SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LƯU ĐÌNH CHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY- HỌC
TÁC PHẨM ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ, NGỮ VĂN 10.
Người thực hiện: Hoàng Thị Thảo
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lưu Đình Chất
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ, NĂM 2016
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài…………………………………………….Trang 1
II. Mục đích nghiên cứu……………………………………….Trang 2
III. Đối tượng nghiên cứu.…………………………………….Trang 2
IV. Phương pháp nghiên cứu………………………………….Trang 2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
I. Cơ sở lí luận của vấn đề…………………….………………Trang 2
II. Thực trạng của vấn đề ……………………………..............Trang 3
III. Các biện pháp đã tiến hành………………………… ……Trang 4
IV. Kết quả thực hiện………………………………….............Trang 14
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ……………………………….. Trang 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………..Trang 18
cách tiếp cận, học tập môn văn còn thụ động. Đặc biệt với các tác phẩm văn
học có khoảng thời gian lịch sử cách xa như văn học trung đại, học sinh
không có hứng thú học tập. Ngay cả với một tác phẩm được coi là “ Áng
thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc như
Đại cáo bình Ngô ( Nguyễn Trãi) trong chương trình Ngữ văn 10, học sinh
cũng khá thờ ơ, ngại học. Tác phẩm văn học bao giờ cũng là tổng hòa của ác
yếu tố nghệ thuật, tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán, địa lý, lịch sử... Do
đó, để giúp học sinh có hứng thú học tập, tiếp cận đúng các tác phẩm văn học
trung đại, giáo viên phải cung cấp, rèn luyện, tạo cho các em thói quen học đa
chiều, tích hợp liên môn để giải quyết tốt vấn đề.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chương
trình Ngữ văn lớp 10, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tích hợp
các kiến thức liên môn này hơn hẳn những phương pháp trước đây được vận
dụng. Tính ưu việt của phương pháp thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê, kết
quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài học. Tiếp nối vấn đề đó, tôi mạnh
dạn thực hiện đề tài “ Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tác phẩm Đại cáo bình Ngô, Ngữ Văn 10”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Khắc phục những hạn chế, khó khăn khi giảng dạy các tác phẩm văn
học trung đại. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
phần văn bản văn học trung đại nói chung và cụ thể là tác phẩm Đại cáo
bình Ngô của Nguyễn Trãi, đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn
THPT hiện nay.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Tác phẩm Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ
văn 10.
- Tôi tiến hành dạy văn bản ở hai lớp: 10B4;10B5 năm học 2015- 2016.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống, giáo
dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao
thông…Còn dạy học liên môn là người dạy phải xác định các nội dung kiến
thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh
phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau.
Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn trong học văn nói chung,
phần văn học trung đại nói riêng sẽ mang lại một cách tiếp cận đa chiều, đa
kênh để học sinh bước vào tác phẩm một cách hiệu quả nhất. Bởi vì tác phẩm
văn học nào cũng phản ánh một giai đoạn lịch sử , một vùng đất, một chiều
sâu văn hóa của dân tộc. trong Văn có Sử, trong Văn có Địa, trong Văn có
văn hóa, có âm nhạc, hội họa, có tư tưởng thẩm mỹ. Do đó, tích hợp kiến thức
liên môn trong giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại nói chung, Đại cáo
bình Ngô ( Nguyễn Trãi ) nói riêng không còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nó
trở thành nhiệm vụ của mỗi một giáo viên dạy ngữ văn hiện nay.
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Văn học trung đại có một quá trình phát triển phong phú và kéo dài
suốt 10 thế kỷ ( từ thế kỉ X- XIX ) và đã đạt được những thành tựu to lớn.
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tác phẩm trung đại chiếm một số lượng
không nhỏ. Việc dạy cho hay, hiểu cho đúng những tác phẩm này vẫn là một
thách thức và là mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên và học sinh.
