Một số kinh nghiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn ngữ văn THPT - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG I
*********

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC
SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN THPT

Người thực hiện

: Lê Thị Thanh

Chức vụ

: Tổ trưởng chuyên môn

SKKN thuộc môn : Ngữ Văn

e THANH HÓA, NĂM 2016 e


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà con người ta có thể dùng để thay đổi
thế giới. (N.Mandela), cũng thế, muốn thay đổi bộ mặt của một nhà trường
cần chú trọng nhất là phát triển giáo dục đặc biệt là giáo dục mũi nhọn và một
trong những mặt trận giáo dục mũi nhọn đó chính là việc bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi. Đây chính là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng

đội tuyển, tôi trăn trở nhiều năm, cần phải tìm ra một hướng đi như thế nào để
dạy đội tuyển môn Văn đạt kết quả tốt, đáp ứng được yêu cầu chuyên môn hoàn thành chỉ tiêu đứng tốp 10 toàn tỉnh góp phần nâng cao tầm vóc nhà
trường lại vừa cuốn hút các em vào bộ môn khoa học tâm hồn để các em biết
sống nhân ái, chan hòa và có được những kĩ năng sống cần thiết tốt cho tương
lai sau này, trên hết là ngày càng có nhiều học sinh yêu bộ môn Văn hơn! Và
qua nhiều năm nghiên cứu, tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm theo tôi là
quí báu, chính nó đã giúp tôi thành công và giờ đây tôi có thể chia sẻ với đồng
nghiệp, giúp đồng nghiệp cùng tiến bộ. Ở trường cũng như nhiều nơi, trong
nhiều năm chưa ai nghiên cứu về nó.
Và đó là lí do tôi chọn đề tài tham luận lần này: Một số kinh nghiệm
trong việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ Văn THPT.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích
Mục đích của việc nghiên cứu là tìm ra một hướng đi tốt nhất cho việc
dạy ôn luyện đội tuyển và chỉ đạo Tổ dạy phối hợp bồi dưỡng học sinh giỏi để
làm cẩm nang cho những năm sau, nhân rộng để bạn bè đồng nghiệp cùng học
tập.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Mảng kiến thức và phương pháp ôn luyện đội tuyển học
sinh giỏi môn Ngữ Văn THPT.
- Thời gian: nghiên cứu từ 2010 đến nay mới đúc rút thành kinh
nghiệm.
3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh đội tuyển lớp 12

3


PHẦN II: NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận



giải cao còn giáo viên nào mới thử sức lần đầu coi như không hiệu quả lắm
thậm chí bị trắng bảng. Tâm lí không hoàn thành nhiệm vụ mà nhà trường
giao phó, thua kém đồng nghiệp, không khẳng định được vị thế chuyên môn
của mình trước đồng nghiệp và học trò luôn luôn đè nặng.
- Khi nhà trường có chủ trương dạy phối hợp, Ban giám hiệu nhà
trường luôn luôn kêu gọi và yêu cầu các tổ chuyên môn phát huy tinh thần
đồng đội mà hỗ trợ lẫn nhau trong việc ôn luyện học sinh giỏi. Song, ở những
năm trước, công tác hỗ trợ của tổ chúng tôi dường như chưa tốt. Người dạy
chính vẫn phải chủ động dạy bằng hết chương trình cũng có nghĩa phải chịu
trách nhiệm chính về chất lượng đội tuyển. Nhờ đồng nghiệp hỗ trợ cũng
chẳng qua là bổ sung thêm hoặc dạy lại một cách tùy hứng các tác phẩm được
coi là mặt mạnh của người phối hợp, người dạy phối hợp cũng thường chủ
quan dạy cho xong chuyện mà không đầu tư kỹ lưỡng chuyên sâu vì có tâm lí
các em đã được người dạy chính dạy kỹ rồi hơn nữa mình không phải chịu
trách nhiệm gì. Tình trạng đó dẫn đến chất lượng dạy phối hợp đội tuyển
nhiều khi chưa được như mong muôn, đội tuyển môn Văn những năm trước
được giao cho người dạy chính có năng lực và nhiều kinh nghiệm nên kết quả
cũng đã tương đối cao, trách nhiệm của người dạy sau là phải giữ vững hoặc
đạt thành tích năm sau cao hơn năm trước.
Thành thử nhận trách nhiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi thực sự
là một áp lực lớn cho người dạy chính nhất là những đồng chí trẻ mới lần đầu
được giao trọng trách.
2- Từ phía học sinh:
Hàng ngày các em phải tiếp thu một lượng kiến thức khá lớn từ các
môn học, nhất là tâm lí cần phải học đều cả 3 môn thi Đại học đã khiến các
em và cả các bậc phụ huynh lo ngại, họ không muốn thiên lệch về một môn
nào trong khi để có được một giải học sinh giỏi cấp Tỉnh cần phải học thêm
cho bộ môn rất nhiều, mất rất nhiều thời gian học tập và phải rất kỳ công ôn

