là chiếc lá, sự giản đơn, bình thường ấy đã
tạo ra bao đóa hoa đẹp đẽ.
à Câu chuyện đã cho thấy nhiều vấn đề và hiện tượng của cuộc sống:
+ Giá trị của con người thực chất lại là những điều vô cùng giản dị, bình thường.
+ Cuộc đời mỗi con người là câu chuyện đẹp nhất do mỗi chúng ta viết ra.
+ Cái đẹp chính là nằm ở sự giản dị, khiêm tốn, thầm lặng dâng hiến, không ganh
đua, bon chen.
+ Cuộc sống là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Giống như bông hoa phải đặt
cạnh chiếc lá, chiếc lá tôn vinh nét đẹp của bông hoa, cái tôi phải đặt trong cái ta, cái
ta là sự tổng hợp của những cái tôi nhỏ bé. Chỉ có như vậy cuộc sống mới trở nên tốt
đẹp, có ý nghĩa.
2. Nghị luận về ý nghĩa của câu chuyện
* Bàn luận:
- Giá trị của mỗi người không nằm ở những điều xa vời, lớn lao mà ở ngay chính
những điều bình thường, thân thuộc.
- Mỗi người phải luôn là chính mình, luôn sống đúng nghĩa, luôn tự tin vào những
giá trị riêng của bản thân.
- Cái đẹp luôn tiềm ẩn ngay trong những điều giản dị, nhỏ bé, lặng thầm nhất, Đẹp
không có nghĩa là phải xa hoa, là lộng lẫy, là quyền quý.
- Con người không thể sống chỉ vì cái tôi riêng mà tách ra khỏi cái ta chung.
* Ý nghĩa:
- Ý thức được giá trị của bản thân ta sẽ luôn thấy tự tin, sống có động lực, có phấn
đấu, có ý nghĩa.
17
- Nhận ra giá của mỗi người nằm ở những điều bình thường nhất ta sẽ luôn tìm ra,
trân trọng những điều tốt đẹp của mọi người xung quanh.
giải pháp này đã có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng bài viết của học
sinh không chỉ ở dạng đề này mà còn là các bài nghị luận xã hội nói chung.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một phần không thể thiếu của bộ
môn Ngữ văn ở trường THPT. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn
của giáo viên. Với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi hi vọng đóng góp một
hướng đi trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội với dạng đề: nghị
luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học; chủ yếu dành cho đối tượng học
sinh khá giỏi. Trên cơ sở lí thuyết về văn nghị luận, văn nghị luận xã hội, chúng tôi
xây dựng các bước rèn luyện kĩ năng từ tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý đến hướng dẫn
viết bài và sửa chữa đánh giá
Thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi mong muốn đóng góp những
kinh nghiệm thực tế để “Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học” cho học sinh. Tuy nhiên, như đã trình bày, đây là một nhiệm vụ khó
khăn, có lẽ trong quá trình thực hiện vẫn còn một số thiếu sót. Chúng tôi rất mong
nhận được sự chia sẻ và các ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp. Xin chân
thành cảm ơn!
19
XÁC NHẬN CỦA THỦ
Thanh Hoá, ngày 10 tháng 5 năm 2016
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết không sao chép nội dung của người
23
24
25