BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------
TRẦN XUÂN MINH
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI CÂY HỌ ĐẬU TRONG VIỆC
THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT
NƯƠNG RẪY THOÁI HÓA TẠI XÃ CHÂU KHÊ – HUYỆN
CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
e
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn
Hà Nội - 2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở các vùng núi của Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng, nơi có
các cộng đồng dân tộc ít người sinh sống, du canh luân hồi với giai đoạn bỏ
hóa bị rút ngắn, đất ngày càng bị suy thoái đang là vấn đề phổ biến.
trồng luân canh nhằm tăng cường bảo vệ đất, chống xói mòn và tăng cường
độ phì nhiêu của đất. Phần lớn các nghiên cứu này lại hướng đến các loài cây
nhập nội, mới được triển khai nghiên cứu ở vùng núi phía Bắc, hoặc mới
dừng lại các khuyến nghị mà chưa đưa ra các quy trình cụ thể.
Vùng núi tỉnh Nghệ An, về yếu tố tự nhiên, có những nét đặc thù chung
cho vùng núi Bắc Trung Bộ và cũng có những nét riêng biệt. Ngoài ra, với sự
đa dạng về dân tộc, đây là vùng kinh tế sinh thái đặc thù và có vai trò rất lớn
trong nền kinh tế của tỉnh Nghệ An. Do vậy, việc xây dựng được quy trình
phù hợp với những yếu tố trên là cần thiết và có ý nghĩa rất lớn không chỉ về
mặt môi trường mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng một số cây họ đậu trong việc thúc đẩy quá trình phục
hồi độ phì nhiêu của đất nương rẫy thoái hóa ở xã Châu Khê - huyện Con
Cuông - tỉnh Nghệ An”
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Những vấn đề của canh tác nương rẫy trên đất dốc
Với bình quân 0,5 ha đất tự nhiên hoặc dưới 1.000m2 đất canh tác cho 1
người, Việt Nam là một trong những nước hiếm đất nhất thế giới. Trữ lượng
đất vùng châu thổ đã khai thác gần như đến mức tới hạn nên việc tiếp tục phát
triển nông nghiệp trong những thập kỷ tới phần lớn phải phụ thuộc vào việc
phục hồi và sử dụng hợp lý tài nguyên đất vùng cao có độ dốc và mức độ phì
nhiêu khác nhau [15].
Việc sử dụng đất dốc gặp phải hàng loạt trở ngại như xói mòn, rửa trôi
bề mặt, rửa trôi theo chiều sâu, thiếu độ ẩm, đất chua, nghèo kiệt dinh dưỡng
nương rẫy tăng gấp 1,35 lần so với rừng tái sinh. Khả năng phục hồi chất dinh
dưỡng trong đất nương rẫy phụ thuộc vào thời gian bỏ hoá. Thời gian bỏ hoá
tối thiểu để lập lại cân bằng dinh dưỡng, bù lại được lượng dinh dưỡng đã mất
đi cần 11 – 20 năm. Bên cạnh đó còn phụ thuộc và phương thức quản lý
nương rẫy khác nhau của người dân.
Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Sơn (1998) [17], trên các nương rẫy bỏ
hoá ở Nghệ An, nếu không có tác động của con người, trong những năm đầu
các loại cây bụi và cây gỗ nhỏ sẽ phát triển. Thành phần loài và mật độ của
các loại cây này phụ thuộc vào nguồn gieo giống, hay nói cách khác là phụ
thuộc vào số năm và số lần canh tác nương rẫy đã trải qua. Cũng theo nghiên
cứu của tác giả, trong thời kỳ rẫy bỏ hóa, có sự gia tăng đồng thời cả thành
phần loài thực vật và dinh dưỡng đất, song tốc độ gia tăng không đồng đều.
Trong hai năm đầu của giai đoạn bỏ hóa, thành phần loài thực vật tăng nhanh
song sự tích lũy hữu cơ và các chất dinh dưỡng trong đất vẫn diễn ra chậm.
