1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu
mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp
giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân
lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động,
đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm
cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới
căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo” đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển
năng lực…”. Để thực hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi giáo viên phải luôn tích cực
nghiên cứu và vận dụng có hiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực;
chú trọng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; phát huy tính chủ
động, sáng tạo và nâng cao hứng thú học tập cho học sinh. Qua đó, mong muốn
phát triển thế hệ mới năng động, sáng tạo nhằm tạo ra nguồn lực nội sinh cho mỗi
con người đồng thời tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy theo yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học với định hướng “lấy học sinh làm trung tâm”; nhằm mục
đích phát triển năng lực cho học sinh, là giáo viên dạy môn Toán tôi luôn xác định
rằng: cần phải năng động, sáng tạo và linh hoạt trong sử dụng các phương pháp,
hình thức dạy học, phải khơi dậy được ở người học niềm đam mê hứng thú với tiết
học, môn học như Bác Hồ đã từng dạy: “Siêng học tập thì mau biết, siêng nghĩ
ngợi thì hay có sáng kiến”; “các thầy nên thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu,
dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực” và trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi
đồng toàn quốc Bác cũng yêu cầu “Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui,
trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học”[8] mới tạo được hứng thú học tập, phát
triển được năng lực người học và đạt được mục tiêu giáo dục như mong muốn.
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong nghị quyết
TW 4 khóa VII (1/ 1993), nghị quyết TW 2 khóa VIII (12/ 1996), được thể chế hóa
trong luật giáo dục (12/ 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4/ 1999) [4]
Dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trong nhà
trường THPT là mục tiêu đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay. Luật giáo dục điều
28 đã ghi rõ: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
[4].
Muốn tạo ra được sự thống nhất giữa nhận thức và hành động theo nguyên lý
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn”[4], trong giảng dạy môn Toán ngoài việc người thầy phải đảm bảo cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ bản gắn liền với những kỹ năng giải quyết nhanh
bài toán, tránh những sai lầm thường gặp thì người thầy cần phải khơi dậy được sự
hứng thú học tập cho học sinh; bởi lẽ khi học sinh hứng thú với bài học thì không
khí thi đua học tập sôi nổi, tích cực, học sinh say mê học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu,
chủ động và sáng tạo.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và giáo dục địa phương:
Trường THPT Triệu Sơn 3 ở phía tây Huyện Triệu Sơn, địa bàn tuyển sinh của
Trường là 9 xã thuần nông (4 xã miền núi và vùng đặc biệt khó khăn V134, V135).
Kinh tế chung của địa phương khó khăn, phần lớn bố mẹ của học sinh đều làm
khai thác các vấn đề mới từ những cái đã biết, đã học. Còn các em như Lê Huy
Linh, Lê Huy Thành, Hà Thọ Nguyên Việt, Trần Thị Lệ,.. là học sinh có khả năng
tiếp thu bài nhưng do chưa hứng thú học, lười suy nghĩ, chưa tích cực trong học tập
nên “học trước quên sau”.
Điều này thể hiện rõ ở kết quả học tập của các em:
Điểm tổng kết môn Toán năm học lớp 10
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
40
1
2,5%
10
25%
22
55%
7
17,5%
0
0%
Điểm khảo sát môn Toán đầu năm học lớp 11
Sĩ số
Điểm 9-10
Điểm 7 đến
Điểm 5 đến
Điểm 3 đến
Dưới 3
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Cấp số cộng”, để kích kích trí tò mò, kích thích sự hứng
thú học tập của học sinh, tôi đã lấy ví dụ sau:
Khi ký hợp đồng dài hạn với các kỹ sư được tuyển dụng, công ty liên doanh A
đề xuất 2 phương án trả lương để người lao động tự lựa chọn, cụ thể:
4
- Phương án 1: Người lao động sẽ nhận được 60 triệu đồng cho năm làm việc
đầu tiên, và kể từ năm làm việc thứ hai , mức lương sẽ được tăng thêm 6 triệu đồng
mỗi năm.
- Phương án 2: Người lao động sẽ được nhận 12 triệu đồng cho quý làm việc
đầu tiên, và kể từ quý làm việc thứ hai, mức lương sẽ được tăng thêm 1 triệu đồng
mỗi quý.
Nếu em là người ký hợp đồng lao động với công ty liên doanh A thì em sẽ chọn
phương án nào?[1].
Qua ví dụ này, đa số các em học sinh cảm thấy băn khoăn trong việc lựa chọn
phương án, và có em còn hỏi cô giáo “nên chọn phương án nào cô?”. Từ cái băn
khoăn đó tôi đã dẫn các em vào nội dung bài học mới “Cấp số cộng”.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Cấp số nhân”, để kích kích trí tò mò, kích thích sự hứng
thú học tập của học sinh, tôi đã lấy một ví dụ dưới dạng mẫu chuyện sau:
“ Tương truyền vào một ngày nọ, có một nhà toán học đến gặp một nhà tỷ phú và
đề nghị được “bán” tiền cho ông ta theo thể thức sau: Liên tục trong 30 ngày, mỗi
ngày nhà toán học “bán” cho nhà tỷ phú 10 triệu đồng với giá một đồng ở ngày
đầu tiên và kể từ ngày thứ hai, mỗi ngày nhà tỷ phú phải “mua” với giá gấp đôi
giá của ngày hôm trước. Không một chút đắn đo, nhà tỷ phú đồng ý ngay tức thì,
lòng thầm cảm ơn nhà toán học nọ đã mang lại cho ông ta một cơ hội hốt tiền
“nằm mơ cũng không thấy”. Hỏi nhà tỷ phú đã lãi được bao nhiêu trong cuộc mua
– bán kì lạ này? [1].