Qua thực tế quá trình dạy học văn học trung đại nói chung, tác phẩm
Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi nói riêng tại trường THPT Lưu Đình
Chất, tôi nhận thấy một số khó khăn sau:
1/Về phía học sinh:
- Thứ nhất là văn học trung đại nói chung và Đại cáo bình Ngô nói
riêng được viết theo hệ thống thi pháp cũ, dùng nhiều điển tích, điển cố, mang
tính ước lệ, tượng trưng, có nhiều từ ngữ cổ hiện nay ít sử dụng do đó học
sinh khó thuộc, khó nhớ, thậm chí khó hiểu, trở thành rào cản để cảm nhận
đầy đủ các lớp nội dung, ý nghĩa cũng như vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm.
Lớp
Sĩ số
Số lượng
Số lượng
%
%
10B4
10B5
34
36
12
14
35,2
38,8
Bảng điểm bài kiểm tra 15 phút:
Giỏi
Khá
Lớp
Sĩ số Số
%
Số
%
lượng
lượng
10B4
34 2
8,3
Chính vì những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu và
thực hiện, hy vọng sẽ góp phần cùng với đồng nghiệp làm tăng dần chất
lượng dạy và học văn, từ đó sẽ gây được hứng thú với giáo viên và học sinh.
III.CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH.
Đại cáo bình Ngô là tác phẩm thuộc thể văn chính luận. Bên cạnh
những đặc trưng có tính phổ quát của thể loại như tính lập luận chặt chẽ, dẫn
chứng xác thực, sự uyên bác của người viết, giọng điệu hùng hồn; kết hợp hài
hòa vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp tình cảm, cảm xúc; tác phẩm còn mang tính chất
văn-sử-triết bất phân. Tính chất nguyên hợp này làm nên giá trị độc đáo của
thể loại. Do đó, trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc- hiểu, giáo viên phải
nắm vững hệ thống tri thức thể loại và phương pháp tích hợp cũng như tri
thức văn hóa để người dạy thực sự làm chủ đối tượng. Trên cơ sở đó tổ chức
cho học sinh chủ động, tích cực khai thác bài học một cách có hiệu quả.
4
Khi dạy tác phẩm này tôi sẽ tích hợp các kiến thức có liên quan như
sau:
* Tích hợp môn lịch sử.
Văn học là tấm gương phản ánh xã hội, văn học trung đại phản ánh lịch
sử trung đại trong suốt chiều dài mười thế kỉ đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta. Quan niệm “ Văn – Sử bất phân” không phải là thiếu căn
cứ. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và
để hiểu được tác phẩm một cách sâu sắc và cặn kẽ rất cần thiết huy động
những kiến thức có liên quan. Khi dạy tác phẩm Đại cáo bình Ngô ( Nguyễn
Trãi ), tôi đưa ra những câu hỏi như sau:
GV: Em hãy trình bày hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
HS dựa vào SGK trả lời: Mùa đông năm 1427, cuộc kháng chiến
5
GV: Khí thế và những chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn được
Nguyễn Trãi tái hiện qua những trận đánh tiêu biểu nào ?
HS: trận Tốt Động, trận Chi Lăng – Xương Giang.
GV cung cấp thêm thông tin:
+ Trận Tốt Động: tháng 10-1426, Vương Thông đem năm vạn viện
binh kéo vào Đông Quan và mở cuộc phản công, quân ta phục sẵn ở Tốt
Động và chúc Động, quân địch lọt vào trận địa bị dồn xuống cánh đồng lầy
lội, ta tiêu diệt năm vạn tên, Vương Thông chạy về Đông Quan. Ta giành thế
chủ động vây Đông Quan, giải phóng nhiều châu, huyện. Hai câu trong Đại
cáo bình Ngô thể hiện rất rõ điều đó:
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
+ Trận Chi Lăng- Xương Giang: tháng 10-1427, mười lăm vạn viện
binh bao gồm đạo quân chủ lực do liễu Thăng từ Quảng Tây tiến vào Lạng
Sơn, đạo quân thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy từ Vân Nam tiến vào Lê Hoa.