Đến năm thứ 3 trở đi, khi tầng thảm mục của xác thực vật xuất hiện thì hàm
lượng mùn tăng nhanh.
5
Ở vùng đồi núi Nghệ An, với khoảng 200.000 ha đất nương rẫy cố định.
Mỗi hộ gia đình chỉ được một phần diện tích canh tác nhỏ. Từ đó dẫn đến tình
trạng rút ngắn thời gian bỏ hoá xuống 1 – 2 năm, thậm chí không còn thời
gian bỏ hoá, tuỳ từng vùng. Với khoảng thời gian ít ỏi này, đất chưa kịp phục
hồi phần lớn độ phì đã cung cấp cho cây trồng.
Hậu quả nghiêm trọng là quá trình thoái hoá đất
Các nhà khoa học dự tính rằng, trong điều kiện tự nhiên, để hình thành
một lớp đất mặt dày khoảng 2,5cm từ đá biến thành đất trồng trọt mất khoảng
300 năm. Trong quá trình canh tác, đất được xáo trộn thoáng hơn nên thời hạn
hình thành đất có thể rút ngắn 30 năm. Như vậy, ngưỡng đất bị xói mòn có
Chất mất đi
Chất hữu cơ
Tính ra phân bón
(kg/ha/năm)
Thành tiền (đồng/ha/năm)
200 kg phân chuồng
20.000
N
20 kg phân Urê
40.000
P205
8 kg super Lân
80.000
K20
5 kg phân Kali
10.000
được về sản lượng, về diện tích như lũ lụt, sâu bệnh, hạn hán,… Ngược lại,
cũng không có những số liệu cụ thể về năng suất, chất lượng để so sánh hiệu
quả trực tiếp của từng sự việc, từng mô hình mang tính thuyết phục. Ví dụ:
những phát minh về giống, về cải tiến máy móc thiết bị thì năng suất sẽ cân,
đong, đo, đếm bằng những số liệu chính xác để so sánh bằng những số liệu
chính xác để so sánh giữa hiệu quả và tính hơn hẳn của từng phát minh, từng
sáng kiến. Biểu hiện của xói mòn chỉ là sự đục trong của nước lũ cứ ngày đêm
trôi đi một cách êm đềm, đất mất đi một cách nhẹ nhàng. Đây là vấn đề khách
quan cơ bản tác động xấu nhất tới nhận thức, cách nhìn nhận không đầy đủ,
thiếu chính xác dẫn đến những quyết định chậm trễ trong việc chống xói mòn.
Theo kết quả điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp năm
1992, toàn vùng khu IV cũ có 1.800.000 ha đất trống, đồi núi trọc trong đó có
khoảng 40% là tầng đất mỏng, nghèo kiệt, khô hạn, chặt rắn ít có khả năng
sản xuất. Tình hình sử dụng không có hoặc ít có hiệu quả đất dốc khiến chúng
ta lo ngại, chính vì vậy có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng hợp lý đất đồi
núi ở nước ta. Nguyễn Vỹ, Nguyễn Trọng Thọ cùng nhiều tác giả khác đã đề
8
cập đến một số giải pháp sử dụng đất dốc nhằm chuyển từ canh tác du canh,
quảng canh sang thâm canh như: ruộng bậc thang, canh tác theo đường đồng
mức, hệ thống cây che phủ đất.