Vậy với tư cách là một Tổ trưởng chuyên môn đồng thời cũng là một
người trực tiếp ôn luyện Đội tuyển, tôi đã giải quyết khó khăn đó như thế
nào ? Đây là nội dung chính tôi sẽ trình bày ở phần tiếp theo.
III- GIẢI PHÁP THỰC HIỆN :
A- Với tư cách của người trực tiếp dạy Đội tuyển:
1- Bắt đầu từ khâu chọn học sinh
- Chọn những em có niềm đam mê với môn Văn. Chỉ chọn những em
6


có niềm đam mê thì các em mới chuyên tâm, hứng thú học tập và học một
cách tự nguyện tự giác. Tuy nhiên, muốn các em có đam mê, cô giáo phải là
người truyền lửa, đem đến cho các em niềm đam mê trước bằng những bài
giảng hay, đầu tư, thu hút sự thích thú của các em. Khi phát hiện được những
học sinh say mê yêu mến bộ môn của mình, lựa chọn và động viên, quan tâm
chăm sóc các em qua từng bài giảng, từng bài kiểm tra châm chữa kĩ lưỡng để
kích thích niềm đam mê đó.
- Chọn những em tư duy nhanh nhạy. Những em tư duy nhanh nhạy là
những em tư chất thông minh, có khả năng tiếp thu kiến thức và kĩ năng một
cách nhanh nhất, ngoài ra các em còn có khả năng tự liên tưởng, sáng tạo để
tìm một hướng đi mới lạ, một giọng điệu cá tính không trùng lặp rập khuôn
với ai, đây là yếu tố cần thiết nhất của học sinh giỏi. Thực tế đã chứng minh
qua các khóa tôi dạy, số các em có tư duy tốt không nhiều, thậm chí có em
giữa chừng do áp lực các môn thi Đại học lớn quá, em muốn xin ra khỏi đội
tuyển để học đều 3 môn, nhưng phát hiện em có tư duy tốt, tôi đã bằng mọi
cách giữ lại, nào động viên, gặp gỡ trao đổi với phụ huynh, tạo điều kiện về
vật chất (miễn học phí ở phần học ôn các môn thi Đại học)… Và cuối cùng
em ấy đạt giải Nhất (2010), đem vinh quang về cho tôi, em của năm 2016
cũng gần tương tự như vậy, sau khi được tôi giữ lại, em đạt giải Nhì.
- Chọn em chữ đẹp sau đó là có sức viết nhanh và dài. Trong sự sàng

kiến thức và làm bài kiểm tra.
- Dạy kĩ phần lí luận văn học. Dạy các vấn đề lí luận nằm trong chương
trình, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến truyện ngắn và thơ, yêu cầu
HS phải vận dụng. Ra một vấn đề nhỏ cho các em viết có vận dụng những vấn
đề lí luận vừa học đó.
- Với phần nghị luận xã hội, tôi chia thành các chủ đề để ôn luyện: Với
dạng bài nghị luận về một tưởng đạo lí tôi xoay quanh các chủ đề thành công;
hạnh phúc; học vấn; cho và nhận; nghị lực vươn lên; hãy là chính mình; tính
trung thực; sự chiến thắng… Mỗi chủ đề tôi giao cho học sinh sưu tầm những
danh ngôn phù hợp để có thể vận dụng khi làm bài. Sưu tầm những câu
chuyện nổi tiếng để làm tư liệu dẫn chứng hoặc dùng chính những câu chuyện
làm đề ôn luyện.
2. Tổ chức cho học sinh học tập tiếp thu kiến thức
- Giao vùng kiến thức tự học tự thảo luận truy bài lẫn nhau. Sau khi dạy
xong một chùm tác phẩm cùng chủ đề (chùm tác phẩm về chủ đề số phận con
8


