Kỹ năng làm bài đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh là khâu đột phá trong dạy học nói
chung và dạy học ngữ văn nói riêng. Ngữ văn là môn học đặc thù đa chức
năng vừa có tính công cụ hướng tới hình thành và phát triển các năng lực
nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt (năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin, năng
lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực trình bày, tạo lập các kiểu loại văn bản
cần thiết trong cuộc sống,…); vừa là môn khoa học xã hội nhân văn cung
cấp những kiến thức nhất định về xã hội, văn hóa, lịch sử, giáo dục tư
tưởng, tình cảm, đạo đức,… Để phát huy vai trò công cụ của môn học,
một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
văn là dạy học sinh phát triển năng lực đọc hiểu.
Xuất phát từ xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá của bộ giáo dục đề
xuất và tiếp cận xu hướng của thế giới; đồng thời nhận thức rõ vai trò của
việc cần phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh, từ năm học 2013-2014
trong đề thi có thêm phần đọc hiểu văn bản. Sự đổi mới này xuất phát từ
việc thay đổi sự kiểm tra đánh giá khả năng ghi nhớ của học sinh (kiến
thức thường do giáo viên “đọc hộ”, “cảm hộ”, “hiểu hộ” lâu nay) sang
kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình cảm thụ, tìm
hiểu, khám phá văn bản). Đây là sự đổi mới tất yếu, thiết thực vừa giúp
học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo; vừa giúp quá trình dạy học văn gắn
bó với đời sống thực tiễn; vừa bồi dưỡng tình yêu văn chương. Tuy nhiên,
đây là kiểu bài mới được đưa vào trong đề thi tốt nghiệp, đại học cao
đẳng (năm học 2013-2014) và đề thi THPT quốc gia năm 2014- 2015;
cho nên một số giáo viên còn bối rối trong khi ôn thi; nhiều học sinh còn
lo lắng, trăn trở về phương pháp ôn luyện, kỹ năng làm bài.
Vậy làm thế nào để dạy học đọc hiểu nói chung và rèn luyện cho
học sinh kỹ năng làm phần đọc hiểu nói riêng đạt kết quả cao? Là một
giáo viên đã nhiều năm tham gia ôn luyện thi cho học sinh, nắm bắt được
tình hình thực tiễn, tôi nhận thấy cần quan tâm tới việc rèn luyện kỹ năng

Phạm vi đề tài: tập trung đi sâu hệ thống các kiến thức, phương
pháp đọc hiểu và kỹ năng làm phần đọc hiểu cho học sinh.

2


B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm đọc hiểu văn bản
Theo PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế thuộc Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OECD)), định nghĩa về
đọc và đọc hiểu có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn
hoá, xã hội. Khái niệm học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu
về việc đọc hiểu. Xuất phát từ yêu cầu của xã hội hiện đại đối với mỗi
cá nhân và cộng đồng, để đào tạo và chuẩn bị cho xã hội ấy một lực
lượng lao động có văn hoá, OECD đưa ra định nghĩa sau đây
về reading literacy:
“Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn
bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng
như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội.”
Quan niệm này của OECD hoàn toàn phù hợp với quan niệm của
UNESCO về Literacy: “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích,
sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết
hợp với những bối cảnh khác nhau. Literacy đòi hỏi sự học hỏi liên tục
cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức,
tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn.”
GS. Trần Đình Sử cũng khẳng định: “Đọc hiểu là đọc với năng lực
phản tư, suy ngẫm những điều đọc được. Đọc hiểu với hàm nghĩa sâu
rộng của khái niệm hiểu là phần quan trọng của hoạt động đọc, thống
nhất trong nó cả sự giải thích, phân tích và ứng dụng, làm nền tảng cho