Ban chỉ huy nghĩa quân quyết tâm tập trung tiêu diệt viện binh Liễu
Thăng. Ngày 10- 8- 1427 ta phục kích ở Chi Lăng, Liễu Thăng bị chém đầu,
Vương Thông nghe tin bại trận, vô cùng khiếp đảm, xin hòa. Chiến tranh kêt
thúc.
=> Qua việc xem lược đồ các trận đánh, kết hợp với những nội dung
tích hợp trên học sinh như cùng được sống trong không khí lịch sử hào hùng
của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, giúp học sinh hiểu và khắc sâu được chủ đề
của tác phẩm.
* Tích hợp môn Địa lý:
Dạy- học văn không chỉ nhằm mục đích cung cấp những kiến thức về
thể loại, nội dung mà quan trọng hơn là qua tác phẩm đó giáo viên sẽ truyền
đến cho học sinh được tình yêu, niềm tự hào đối với quê hương, đất nước. Và
của Lê Lợi giao phó. Hơn thế, tác phẩm đã trở thành áng “thiên cổ hùng văn”
muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị
thế dân tộc. Điểm cốt lõi mà Đại cáo bình Ngô thể hiện cả ở hai tư cách ấy
chính là tư tưởng nhân nghĩa mà nhân dân ta mãi mãi ngợi ca. Khi dạy về tư
tưởng nhân nghĩa trong tác phẩm, tôi tích hợp kiến thức GDCD lớp 10, bài
13: Công dân với cộng đồng.
GV: Thế nào là nhân nghĩa?
HS: Nhân nghĩa là lòng yêu thương con người và đối xử với con người
theo lẽ phải.
GV: Tư tưởng nhân nghĩa trong Đại cáo bình Ngô được thể hiện như
thế nào?
HS: - Ở đoạn 1: tư tưởng nhân nghĩa thể hiện ở câu: “ Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân”: nhân nghĩa là phải làm cho “ yên dân”
- Đoạn 3: Khi giặc Minh thua cuộc ta cung cấp lương thực, tàu thuyền
cho về nước, thể hiện tinh thần nhân đạo, hòa hiếu của dân tộc ta.
Giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại phải đặt trong mối liên hệ
với cuộc sống thực tại hôm nay. Sẽ vô cùng buồn tẻ nếu học sinh chỉ biết rằng
mình đang học những tác phẩm của người xưa, những câu chuyện của cha
ông trong quá khứ mà không tìm thấy ý nghĩa trong hiện tại. Từ hiện tại, giáo
viên phải dẫn các em về với chân trời đầu tiên để khám phá, chiếm lĩnh tác
phẩm. Từ chân trời đầu tiên ấy, chúng ta lại phải đưa các em về với hiện tại
thì tác phẩm mới thực sự có ý nghĩa. Chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập
có chủ quyền của quốc gia Đại Việt trong Đại cáo bình Ngô sẽ giúp các em
biết ý thức rằng mình phải có trách nhiệm trong việc gìn giữ độc lập chủ
quyền của dân tộc trong thời điểm nhạy cảm hiện nay.
Kết thúc bài học, tôi tích hợp môn GDCD lớp 10,bài 14: Công dân với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Yêu cầu học sinh qua việc tìm hiểu
tác phẩm, các em tự ý thức được trách nhiệm của cá nhân trong việc xây dựng
và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.
* Giáo dục kĩ năng sống:
- Tự nhận thức về ý nghĩa giá trị lời tuyên ngôn độc lập của Đại cáo
bình Ngô.
- Giao tiếp, trao đổi, trình bày về chủ nghĩa yêu nước và sức mạnh của
dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và ý nghĩa của chiến
thắng oanh liệt.
4.Năng lực hướng tới
- Năng lực giải quyết vấn đề:
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực giao tiếp Tiếng Việt:
- Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ.
II. Chuẩn bị của GV- HS.
1. GV: Thiết bị dạy học, học liệu:
8
- Thiết bị dạy học:
+ Máy tính, máy chiếu: Được sử dụng vào việc hỗ trợ giảng dạy bài
học nhằm góp phần giải quyết nhanh, gọn các câu hỏi đặt ra và hỗ trợ hình
ảnh làm bài giảng sinh động, hấp dẫn với người học.