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá và có hạn, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế được. Trong thực tế sản xuất, nhiều năm qua đã chỉ ra rằng
con người chỉ khai thác đất phục vụ cho nhu cầu của mình mà chưa thực sự
đứng trên quan điểm sản xuất một nền nông nghiệp lâu bền, đáp ứng được
cho hiện tại mà không ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai. Do đó việc trả lại
“chiếc áo khoác” cho đất là một giải pháp tiên quyết cho một nền nông nghiệp
bền vững trên đất dốc.
lớn và giảm đột ngột theo chiều sâu. Dưới thảm thực vật tự nhiên, nhiều loại
đất giàu chất hữu cơ và đạm. Đất alit trên núi cao và đất feralit có mùn trên
núi có chứa trong lớp 20 cm đất mặt từ 234 – 282 tấn mùn và 7,4 – 9,4 tấn N,
tương đương với đất nhiều vùng ôn đới. Tuy nhiên một khi đất được đưa vào
canh tác nông nghiệp thì dự trữ mùn và đạm giảm đi nhanh chóng. Hàm
lượng mùn giảm rất nhanh trong đất có thành phần cơ giới nhẹ. Việc để mất
thảm rừng là nguy cơ lớn nhất đối với việc duy trì dự trữ mùn đất. So sánh
hàm lượng mùn đất châu thổ và đất đồi cho thấy đất phù sa phì nhiêu có hàm
lượng mùn ổn định khoảng 2,5% trong khi đất đồi chỉ có khoảng 2,2% và dao
động khá mạnh.
Suy thoái hữu cơ kéo theo hàng loạt hệ quả tai hại: Làm năng suất và độ
phì nhiêu đất giảm nhanh, vì có tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng hữu cơ
và hàng loạt chỉ tiêu quy định độ phì nhiêu của đất đồi, đặc biệt là đạm, lân,
kali, dung tích hấp thu cố định lân là trở ngại lớn nhất trên đất dốc (Nguyễn
Tử Siêm, Thái Phiên, 1999) [15]. Yếu tố này không thể khắc phục được bằng
cách bón phân khoáng đơn thuần mà nếu có khắc phục được một phần thì cần
một lượng phân rất lớn, rất tốn kém về kinh tế mà hiệu quả không cao.
10
Đứng trước tình trạng môi trường sinh thái đang bị suy thoái nghiêm
trọng, diện tích đất thoái hóa ngày càng gia tăng, việc nghiên cứu và sử dụng
tập đoàn cây họ đậu cố định đạm cải tạo đất đang là vấn đề thu hút sự quan
tâm của các nhà khoa học trên phạm vi toàn thế giới. Sau đây có thể điểm qua
một số công trình nghiên cứu có liên quan đến giải pháp này cũng như liên
quan đến nội dung đề tài.
1.2. Tình hình nghiên cứu cây cố định đạm trên thế giới
Về bản chất cố định đạm sinh học và khả năng cải tạo đất của các loài
cây họ đậu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nhất là các nước Đông
ra nhiều tranh luận gay gắt, và từ đó có nhiều công trình nghiên cứu khác
được bổ sung. Cuối cùng các nhà khoa học cũng đã thống nhất quan điểm là
có sự cố định đạm sinh học ở một số loài cây họ đậu chứ không phải là tất cả.
Các công trình nghiên cứu của Allen và Allen (Kenneth G.Mac Dicken
(1994) [34], Hallidday và Nakao (1982) [33], Brewbaker (1990) [30] đã phát
hiện ra khoảng 640 loài cây họ đậu có khả năng cố định đạm cộng sinh. Họ đã
kiểm tra nhiều loài cây họ đậu và đưa ra một kết luận rất đáng quan tâm: họ
phụ Papilionoideae có tới 98% số loài có khả năng cố định đạm sinh học, họ
phụ Mimosoideae cũng có tới 90% và họ phụ Casesalpinoideae chỉ có 28%.
Như vậy, những kết quả này đã làm thỏa mãn được những tranh luận trước
đây và đặt nền tảng cho các nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo.
1.2.2. Nghiên cứu sinh khối và hàm lượng Nitơ trong sinh khối
Các công trình điển hình về sinh khối và hàm lượng Nitơ (N) trong sinh
khối bao gồm các nghiên cứu của Silvester (Kenneth G.Mac Dicken, 1994)
[34] khi nghiên cứu sinh khối và hàm lượng N trong sinh khối của các cây cố
định đạm so sánh với cây không cố định đạm, tác giả đã chỉ ra rằng hàm
lượng N chưa trong bộ phận lá cao hơn các bộ phận khác của cây, đặc biệt là
hàm lượng N chưa trong lá rụng của rừng cây cố định đạm thuần loài cao hơn
trong lá rụng của rừng cây hỗn giao có cả cây không cố định đạm.