người hay chủ đề chủ nghĩa anh hùng cách mạng…), tôi tổ chức cho các em
tự học, ngồi với nhau theo cặp để thảo luận tìm ra ý tưởng độc đáo về các
chùm tác phẩm, thảo luận cùng tìm ra đáp án cho những đề khó, cùng hỏi bài
nhau, nhắc kiến thức cho nhau trong khi ôn tập bài cũ, tìm điểm chung và
riêng của các tác phẩm (ảnh minh họa phần phụ lục). Các em nghiên cứu tự
vẽ các sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức. Giáo viên tự sáng chế đồ dùng dạy
học để giúp các em tiếp thu kiến thức một cách sống động, dễ nhớ…
3. Luyện đề và chấm chữa
- Với phần văn học, sau khi dạy xong một tác phẩm tôi cho học sinh về
nhà làm một đề về chính tác phẩm đó. Giai đoạn đầu tôi ra đề kiểm tra kiến
thức cơ bản, mục đích cho các em hiểu và ghi nhớ kiến thức. Về sau tôi ra
đúng dạng đề học sinh giỏi: Từ một tác phẩm làm rõ một vấn đề lí luận hoặc

đây:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
- Với dạng đề nghị luận xã hội, dựa trên từng chủ đề đã được ôn luyện tôi ra
đề và chấm chữa cho học sinh rút kinh nghiệm. Ra đủ các dạng từ nghị luận
về tư tưởng đạo lí đến hiện tượng xã hội, và chú ý cả dạng đề từ câu chuyện
rút ra bài học cuộc sống.
Ví dụ 1:
"Tôi vốn là một tảng đá khổng lồ trên núi cao, trải qua bao năm tháng
dài đăng đẳng bị mặt trời nung đốt, người tôi đầy vết nứt. Tôi vỡ ra và lăn
xuống núi, mưa bão và nước lũ cuốn tôi vào sông suối.
Do liên tục bị va đập, lăn lộn, tôi bị thương đầy mình. Nhưng rồi
chính những dòng nước lại làm lành những vết thương của tôi. Và tôi trở
thành một hòn sỏi láng mịn như bây giờ".
10


(Dẫn theo Quà tặng cuộc sống)
Suy nghĩ của anh/chị về câu chuyện của viên sỏi nói trên ?
Ví dụ 2:
Con đường chúng ta đi không phải là một con đường bằng phẳng mà là
một con đường gập gềnh đầy chông gai nhưng nó dẫn ta đến nơi có ánh sáng mặt
trời.

trong giờ phút đối mặt với cái chết Tnú (“Rừng xà nu” của Nguyễn Trung
Thành) và A phủ (“Vợ chồng A phủ” của Tô Hoài ); chân lí về mối quan hệ
giữa văn học và nghệ thuật đặt ra trong hai tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
của Nguyễn Minh Châu và trích đoạn kịch “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của
Nguyễn Huy Tưởng; tâm trạng âu lo ám ảnh trước bước đi thời gian của Xuân
Diệu trong “Vội vàng” và Xuân Quỳnh trong “Sóng”; Cách tố cáo kẻ thù của
Nam Cao trong “Chí Phèo” và Kim Lân trong “Vợ nhặt”; Gọi “ Hồn lau”
(“Tây Tiến” - Quang Dũng) là gọi hồn mùa thu và… hồn tử sĩ; Tư thế được
xem là sự bào chữa cho cái trơ trẽn táo bạo của người đàn bà trong tác phẩm
“Vợ nhặt” của Kim Lân… Hoặc những danh ngôn hay được anh em sưu tầm
tung ra cho mọi người cùng suy ngẫm “Ta không thể níu giữ một ngày nhưng
ta có thể làm cho một ngày giàu thêm ý nghĩa” (Ngạn ngữ phương Tây);
“Chúng ta không thể xoay chiều gió nhưng có thể chỉnh lại hướng buồm”
(Bertha Calloway), những câu chuyện hay có thể lấy làm đề thi v.v.. và v.v…
Từ hình thức đó chúng tôi đã thu thập được không ít những ý tưởng hay từ
đồng nghiệp. Có thể nói đây là một hình thức khai thác kiến thức thông qua
sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề Bồi dưỡng học sinh giỏi, như thế vừa
phát huy được tinh thần sáng tạo, học hỏi của anh em vừa thu hút tập trung
được trí tuệ của tập thể trong việc ra đề cho học sinh đội tuyển.
5- Ôn lại kiến thức lần 2 theo chủ đề:
- Kiến thức lần 1 yêu cầu hết học kỳ I phải xong, lần 2 là khoảng thời
gian 1 tháng sau Tết, tôi chú trọng ôn lại kiến thức cho học sinh nhưng không
phải dạy lại phần kiến thức ban đầu nữa, không đi lại từng bài, từng tác giả,
tác phẩm một cách chuyên sâu như lần 1 mà là: Dạy theo chủ đề, tức là xâu
chuỗi những tác phẩm có cùng một chủ đề để liên hệ, so sánh, mở rộng, nâng
cao. Ví dụ: Chủ đề số phận con người qua các tác phẩm từ trước đên sau cách
mạng “Chí Phèo” của Nam Cao; “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài ; “Vợ nhặt”
của Kim Lân; “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu hay Chủ
nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu qua các tác phẩm “Rừng
12