1.3. Các kỹ năng đọc hiểu văn bản
Các kỹ năng cần thiết cần rèn luyện cho học sinh khi đọc hiểu văn bản
như sau:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo ra
hiểu biết chung về văn bản.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại
văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và cuộc sống.
2. Thực trạng của vấn đề
Một thực trạng đáng buồn hiện nay là tình trạng học sinh ngày càng
xa rời môn văn bởi vì “chạy theo” những môn học để chọn nghề và
khoảng cách giữa văn học nhà trường với cuộc sống còn xa. Do vậy, việc
học sinh dành thời gian ôn luyện kỹ năng đọc hiểu còn ít.
Bên cạnh đó, do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng giáo viên “đọc
hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” học sinh diễn ra khá phổ biến. Trong các
giờ đọc hiểu, học sinh thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của
giáo viên hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản. Hơn nữa,
văn bản được đọc hiểu chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật
dụng được đưa vào chương trình, sách giáo khoa. Việc đánh giá kỹ năng
đọc của học sinh lâu nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra
miệng (yêu cầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi
chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của văn bản đã
học). Hình thức này chưa đánh giá được năng lực đọc hiểu các loại văn
bản khác nhau của người học đặc biệt là các văn bản nhật dụng để học
sinh tiếp cận với các vấn đề của thực tiễn đời sống.
Xuất phát từ quan niệm đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá theo
hướng phát triển năng lực học sinh, hai năm nay, đề thi môn ngữ văn đã
có sự đổi mới. Ngày 01/04/2014, Bộ giáo dục và đào tạo đã gửi công văn
số 1656/BGDĐT về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp THPT và đại

… Đây là mảng kiến thức khá lớn mà các em được học từ lớp 4, lớp 5
đến hết THPT, do đó, nhiều phần kiến thức các em đã quên. Hơn nữa,
phần đọc hiểu là nội dung mới trong đề thi nên các em chưa được rèn
giũa nhiều. Do đó, nhiều em cảm thấy lúng túng, lo lắng khi làm phần
đọc hiểu trong đề thi. Các tài liệu ôn luyện phần đọc hiểu này, cho đến
nay, vẫn rất hạn chế. Mặt khác, thời gian ôn luyện thi tốt nghiệp môn văn
ở nhiều trường THPT chưa được chú trọng nhiều, phần lớn dồn vào năm
lớp 12 , do vậy, cũng hạn chế thời gian cho giáo viên ôn luyện kỹ năng
đọc hiểu văn bản, bên cạnh kỹ năng làm văn. Vì vậy, đây là một thách
thức với giáo viên ôn luyện thi cho học sinh lớp 12.
3. Các biện pháp và cách thức hướng dẫn học sinh ôn luyện kỹ năng
đọc hiểu văn bản
Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế
nào là hiểu một văn bản, các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc
hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực

5


của học sinh để làm ngữ liệu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn
chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh.
Trong giờ ôn tập, tương tác giữa thầy và trò giúp người dạy tránh
được vai trò độc diễn khô khan, học trò bớt được cảm giác thụ động, giờ
học thoát khỏi không khí nặng nề. Việc hướng dẫn học sinh ôn tập nếu
làm tốt sẽ mang lại những hiệu quả vô cùng thiết thực.
Phương pháp ôn tập: Trong quá trình ôn tập, cần giúp học sinh ôn cả
hai mảng kiến thức lẫn kỹ năng làm bài. Kiến thức đóng vai trò nền tảng,
bởi "không có bột, không thể gột nên hồ” nhưng kỹ năng yếu thì cũng
không áp dụng được.
3.1. Giới thiệu cấu trúc của đề bài phần đọc hiếu



Giáo viên hướng dẫn các em học sinh hãy bắt đầu ghi nhớ các khái
niệm từ những ví dụ, từ đó mà nắm được đặc trưng cơ bản nhất của từng
khái niệm và vận dụng linh hoạt vào từng dạng câu hỏi đọc hiểu cụ thể
đạt kết quả cao nhất.
3.2.1. Các câu hỏi ở mức độ nhận biết, thường là các dạng sau:
3.2.1.1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt.
- GV hướng dẫn học sinh lập bảng tổng hợp (có thể kết hợp sử dụng máy
chiếu để bổ trợ kiến thức cho các em) để nhận diện đặc trưng của các
phương thức biểu đạt qua việc phân tích ví dụ minh họa:
Phương thức
STT biểu đạt
1
Tự sự
2
Miêu tả
3
Biểu cảm
4