12
Stewart và cộng sự (1990) [39] đã phát hiện hàm lượng N trong lá của
các loài cây cố định đạm cao hơn trong lá các loài cây không cố định đạm, tác
giả còn khẳng định hàm lượng N trong lá cây thay đổi tùy thuộc vào điều kiện
môi trường sống của chúng .
Sprent J.L và Sprent P. (1990) [38] đã định lượng năng suất sinh khối,
trọng lượng nốt sần và hàm lượng N mà quá trình cố định đạm cộng sinh
chuyển hóa được từ không khí vào trong đất thông qua một rừng cây họ Đậu
và giữ nước. Cây cố định đạm và hiệu lực của đạm để sản xuất ngũ cốc đã
được nghiên cứu bởi các nhà khoa học người Australia như D.F.Herrdge,
H.Marcellos, W.Felton, M.B.Feoples (1995), v.v...
1.2.4. Thảo luận
Điểm qua những vấn đề nghiên cứu ở trên thế giới có liên quan tới khả
năng cải tạo các đặc tính lý, hóa đất cho thấy nhiều công trình nghiên cứu rất
công phu, đi sâu vào giải quyết nhiều nội dung cơ bản để làm sáng tỏ bản chất
của vấn đề cố định đạm sinh học. Đồng thời thông qua một số nghiên cứu
thực nghiệm để kiểm chứng một số loài cây trong những điều kiện lập địa cụ
thể. Những kết quả nghiên cứu này đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích để làm
cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo cũng như cho việc ứng dụng trong
những trường hợp cụ thể ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Đồng thời những
kết quả nghiên cứu đạt được trên đây cũng như cũng là những dẫn liệu và
định hướng quan trọng của đề tài.
1.3. Tình hình nghiên cứu cây cố định đạm trong nước
1.3.1. Phát hiện, sưu tầm và đánh giá tập đoàn cây họ đậu cố định đạm
Từ thời xưa, nhân dân ta đã biết sử dụng một số cây họ đậu thân thảo
như: đậu, lạc,... để trồng xen canh gối vụ với các loài cây lương thực, thực
phẩm ngắn ngày khác, sản phẩm chính thu được dùng để làm thực phẩm cho
14
sinh hoạt hàng ngày, các sản phẩm phụ như thân cây, lá và vỏ quả dùng làm
phân bón ruộng.
Công trình nghiên cứu điển hình trong giai đoạn này như Trần An Phong
(1978) [12] nghiên cứu về khả năng sinh sản vô tính ở cây Điền thanh (Sesbania
paludosa). Thử nghiệm trồng cây cốt khí (Tephrosia candia) để cải tạo đất đồi
trọc và sử dụng làm phân xanh ở Trạm cải tạo đất bạc màu (1978) [25]
Nguyễn Đăng Khôi (1979) [9] đã mô tả được 155 loài, tu chỉnh chuyển
Đậu thân gỗ trên vùng đồi núi trọc ở Hà Nội nhằm cải thiện môi trường sinh
thái, bước đầu cũng đã có những kết quả rất đáng quan tâm.
Nguyễn Hữu Thọ (1997) [22] đã nêu rõ kinh nghiệm phong phú của
nông dân miền núi về thu nhập, gieo trồng, đánh giá và sử dụng các cây cải
tạo đất. Các dân tộc sống lâu đời ở vùng đồi núi đã có nhiều kinh nghiệm
trong việc trồng xen một số cây họ đậu với ngô như đậu nho nhe (đậu Cao
Bằng), đậu trắng, đậu “tê”, khi nương rẫy đã bị bỏ hóa thì trồng thuần cây đậu
nho nhe, đậu mèo,..hoặc bỏ hóa cho cỏ mọc một số năm nhằm khôi phục chất
dinh dưỡng cho đất.