đúng hướng, cách phân phối thời gian từng câu cho hợp lí, cách đặt vấn đề
cho hay … tất cả những điều này tuy những người dạy chính đã nói, song mỗi
cô bằng sự trải nghiệm của chính mình mà cung cấp thêm cho các em thì vẫn
13


có điều bổ ích rất đáng trân trọng, học tập.
- Làm như thế, tôi nhận thấy tính cộng đồng tập thể được nâng lên, tình
cảm giữa đồng nghiệp với nhau, giữa cô trò với nhau được xiết chặt và quan
trọng hơn các em sẽ thấy cả tổ chuyên môn cùng quan tâm, cùng kỳ vọng…
các cô luôn ở bên các em… Từ đó, các em sẽ vững vàng tự tin hơn và tất
nhiên quyết tâm đạt được thành công trong các em theo đó cũng sẽ lớn hơn.
Chỉ một việc làm nhỏ nhưng sự tác động đến học sinh sẽ không nhỏ và theo
tôi đó cũng là một lí do thanh công !
B- Với tư cách là một Tổ trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn dạy Đội
tuyển
1. Chia sẻ kinh nghiệm mình đã dạy và thành công cho anh em.
Những việc tôi làm và đã đạt được thành công trong công tác ôn luyện
đội tuyển, tôi đã chia sẻ hết cho các đồng chí được phân công dẫn chính và
chỉ đạo đồng chí đó thực hiện nghiêm túc triệt để những gì tôi đã làm. Ngoài
ra, tôi kêu gọi các đồng chí, dựa vào đối tượng học sinh cụ thể mà có những
biện pháp sáng tạo cho phù hợp với chất lượng học sinh từng năm.
2- Lên kế hoạch ôn luyện cụ thể
- Dựa vào khung kiến thức của Sở gửi về cho các trường, tổ trưởng và
người dạy chính thảo luận lên kế hoạch bao quát tổng thể toàn bộ chương
trình sau đó mới phân chia cho từng giai đoạn và cân nhắc tính toán xem cần
bao nhiêu thời lượng để có thể chuyển tải hết lượng kiến thức đó.
- Điều quan trọng là, ở mỗi bài dạy ngay từ lúc làm chương trình đã
phải có sự định hướng thống nhất: Cần phải bám sát mục đích yêu cầu, Chuẩn
kiến thức, kỹ năng của Bộ để định hướng dạy vấn đề gì, chuyên sâu vấn đề

tuyển, từ người dạy chính đến người dạy phối hợp, mỗi người đều phải dạy
một mảng kiến thức như nhau và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mảng
kiến thức mình đảm trách.
+ Dựa trên thế mạnh của từng người để phân chia. Mỗi người dạy đều
có một ưu thế riêng, mặt mạnh riêng, có người mạnh ở khả năng thẩm thấu,
cảm nhận bình giá thơ; người rất có lợi thế trong việc khám phá các tác phẩm
văn xuôi; người mạnh ở việc dạy tác phẩm kịch hoặc văn nghị luận … Vì vậy,
khi phân chia kiến thức, tôi dựa vào thế mạnh riêng của từng người, có như
thế các đồng chí mới có thể nhận nhiệm vụ một cách thoải mái và có tâm lí
vững vàng tự tin trước học sinh.
+ Ấn định thời gian hoàn thành chương trình được giao. Trong toàn bộ
15


khoảng thời gian nhất định mỗi người dạy chịu trách nhiệm chuyển tải hết
phần kiến thức mình được giao. Có ấn định thời gian như thế thì mới đảm bảo
đúng tiến độ, hết học kỳ I là “cày” hết kiến thức lần 1, nếu không ấn định,
giao khoán trách nhiệm thì người dạy dễ có thái độ chủ quan - tháng 3 mới thi
việc gì phải vội và “dềnh dàng” lãng phí thời gian, cô không dạy trò không
học.
- Việc chia đều kiến thức cho giáo viên tham gia dạy đội tuyển như thế
sẽ có tác dụng rõ rệt:
+ Xóa bỏ hẳn tình trạng giáo viên dạy phối hợp có tâm lí ỷ lại cho
người dạy chính, mình không phải chịu trách nhiệm gì nên dạy qua loa, tác
trách, thậm chí có giao viên khi được phân công dạy hỗ trợ đã chọn cho mình
những tác phẩm năm trước vừa thi xong để dạy và khi dạy không cần có giáo
án, ngồi nói “tay bo” với học sinh, chuyện trò cho hết buổi bởi họ có suy nghĩ
rằng tác phẩm này năm trước vừa thi xong năm sau chắc chắn không ra vào,
chỉ cần nhận cho xong trách nhiệm trước tổ là được còn dạy như thế nào
không quan trọng. Khi chia đều kiến thức và mỗi người phải chịu trách nhiệm