Thuyết minh

5
Nghị luận
6

Đặc trưng
- Trình bày diễn biến các sự
việc (sự kiện)

- Trình bày theo mẫu chung và
chịu trách nhiệm về pháp lí
Đơn từ, báo cáo, thông báo,…
các ý kiến, nguyện vọng của
cá nhân, tập thể đối với cơ
Biên bản này làm xong vào hồi 16h
Hành chínhquan quản lí.
ngày 15 tháng 03 năm 2014….
công vụ

3.2.1.2. Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng của ngôn ngữ.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu các ví dụ, từ đó nhận diện được
đặc trưng của các phong cách ngôn ngữ:

7


STT
1

Phong cách
ngôn ngữ
Phong cách
ngôn ngữ
sinh hoạt

Đặc trưng

Ví dụ



3

Phong cách
ngôn ngữ
báo chí

- Là phong cách ngôn ngữ
dùng trong báo chí, thông báo
tin tức thời sự.
- Tính thông tin thời sự; Tính
ngắn gọn; Tính sinh động, hấp
dẫn.

“Cả hai cô học trò Đà Nẵng đạt
điểm 10 tuyệt đối môn Văn kỳ thi
tốt nghiệp THPT năm 2013 đều có
chung niềm đam mê Văn học từ
nhỏ, thích thư giãn với việc đọc
truyện, sách, báo và nghe nhạc sau
những giờ học.”. (dantri.com)

4

Phong cách
ngôn ngữ
chính luận

“Một dân tộc đã gan góc chống
ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm

Phong cách
ngôn ngữ
hành chính

- Là phong cách ngôn ngữ
dùng trong các văn bản thuộc
lĩnh vực giao tiếp điều hành
và quản lí xã hội. Tính khuôn
mẫu; tính minh xác và tính
công vụ.

“Đau mắt đỏ hay còn gọi là viêm
kết mạc là tình trạng nhiễm trùng
mắt thường gặp do vi khuẩn hoặc
virus gây ra hoặc phản ứng dị ứng
với triệu chứng đặc trưng là đỏ
mắt[1]”. (nguồn Wikipedia)
“Điều 67: Nhà nước xây dựng
Công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, làm nòng cốt trong thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc
gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã

8


hội, đấu tranh phòng, chống tội
phạm” (Trích Hiến pháp 2013)


+ Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện (lời trực tiếp)
+ Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình
+ Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình, nhưng
điểm nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm (lời
nửa trực tiếp)
* Bài tập vận dụng: Đọc các đoạn văn sau và xác định phương thức trần
thuật được sử dụng trong từng đoạn văn:
a) “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của
người mẹ. Đêm nữa lại đến… Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước

9


gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ
ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng
để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn…”
(“Những đứa con trong gia đình”)
b) “Ngay lúc ấy, một chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng.
Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội
qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe
người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên đấy. Động
đậy tao giết cả mày đi bây giờ…”” (Chiếc thuyền ngoài xa)
c) “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có
một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc
nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng
nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi…”
(Vợ chồng A Phủ)
 Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận nhận diện các phương thức
trần thuật:
a) Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình, nhưng

“Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là
một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan
trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao
la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với mọi người
cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn
phải học thêm, học mãi mãi” (Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)
 Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận, nhận diện thao tác lập luận
chủ yếu là: Giải thích.
3.2.1.6. Yêu cầu nhận diện các kiểu câu
* Giáo viên giúp các em bổ trợ kiến thức và hướng dẫn các em nhận diện
các kiểu câu:
- Các kiểu câu chia theo mục đích nói:
+ Câu trần thuật
+ Câu nghi vấn
+ Câu cầu khiến
+ Câu cảm thán
- Các kiểu câu chia theo cấu trúc, chức năng ngữ pháp:
+ Câu đơn / câu ghép
+ Câu khẳng định / câu phủ định, cộng đồng mạng được một
+ Câu bình thường / câu đặc biệt
* Bài tập vận dụng: Đọc đoạn văn và xác định kiểu câu được sử dụng
trong đoạn văn bản phân theo mục đích nói.:
“Gần đây, cộng đồng mạng được một phen dậy sóng khi xem một clip
được tung lên mạng, một cô gái kẹp ba tham gia giao thông sai luật trên
một chiếc xe máy tìm mọi cách chạy trốn cảnh sát giao thông, chạy
không được cô ta đã quỳ lạy viên cảnh sát và luôn miệng van xin rối rít
làm náo loạn cả một ngõ nhỏ.”
 Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện kiểu câu được sử dụng trong
đoạn văn: câu trần thuật.
3.2.1.7. Yêu cầu nhận diện các lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp

tăng sức gợi hình biểu cảm.
- Ẩn dụ: Gọi tên sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm tăng sức
gợi hình gợi cảm.. .
- Nhân hóa: cách gọi tả vật, đồ vật..v.v bằng những từ ngữ vốn dùng cho
con người làm cho thế giới vật, đồ vật ... trở nên gần gũi biểu thị được
những suy nghĩ tình cảm của con người.
- Hoán dụ: gọi tên sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi
với nó.
- Nói quá: Biện pháp tu từ phóng đại mức độ qui mô tính chất của sự vật
hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng tính biểu cảm.
- Nói giảm nói tránh: dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển tránh gây
cảm giác phản cảm và tránh thô tục thiếu lịch sự.
- Điệp ngữ: lặp lại từ ngữ hoặc cả câu để làm nối bật ý gây cảm xúc
mạnh.
- Chơi chữ: Cách dựa vào những đặc sắc về âm và về nghĩa của từ ngữ
để tạo sắc thái dí dỏm hài hước.
* Bài tập vận dụng: Đọc và xác định các biện pháp tu từ được sử dụng
trong đoạn thơ sau:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

13


(Viếng lăng Bác)
 Xác định biện pháp tu từ:
+ Ẩn dụ: Mặt trời  ca ngợi sự vĩ đại của Bác và sụ biết ơn của dân tộc
với lãnh tụ kính yêu.
3.2.1.10. Yêu cầu nhận diện câu chủ đề, kết cấu đoạn văn
* Câu chủ đề: là câu mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ

câu trong đoạn văn bản).
+ Từ đó xác định được chủ đề của đoạn văn bản và đề xuất cách đặt tên
cho văn bản
* Bài tập vận dụng: Đọc, tóm tắt ý chính và đặt tên cho đoạn văn:

14


“Tăng huyết áp có thể là nguyên phát hay thứ phát. Tăng huyết áp
nguyên phát tức là tăng huyết áp mà không tìm ra được nguyên nhân,
chiếm tới 95% trường hợp người lớn bị tăng huyết áp. Tăng huyết áp thứ
phát là thuật ngữ dùng để chỉ là tăng huyết áp mà biết được nguyên nhân
trực tiếp gây bệnh ví dụ như là do bệnh thận, do u bướu, hay là do thuốc
ngừa thai dạng uống”
(nguồn internet)
 Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt ý chính:
- Tăng huyết áp nguyên phát.
- Tăng huyết áp thứ phát.
- Có thể đặt tên cho đoạn văn: Nguyên nhân gây ra tăng huyết áp.
3.2.2.2. Yêu cầu nêu nội dung chính và các thông tin quan trọng của
văn bản, hiểu ý nghĩa văn bản
* Với dạng câu hỏi này, yêu cầu:
+ Đọc kĩ văn bản
+ Gạch dưới những thông tin quan trọng của văn bản
+ Từ đó, xác định nội dung chính và ý nghĩa văn bản
* Bài tập vận dụng: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Vào ngày 4/12 tại Đồng Nai, tài xế Hồ Kim Hậu (30 tuổi, quê tỉnh Bình
Định) lái xe tải chở khoảng 1500 thùng bia Tiger gặp tai nạn. Lập tức,
những người “hôi của” tranh nhau giành giật các thùng bia còn nguyên
bị rớt xuống đường và thu gom các lon bia văng ra khỏi thùng. Trong đó,