Theo Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1999) [11], trên đồi núi có rất
nhiều cây trồng và cây hoang dại có thể sử dụng làm cây phân xanh cải tạo
đất. Ở miền Bắc Việt Nam có tới 120 loài, trong đó có 102 loài thuộc họ Đậu,
chưa kể cây họ đậu ăn hạt. Tác giả cũng đã liệt kê 22 loài được sử dụng phổ
biến, trong đó đáng lưu ý là các loài muồng, đậu mèo và quỳ dại, những loài
cho sinh khối lớn và phù hợp với tiêu chuẩn của cây làm phân xanh. Tại
những vùng có khí hậu nóng và mưa nhiều như vùng Khu 4 cũ vào đến Tây
Nguyên, cây muồng chủng Crotalaria được người dân rất ưa trồng vì mọc
khỏe, tái sinh mạnh, thân mền, nhiều hạt (tr. 131).
Kết quả nghiên cứu của học viện nông lâm 1960 đã nêu một số cây phân
xanh họ Đậu có triển vọng cho vùng đồi núi phía Bắc là: đậu nho nhe, cốt khí,
16
đậu lông, đậu mèo đen, hồng đáo, muồng lá tròn, đậu triều, cỏ stylo, thua
cooc. Đối với vùng đồi Phủ Quỳ Nghệ An, trên đất bazan, Lê Đình Định
(1999) [2] nêu các cây triển vọng nhất là: cốt khí, muồng dùi đục, muồng lá
tròn, đậu mèo, đậu lông, cỏ stylo.
Tóm lại, các tài liệu cho tới nay về sưu tầm, thu thập, gieo trồng và đánh
giá tập đoàn cây phân xanh cho vùng đồi núi nước ta là rất phong phú, nêu
1.3.3. Ảnh hưởng của cây họ đậu đến đặc tính lý hóa của đất
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm, thực vật sinh trưởng nhanh và tốc độ
hoạt động sinh học mạnh là những nhân tố chủ yếu xúc tiến sản xuất sản sinh
chất hữu cơ nhanh chóng và chuyển hóa chúng với tốc độ nhanh hơn hàng
chục lần so với điều kiện ôn đới. Những ưu thế này cần được tận dụng trong
khi phục hồi độ phì nhiêu hữu hiệu của các đất dốc đã rất nghèo kiệt của nước
ta. Về mặt này thì cây phân xanh đóng vai trò hết sức trọng yếu, như một
công cụ hữu hiệu để kiểm soát xói mòn, tăng cường độ xốp, sức chứa ẩm tối
đa đồng ruộng, dự trữ dinh dưỡng, cải thiện mức độ dễ tiêu các nguyên tố
dinh dưỡng, tạo ra môi trường thích hợp cho hoạt động của bộ rễ cây trồng.
Bởi vậy, phát triển cây phân xanh họ Đậu, bao gồm các cây đa mục tiêu, cần
phải được xem như một hợp phần không thể thiếu được của chiến lược quốc
gia về phục hồi cải tạo đất thoái hóa và sử dụng bền vững đất dốc.