- Đồ dùng dạy học:
+ Lược đồ Việt Nam: dùng dể giúp học sinh xác định được vị trí địa lý,
địa danh lịch sử liên quan trong tác phẩm.
- Học liệu dạy học:
+ Kiến thức lịch sử: Giúp người dạy và người học nắm được hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ( 1418- 1427).
+ Kiến thức Địa lý: Học sinh xác định được vị trí địa danh Lam Sơn.
+ Kiến thức môn GDCD: Hiểu được về nhân nghĩa- một truyền thống
GV: Qua phần tiểu dẫn giặc Minh hoàn toàn thắng
em nêu hoàn cảnh ra đời lợi.
của tác phẩm?
- Năm 1428, Lê Lợi lên
HS làm việc cá nhân và ngôi hoàng đế, sai Nguyễn
trả lời
Trãi viết Bình Ngô đại cáo
9
GV: Trình bày hiểu biết
về thể Cáo?
HS làm việc cá nhân và
trả lời
Hoạt động 2. Hướng
dẫn học sinh tìm hiểu
chi tiết văn bản.
- GV cho HS đọc văn
bản và tìm bố cục. Chú
ý cách đọc thể cáogiọng đọc rõ ràng mạch
lạc của các phần lập
luận;
để bố cáo cho toàn dân
được biết chiến thắng vĩ đại
của quân dân trong 10 năm
chiến đấu gian khổ, từ nay
nước Việt đã giành lại được
nền độc lập, non sông trở
sử.
2. Đọc hiểu chi tiết.
a.Nêu cao luận đề
GV: Trong đoạn 1, luận chính nghĩa.
đề chính nghĩa được * Tư tưởng nhân nghĩa.
nêu cao bao gồm mấy - Theo Nguyễn Trãi: nhân
* GDCD 10- bài 13:
Công dân với cộng
đồng.
Nhân nghĩa là gì?
Nhân nghĩa: là lòng
10
luận điểm?
- Tư tưởng nhân nghĩa
mà Nguyễn Trãi đề cập
là gì?
HS làm việc cá nhân và
trả lời
GV dẫn dắt: dân tộc ta
chiến đấu chống quân
xâm lược là nhân nghĩa
thì sự tồn tại độc lập có
chủ quyền của dân tộc
Việt Nam cũng là chân
lí khách quan phù hợp
với nguyên lí đó.
“ đã lâu”, “ vốn xưng”, “
đã chia”, “ cũng khác” cho
thấy sự tồn tại hiển nhiên,
vốn có, lâu đời của một
nước Đại Việt độc lập, có
chủ quyền.
+ Giọng điệu trang trọng,
hào hùng mang tính chất
của lời tuyên ngôn.
b. Đoạn 2: Bản cáo trạng
vạch rõ tội ác của giặc
Minh.
* Âm mưu và tội ác của
kẻ thù.
- Âm mưu xâm lược của
giặc Minh núp dưới chiêu
bài “ phù Trần, diệt Hồ”
-> Nguyễn Trãi đứng trên
lập trường dân tộc.
- Những chủ trương, chính
sách cai trị vô nhân đạo, vô
cùng hà khắc của kẻ thù:
+ Tàn sát người dân vô tội.
+ Bóc lột tàn tệ, dã man.
+ Hủy diệt môi trường
sống.
thương người và đối
xử với con người theo
lẽ phải.
Minh tàn bạo được hình
tượng hóa bạo được
hình tượng hóa bằng
hình ảnh nào?
GV: em hãy nhận xét về
nghệ thuật viết cáo
trạng của tác giả?
GV: Hình tượng Lê Lợi
được khắc họa như thế
nào?
HS làm việc cá nhân và
trả lời.
Trong thời kì đầu của
cuộc khởi nghĩa, nghĩa
-> Nguyễn Trãi đứng trên
lập trường nhân bản.