 Tác dụng: Xuân Diệu đã ví von táo bạo vẻ đẹp của nàng xuân tràn đầy
nhựa sống, tình tứ, quyến rũ như cặp môi gần tinh tú của người thiếu nữ.
Từ đó, thi sĩ khẳng định tình yêu tha thiết với thiên đường trên mặt đất và
niềm vui sướng tận hưởng vẻ đẹp trần thế, sự quý trọng thời gian hiện tại.
3.2.3. Các câu hỏi ở mức độ vận dụng thấp:
* Dạng câu hỏi này thường yêu cầu học sinh giải thích, cắt nghĩa bình
luận,… các nội dung trong văn bản:
* Dạng câu hỏi này yêu cầu:
+ Xác định các nội dung thông tin quan trọng trong đoạn văn liên quan
đến yêu cầu giải thích
+ Bám vào luận điểm, luận cứ để giải thích cắt nghĩa ngắn gọn, sâu sắc
* Bài tập minh họa: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
“Tối chủ nhật (22/12/2013) vừa rồi trong chương trình Việt Nam Idol, dư
luận lại thêm sốc khi chứng kiến màn quỳ lạy của một nam thí sinh 21
tuổi với mục đích van xin ban giám khảo cho anh ta cơ hội vào vòng
trong sau khi phần trình diễn của mình không đạt do chất giọng bình
thường”
(nguồn Internet)
+ Tại sao chàng thanh niên 21 tuổi quỳ lạy ban giám khảo? Đó là hành
động như thế nào?
 GV hướng dẫn HS thảo luận và trả lời:
+ Thí sinh nam 21 tuổi này quỳ lạy van xin để được vào vòng trong, khi
kết quả thi của anh ta không đạt.
+ Đây là hành động phi văn hóa, vì cái lợi trước mắt mà gạt bỏ danh dự
và lòng tự trọng.
3.2.4. Các câu hỏi ở mức độ vận dụng cao:
* Dạng câu hỏi này thường yêu cầu học sinh viết sáng tạo một đoạn văn
ngắn (thường khoảng 3-7 dòng) rút ra bài học; bày tỏ suy nghĩ, hoặc
nhận xét quan niệm,… liên quan đến thông tin mà đoạn văn đưa ra?
* Với dạng câu hỏi này, giáo viên hướng dẫn học sinh:

câu hỏi để nhận biết rõ ngữ liệu trích dẫn trong đề; thể loại văn bản được
trích dẫn là gì; văn bản đó thuộc phong cách ngôn ngữ nào; có tất cả mấy
câu hỏi trong yêu cầu, mỗi câu hỏi có mấy ý cần trả lời; nội dung yêu cầu
của từng câu hỏi ra sao, mỗi nội dung đó cách trả lời như thế nào.
Từ sự nhận biết trên, học sinh sẽ định hướng được cách làm bài để
đáp ứng cả yêu cầu hình thức lẫn nội dung. Về nội dung, cần trả lời đúng,
đủ với yêu cầu câu hỏi, sát nghĩa, sâu và mang tính khoa học.
Về hình thức, chữ viết phải rõ ràng; câu trả lời phải trực tiếp, cụ
thể theo từng yêu cầu đề. Mỗi câu phải tách bạch bằng việc đánh số câu
tương ứng với số câu trong đề, trả lời trọn vẹn những ý đã hỏi. Khi hết
câu phải xuống đoạn đánh số và trả lời câu hỏi khác. Chú ý phần này
không viết thành đoạn, bài văn dài dòng mà chỉ trả lời ngắn gọn. Tùy theo
câu hỏi mà có thể trả lời bằng một đoạn văn hoặc bằng những ý gạch đầu
dòng cho tương ứng.
Cần đọc kĩ câu hỏi, trả lời đúng trọng tâm. Không được hỏi một
đằng trả lời một nẻo, hỏi hai vấn đề nhưng chỉ trả lời một, cũng không trả
lời câu này chưa xong lại sang câu khác. Về thời gian trình bày, do câu

17


đọc hiểu chiếm 30% tổng số điểm bài thi nên các em cần phân bố lượng
thời gian làm bài câu này khoảng 30 đến 40 phút trở lại cho phù hợp với
lượng thời gian 180 phút của toàn bài.