Trong các biện pháp trên, phủ đất bằng các loài cây họ đậu cố định đạm
ở những vùng đất dốc, đất trống đồi núi trọc đang là lựa chọn tối ưu, mang lại
hiệu quả rất cao, làm giảm đáng kể hiện tượng xói mòn đất, đồng thời cải
thiện cấu trúc, lý - hoá tính của đất:
- Trồng cây phân xanh họ Đậu kiểm soát được xói mòn và rửa trôi: Xói
mòn đất ít nhất ở đất còn thảm rừng, khi mặt đất được thực vật và thảm rụng
che phủ. Khi đưa đất vào sử dụng nông nghiệp, nhất là trồng cây ngắn ngày
và giai đoạn cây lâu năm mới trồng, đất bị rửa trôi và xói mòn mạnh mẽ. [14]
18
Bảng 1.2. Hiệu quả chống xói mòn của cây phân xanh trên
đá phiến thạch dốc 200
Công thức
Đất mất
113,6
780,3
45,0
Sắn trồng xen cốt khí
80,2
458,8
27,4
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 1999
Trồng phân xanh họ Đậu bằng cây phủ đất hoặc trồng xen tạo băng chắn
làm giảm đáng kể xói mòn mặt đất, ngăn ngừa trượt đất, gột rửa dinh dưỡng.
- Cải thiện tính chất vật lý của đất: Đối với cây trồng cạn, việc tạo ra môi
trường thích hợp cho bộ rễ phát triển là điều kiện tiên quyết vì thoái hóa vật lý
đất là khó khắc phục hơn nhiều so với sự sửa chữa những suy thoái về dinh
dưỡng bằng việc bón phân để bổ cứu. Trong mọi trường hợp, nương trồng bị
bỏ hóa do độ phì nhiêu cạn kiệt đều theo dõi thấy tính chất vật lý đất bị thoái
hóa trầm trọng, đất trở nên chặt cứng, kém tơi xốp, độ ẩm cây héo cao. Trong
tình hình đó cây phân xanh, đặt biệt là các cây họ đậu có thể giúp phục hồi
nhanh chóng trạng thái vật lý đất. [14]
Bảng 1.3. Trồng cây phân xanh cải tạo tính chất vật lý đất
Tính chất đất
Đất trống
- Cải thiện chế độ nước: Trên đất dốc rửa trôi bề mặt rất nghiêm trọng.
Với độ dốc 10 – 20%, lượng nước trôi trên bề mặt chiếm 35% tổng lượng
mưa, trên độ dốc 25%, con số này lên tới 45 – 60%, tùy theo loại đất và
cường độ mưa.
- Cải thiện tình trạng chất hữu cơ trong đất: Chất hữu cơ của các cây
phân xanh họ đậu rất giàu hydrat cacbon, nhóm chức cacboxylic và các hợp
chất đạm. Các thành phần này xúc tiến sự hình thành axit humic, fulvic, nhất
là các hợp chất tự do và liên kết với phần khoáng của đất. Việc vùi phân xanh
vào đất làm cho đất giàu vật chất mùn, bền vững hơn đối với xói mòn và rửa
trôi. Cấu trúc đất cũng được cải thiện rõ rệt xét về mặt hình thành đoàn lạp, độ
tơi xốp và giữ nước. [14]
Bảng 1.4. Hiệu quả sử dụng cây phân xanh họ Đậu đối với vật chất mùn
C%
C%
H-Ca
Axit humic
H-R2O3
C% axit
fulvic
Tỉ lệ
C ah/C af
Đất trống
1,75
0,51
Đậu hồng đáo
2,62
0,06
0,06
0,81
0,44
Cỏ stylo
2,71
0,05
0,0
0,62
0,61
Công thức
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 1999
- Tăng nguồn dinh dưỡng và cải thiện hiệu lực phân bón: Khối lượng
448,0
113,1
90,3
Stylo
295,3
25,8
69,0
115,2
83,0
Muồng sợi
295,3
19,0
338,8
62,3
47,2
đến hơi ẩm của đất đai bên cạnh. Việc cây cối giữ lại nước mưa ảnh hưởng
đến tổng hơi ẩm vào trong đất. Dưới tán cây dày đặc, mưa nhỏ cũng có thể tới
21
đất như một trận mưa rào ngắn và nhẹ. Nước do rễ cây hút có ảnh hưởng đáng
kể đến độ ẩm của đất.