- Hình ảnh nhân dân: tội
nghiệp, đáng thương, bị
dồn đuổi đến con đường
cùng, cái chết đón đợi họ ở
trên rừng, dưới biển:
Người bị ép xuống biển…
cá mập, thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi…rừng
sâu, nước độc.
- Hình ảnh kẻ thù: tàn
bạo, vô nhân tính như
* Tích hợp kiến thức
địa lý địa phương.
Em hãy giới thiệu về
địa danh Lam Sơn ?
Lam Sơn cách
thành phố Thanh Hóa
50 km về phía tây
bắc. Lam Sơn xưa có
núi rừng trùng điệp,
nối liền một dải với
rừng núi hiểm trở
miền tây Thanh Hóa.
Do đó Lê Lợi đã chọn
12
quân Lam Sơn gặp phải
những khó khăn gì?
HS làm việc cá nhân và
trả
Trước những khó khăn
ấy, sức mạnh nào đã
giúp cho quân ta chiến
thắng?
HS làm việc cá nhân và
trả
Ở giai đoạn hai của
cuộc khởi nghĩa, tác giả
Đem đại nghĩa để thắng
hung tàn. Lấy chí nhân
thay cường bạo”
* Quá trình phản công và
chiến thắng.
- Khí thế của quân ta: hào
hùng ( Sấm vang chớp giật,
trúc chẻ tro bay, sạch
không kình ngạc, tan tác
chim muông…)
Khung cảnh chiến trường:
ác liệt, dữ dội khiến trời đất
đảo lộn ( “ Sắc phong vân
phải đổi”, “ ánh nhật
nguyệt phải mờ” )
- Những chiến thắng dồn
dập, liên tiếp ( các câu văn
điệp cấu trúc, mang tính
chất liệt kê: “ Ngày 18…/
ngày 20…/ ngày 25/ ngày
28…”
- Hình ảnh kẻ thù:
+ Tham sống sợ chết, hèn
nhát , thảm hại( Dẫn chứng
sgk )
+ Thất bại của kẻ thù: thê
thảm, nhục nhã “ trí cùng
lực kiệt”, “ máu chảy thành
sông”,…
- Tính chất hùng tráng của
trận Chi Lăng –
Xương Giang ( Cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn (
1418- 1427 ) SGK
Lịch sử lớp 7, bài 19 )
13
Đoạn văn miêu tả quá
trình phản công và
chiến thắng của nghĩa
quân như một bản hùng
ca. Yếu tố nào góp phần
tạo nên tính chất hùng
tráng ấy ?
HS thảo luận nhóm, đại
diện trình bày?
GV: Giọng văn ở đoạn
này có gì khác với
những đoạn văn trên?
HS làm việc cá nhân, trả
lời.
GV: Bài học lịch sử mà
Nguyễn Trãi nêu ra qua
lời tuyên bố độc lập?
HS làm việc cá nhân, trả
lời.
mạnh truyền thống và sức
mạnh thời đại làm nên
chiến thắng.
III. Tổng kết:
1. Nội dung: Đại cáo bình
Ngô là bản tuyên ngôn độc
lập lần thứ hai của dân tộc
ta ở thế kỉ XIX. Nêu cao tư
tưởng nhân nghĩa, chân lí
độc lập dân tộc.
2. Nghệ thuật: Kết hợp hài
hòa hai yếu tố: chính luận
sắc bén và văn chương trữ
tình.Mang đậm cảm hứng
anh hùng ca.
*Tích
hợp
môn
GDCD lớp 10,bài 14:
Công dân với sự
nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
GV: Đại cáo bình
Ngô được xem là
tuyên ngôn độc lập
lần thứ hai của dân
tộc. Qua việc tìm hiểu
tác phẩm, em xác
định ý thức trách
một thời kì mới cho nước Đại Việt. Khoảng cách lịch sử đã được rút ngắn, các
em không còn cảm thấy xa lạ và khô khan khi học tác phẩm Đại cáo bình
Ngô nói riêng và các tác phẩm văn học trung đại nói chung. Vốn kiến thức
tổng hợp của học sinh được bổ sung nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả.