3.4. Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu qua luyện tập và kiểm tra đánh giá
Bên cạnh một số biện pháp nói trên, khâu luyện tập và kiểm tra,
đánh giá cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc ôn luyện kĩ
năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 . Giáo viên nên tăng cường
cho các em thử sức với các đề bài đọc hiểu, vừa để rèn luyện kĩ năng nắm


18


Câu 2. Thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn: Thao tác
lập luận phân tích.
Câu 3. Về hình thức: viết một đoạn văn khoảng 5-7 câu, diễn đạt sắc sảo,
trình bày mạch lạc theo cách tổng – phân – hợp
Về nội dung: cần đảm bảo một số ý chính: Giải thích khái niệm
“tự tôn dân tộc”; biểu hiện về lòng tự tôn dân tộc của giới trẻ, phê phán
những hành động thiếu ý thức tự tôn dân tộc,...
4. Kiểm nghiệm
Trên đây là một số biện pháp “ Nâng cao kỹ năng làm bài đọc hiểu
văn bản cho học sinh lớp 12” mà tôi đã áp dụng trong năm học 20132014 và 2015 -2016. Kết quả cụ thể như sau:
* Năm học 2013-2014:
+ Kết quả thi tốt nghiệp: lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy, ôn luyện có kết
quả khá cao:
Lớp Sĩ số HS Điểm 8 - 9
Điểm 6 - 7 Điểm 4 - 5 Điểm 0 - 3
12C12
47
10
36
1
0
+ Kết quả thi đại học: có 4 em đạt 8,5 điểm; 12 em đạt 8,0 điểm; nhiều
em đạt điểm từ 6 – 7 điểm.
* Năm học 2015 – 2016 : Trong kì thi kiểm tra kiến thức lớp 12 do
trường tổ chức, cả ba lớp 12C2, 12C4 và 12C9 đều đạt kết quả tương đối
khả quan:

Kết quả này đã phản ánh được phần nào tác dụng của những phương
pháp, hình thức ôn luyện nói trên.
1.Về phía giáo viên:
Bản thân ngày càng có được sự chủ động, kiến thức được củng cố
mở rộng. Bản thân tôi cũng cảm thấy vui mừng và yêu nghề hơn, tự tin
khi thấy mình đi đúng hướng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học
sinh, nhất là trong thời điểm hiện tại khi xu thế xã hội thiên về những
môn tự nhiên.
2. Về phía học sinh:

19


Các em có sự chủ động hơn khi làm bài, biết cách làm bài đọc hiểu
để đạt hiệu quả cao. Trong quá trình học các em thể hiện sự hứng thú rõ
rệt, tin tưởng, lạc quan vào kết quả khi thi.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Dạy văn, học văn nhằm phát triển năng lực, phẩm chất và vận dụng
kiến thức kỹ năng vào cuộc sống quả là một công việc không dễ chút nào.
Điều đó, đòi hỏi người giáo viên cần có niềm đam mê, tâm huyết với
nghề, không ngừng học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy
kinh nghiệm để khơi dậy niềm hứng thú cho học trò. Bên cạnh việc rèn
luyện kỹ năng cảm thụ văn học, kỹ năng làm bài nghị luận xã hội, cần
tăng cường rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản để học sinh có thể nắm
bắt, vận dụng, phản hồi các thông tin trong cuộc sống.
2. Một số kiến nghị và đề xuất
Về chương trình, sách giáo khoa đổi mới nên giảm tải chương
trình văn học sử, tăng thêm các dạng văn bản nhật dụng nhằm tăng cường
kiểm tra năng lực nhận thức về những giá trị sống của học sinh, gắn với

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy học văn, tập 1, tập 2, NXB Đại
học sư phạm Hà Nội.
2. Trần Đình Sử, Từ giảng văn qua phân tích đến đọc hiểu,
.
3. Đỗ Ngọc Thống, Đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh – Nhìn từ
yêu cầu của PISA, .
4. Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo
định hướng năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT, 2014
5. Một số ngữ liệu tham khảo dẫn theo nguồn từ một số Web như:
docbao.vn, tapchicongsan.org; congthongtindientuchinhphu.org,…

21


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích của đề tài
2
3. Phương pháp nghiên cứu
2
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài
2
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
3
1.1. Khái niệm đọc hiểu văn bản
3

2. Đề xuất
20
Tài liệu tham khảo

22


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status