Cây cối giữ chặt đất bằng bộ rễ của mình và thiết lập độ mấp mô cao
trong đất, chính điều này đã cản trở dòng chảy bề mặt và tăng điều kiện hấp
thu nước. Sau khi rễ cây chết đi trong đất để lại những khoảng trống, làm tăng
độ xốp đáng kể đồng thời làm tăng khả năng thấm nước của đất. Dưới tác
dụng của rễ, đất giàu chất hữu cơ, tăng độ bền vững của cấu trúc. Thảm thực
vật còn có ý nghĩa đáng kể trong việc hạn chế bốc hơi nước bề mặt và mất
nước trong đất.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cây họ đậu có giá trị lớn nhất trong việc
cải tạo đất thoái hoá thông qua cố định đạm N tự do trong không khí tạo ra
đạm vô cơ trong suốt thời gian sinh trưởng đã làm giàu cho đất và làm lợi cho
cây cùng chung sống [16].
1.3.4. Thảo luận
Các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý, sử dụng đất luôn luôn gắn
liền với các nghiên cứu chọn loài cây trồng thích hợp. Sự thích hợp của cây
trồng ở đây vừa mang cả ý nghĩa về mặt sinh thái lẫn mục đích kinh tế của
người sử dụng. Đặc biệt trong những năm gần đây, việc chọn những loài cây
trồng thích hợp cho mỗi vùng bảo vệ đất, bảo vệ môi trường đã trở thành vấn
đề quan trọng hàng đầu.
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy phần lớn các
nghiên cứu mang tính chất thực nghiệm sinh thái, cho nên có ý nghĩa rất lớn
về cả lý luận lẫn thực tiễn, dễ dàng chuyển giao công nghệ cho sản xuất. Tuy
nhiên, do mỗi loài cây có những nhu cầu sinh thái khác nhau, mỗi vùng sinh
- Xác định được 2 – 3 loài cây có khả năng thúc đẩy quá trình phục hồi
độ phì của đất trên nương rẫy cố định bỏ hóa.
- Xác định được mật độ thích hợp của các loài cây thí nghiệm trên đất
rẫy bỏ hóa.
- Đánh giá khả năng cải tạo một số tính chất lý, hóa của đất sau khi trồng
cây họ đậu phủ đất trên đất rẫy bỏ hóa ở Châu Khê - Con Cuông.
2.2. Cách tiếp cận của đề tài
2.2.1. Lựa chọn cây và biện pháp kỹ thuật phù hợp với tập quán canh tác
của người dân
Đề tài tập trung lựa chọn một số loại cây phủ đất phù hợp để gieo trồng
trong điều kiện tái sinh tự nhiên của rẫy bỏ hóa. Biện pháp kỹ thuật tác động
đến sự sinh trưởng phát triển của cây được gieo trồng sẽ đơn giản, phù hợp
với tập quán canh tác của người dân. Có hai lý do chính quyết định đến việc
lựa chọn này:
a) Tập quán canh tác của người dân vùng núi Nghệ An
Cũng như các cộng đồng dân cư canh tác nương rẫy khác, tập quán canh
tác nương rẫy của người dân vùng núi tỉnh Nghệ An là canh tác sau một thời
24
gian đến khi năng suất cây trồng giảm sút sẽ bỏ hóa để đất phục hồi lại sức
sản xuất dựa vào quá trình tái sinh tự nhiên của thảm thực vật.
Trong canh tác nương rẫy truyền thống hay rẫy cố định như hiện nay,
người dân không bón thêm bất cứ loại phân nào. Các biện pháp kỹ thuật trong
trồng lúa cũng chỉ bao gồm các hoạt động phát dọn, đốt, chọc lỗ tra hạt, làm
cỏ 1 – 2 lần, thu hoạch. Đối với một số loại cây, như sắn, người dân ở nhiều
nơi còn không làm cỏ lần nào, chỉ trồng và thu hoạch. Điều này có nghĩa, nếu
đưa ra một giải pháp kỹ thuật phức tạp sẽ là không thực tiễn và chẳng ai áp
dụng.