Mặt khác, các kiến thức liên ngành thông qua hình thức tích hợp này còn giúp
học sinh có thêm căn cứ, cơ sở để hiểu rõ hơn nội dung, ý nghĩa của văn bản.
Khi thực hiện tiết dạy tích hợp với công nghệ thông tin như cho học
sinh xem video, xem hình ảnh, phóng sự về những địa danh lịch sử Lam Sơn,
sự kiện, thông tin liên quan các trận phản công và chiến thắng của nghĩa quân
Lam Sơn trong bài học thì học sinh đã rất hào hứng, phấn khởi và tự các em
đã có thêm những cảm nhận, những hiểu biết mà bản thân tự khám phá về bài
học. Giờ dạy học văn đã không còn khô khan, không còn là một trở ngại đối
với cả cô và trò.
Vận dụng dạy học tích hợp liên môn trong bài Đại cáo bình Ngô, cũng
tạo cho giáo viên thói quen tự làm mới mình, trau dồi thêm các kiến thức lịch
sử, điạ lý…để vận dụng vào bài giảng một cách linh hoạt và sinh động hơn,
tránh lối truyền thụ một chiều.
Năm học 2015 – 2016 với 2 lớp dạy. Tôi đã thu được những kết quả
khác nhau. Điều tích cực là dạy theo hướng tích hợp kết quả đã có sự chuyển
biến rõ nét.
- Học sinh hứng thú hơn với môn học, tích cực tham gia vào quá trình
học tập, tìm hiểu các tư liệu liên quan đến bài học.
15
- Khả năng phối hợp kiến thức linh hoạt, các em đã có thói quen tìm
hiểu, vận dụng, tích hợp kiến thức.
- Có sự trải nghiệm và rút ra bài học, xác định được ý thức trách nhiệm
của bản thân sau bài học.
- Kết quả khảo sát độ tin cậy, nắm chắc bài hiểu biết kiến thức cũng
19,4
+Bảng tiêu chí đánh giá kết quả thông qua khảo sát độ tin cậy, nắm
vững kiến thức của bài kiểm tra.
Giỏi
Lớp
Sĩ số Số
%
lượng
10B4
34 3
8,9
10B5
36 4
11,1
Khá
Số
%
lượng
12
35,3
14
38,9
Trung bình
Số
%
lượng
thức hơn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
16
Sáng kiến kinh nghiệm “ Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn trong
dạy - học tác phẩm Đại cáo bình Ngô- Ngữ Văn 10”, giáo viên có thể vận
dụng trong các tiết dạy học văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn
THPT để góp phần nâng cao một bước chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ
văn trong giai đoạn hiện nay.
II.Kiến nghị:
- Đối với tổ, nhóm chuyên môn: tăng cường đổi mới nội dung sinh
hoạt tổ, nhóm chuyên môn theo hướng tích hợp dạy học liên môn bằng việc
xây dựng các nội dung, chủ đề tích hợp để dạy thử nghiệm.
- Đối với nhà trường: tạo điều kiện về tổ chức, thời gian và động viên
khuyến khích những giờ dạy của giáo viên có sự đầu tư nghiên cứu đổi mới
phương pháp.
- Sở GD-ĐT Tham mưu, cung cấp nhiều tư liệu về lịch sử, văn hóa, tư
tưởng của các triều đại phong kiến Việt Nam.
- Bộ GD- ĐT xây dựng khung chương trình theo hướng dạy học tích
hợp ở tất cả các môn học một cách đồng bộ, logic để tránh sự chồng chéo,
biệt lập về kiến thức các môn.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm bước đầu của đề tài
sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tác phẩm Đại cáo bình Ngô, Ngữ Văn 10”.
Rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đánh giá và đóng góp của Hội
đồng khoa học nhà trường cũng như các đồng nghiệp để đề tài từng bước
hoàn chỉnh và áp dụng có hiệu quả hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5