- Với cá nhân
TT

Năm học

Giải
Nhất

Giải
Nhì

Giải
Ba

Giải
KK

Tổng

1
2
3

2009-2010
2012-2013
2015-2016

1
0
0

đồng chí khác lần đầu dẫn dắt Đội tuyển, tôi vẫn triệt để thực hiện các biện
pháp chỉ đạo trên và chúng tôi đạt kết quả 5/5 em đạt giải trong đó 1 giải Nhì
và 4 giải Ba.
- Nhìn vào kết quả trên có thể thấy, chất lượng đội tuyển học sinh giỏi
môn Ngữ Văn hàng năm của trường tôi luôn đứng trong tốp 10 của Tỉnh và đã

17


góp phần đắc lực vào việc giữ thương hiệu chung của nhà trường, đưa trường
chúng tôi giữ vững vị trí dẫn đầu khối THPT toàn Tỉnh trong suốt 12 năm liên
tục vừa qua.
2- Kết luận
- Ôn luyện dẫn dắt, bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc vinh
quang nhưng vô cùng gian khổ, đòi hỏi người thầy phải có tâm huyết, sáng
tạo đặc biệt là sự hy sinh tự nguyện rất lớn. Những người dạy chúng tôi trong
bao năm qua đã làm việc này một cách bền bỉ công phu không đòi hỏi sự trả
ơn đáp đền của học sinh hay sự bồi dưỡng của nhà trường, tất cả ai cũng
mong kết quả cuối cùng là công sức mình bỏ ra phải có giải, giải càng cao
càng nhiều thì càng tốt. Và muốn có thành quả đó chúng tôi cũng đã cộng
đồng trách nhiệm cùng chung tay gánh vác, dù mỗi năm trách nhiệm được
giao cho một người đứng chính, song phía sau đó, những người dạy phối hợp
nếu không có tinh thần đồng đội mà tương trợ lẫn nhau một cách vô tư tự
nguyện như chúng tôi đã làm thì kết quả cũng khó lòng như mong muốn, đặc
biệt vai trò chỉ đạo và “cầm trịch” chuyên môn của tổ trưởng là vô cùng quan
trọng.
- Những sáng tạo của bản thân trong khi trực tiếp dạy Đội tuyển hay chỉ
đạo Tổ dạy phối hợp dạy Đội tuyển trong nhiều năm qua đã là một bằng
chứng quan trọng chứng minh cho những điều vừa nêu và cũng đã được anh
em đồng nghiệp trong Tổ ghi nhận và đặc biệt Ban giám hiệu nhìn thấy và

trách nhiệm.
Người viết

Lê Thị Thanh

19


PHẦN PHỤ LỤC
1. Tổ chức cho học sinh học nhóm đê thảo luận "truy" bài ôn tập kiến thức
hoặc cùng nhau khai thác bài học trước khi được cô giáo giảng giải.

20


2. Giáo viên dùng đồ dùng giảng dạy để chuyển tải kiến thức một cách sinh
động, hấp dẫn giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ.

21


3. Giáo viên hướng dẫn học sinh làm sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức.

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. SGK Ngữ văn 10, 11, 12 - NXB Giáo dục
2. SGV Ngữ văn 10, 11, 12 - NXB Giáo dục

7- Những lời dặn dò tỷ mỷ sau cùng..............................................................13
B- Với tư cách là một Tổ trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn dạy Đội tuyển.......14
1. Chia sẻ kinh nghiệm mình đã dạy và thành công cho anh em...................14
2- Lên kế hoạch ôn luyện cụ thể.....................................................................14
3- Chia đều kiến thức cho những người tham gia dạy...................................15
4. Những tiến bộ của học sinh........................................................................16
C- KẾT LUẬN VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT.......................................................17
1- Kết quả đạt được........................................................................................17
2- Kết luận......................................................................................................18
3- Những đề xuất............................................................................................18
PHẦN PHỤ LỤC............................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................23

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status