Qua ví dụ này, nhiều học sinh cho rằng nhà tỷ phú lãi lớn trong cuộc mua –
Tuy nhiên, nếu số phần tử của một tập hợp rất lớn thì cách đếm trực tiếp là không
khả thi. Ở bài học này sẽ giúp chúng ta có thể tính chính xác số phần tử của một
tập hợp mà không cần đếm trực tiếp.
Ví dụ 4: Khi dạy bài “Biến cố và xác suất của biến cố” để kích thích sự chú ý,
hứng thú học tập của học sinh, tôi đã đưa ra bài toán thực tế sau:
Lô đề là một trò chơi cờ bạc khá nổi tiếng. Người chơi đăng ký một số bất kỳ
từ 00 đến 99. Người chơi thắng khi con số họ chọn trùng với hai chữ số cuối cùng
của giải đặc biệt của xổ số kiến thiết hằng ngày. Nếu thắng thì người chơi được số
tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra. Luật chơi như thế liệu nhà cái có lỗ không?
Từ đây, tôi nêu vấn đề đặt ra: Muốn biết trong trò chơi này ai thiệt ai lợi thì
hãy xem xác suất người chơi thắng trong trò chơi này là như thế nào? Thế cách
tính xác suất như thế nào? Để trả lời được các câu hỏi đó thì cô trò ta cùng nhau
nghiên cứu bài “Biến cố và xác suất của biến cố”
Với cách giới thiệu bài mới trên đã gây được sự chú ý và hứng thú học tập cho
học sinh. Các em thực sự đã bị cuốn hút vào bài học và rất hào hứng chờ đợi những
bài học mới. Đồng thời đã huy động được tính tích cực của hầu hết học sinh trong
cả lớp, em nào cũng phải suy nghĩ, động não và hoạt động kể cả những học sinh có
học lực trung bình, yếu; phát triển được năng lực tư duy logic, năng lực hợp tác làm
việc nhóm qua việc các em trao đổi nội dung kiến thức với nhau, từ đó phát huy
được những năng lực cơ bản của con người mới trong thời kỳ hội nhập và phát
triển.
2.3.2. Tạo hứng thú, tự tin sẵn sàng trong học tập cho học sinh bằng cách
tổ chức các hình thức trò chơi kết hợp với các phương pháp, kỹ thuật dạy học
tích cực:
Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí, vừa là một phương pháp giáo dục. Sử
dụng hình thức trò chơi kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
khác trong dạy học môn Toán có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện
nay,...Sử dụng hình thức trò chơi trong tiết dạy sẽ “xóa tan” đi áp lực học tập căng
thẳng, tạo ra một môi trường học tập thân thiện, vui vẻ, thoải mái và đầy thú vị,
cuốn hút được mọi đối tượng học sinh tham gia; các em sẽ chú ý hơn, chủ động
yếu vượt qua những khó khăn, vướng mắc. Sau 10’, GV gọi học sinh lên bảng trình
bày bài, (thường ưu tiên học sinh có lực học còn yếu lên bảng trình bày bài tập ở
mức độ nhận biết hoặc thông hiểu). Các học sinh còn lại theo dõi kết quả của bạn
để nhận xét đánh giá.
Giáo viên kiểm tra, sửa sai và tùy theo mức độ mà cho điểm những em học
sinh này một cách hợp lí.
Câu hỏi, bài tập luyện tập (phụ lục1) [2].
Ví dụ 2: Ở tiết ôn tập chương I: “Hàm số lượng giác và phương trình lượng
giác”, tôi chia lớp thành 6 nhóm học tập (chia theo khu vực địa lý để đảm bảo
nhóm nào cũng có học sinh khá, giỏi ).
GV chuẩn bị 5 gói câu hỏi để củng cố, ôn tập kiến thức của chương.
Gói 1: Gồm 5 câu hỏi về tập xác định của hàm số lượng giác.
Gói 2: Gồm 5 câu hỏi về tính chẵn – lẻ, chu kỳ của hàm số lượng giác.
Gói 3: Gồm 5 câu hỏi về tập giá trị của hàm số lượng giác.
Gói 4: Gồm 5 câu hỏi về phương trình lượng giác cơ bản.
Gói 5: Gồm 5 câu hỏi về phương trình lượng giác thường gặp. [1]
Cho học sinh chọn gói câu hỏi; các nhóm cùng làm, học sinh trong nhóm thảo
luận với nhau, thời gian thảo luận mỗi gói câu hỏi là 5 phút. Những em học sinh
khá giỏi trong nhóm có trách nhiệm giúp các bạn có lực học yếu hơn nhớ lại những
kiến thức đã học, từ đó củng cố và khắc sâu kiến thức, biết vận dụng kiến thức để
làm các bài tập.
Giáo viên gọi một học sinh của một nhóm trả lời câu hỏi của gói 1, học sinh
các nhóm còn lại lắng nghe và nhận xét ( ưu tiên cho học sinh có lực học TB, yếu;
7
những học sinh ở nhóm khác nhận xét đúng vẫn cho điểm). Tùy vào mức độ mà
giáo viên cho điểm học sinh một cách hợp lý.
Câu hỏi của từng gói (phụ lục 2)
8
Ví dụ 1: Sau khi học xong nội dung kiến thức “Hoán vị - Chỉnh hợp – Tổ
hợp”, tôi đã lấy ví dụ thực tế gắn liền với kế hoạch hoạt động của Đoàn trường như
sau:
Kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/193126/3/2016), Trường THPT Triệu Sơn 3 tổ chức giải bóng đá học sinh THPT và có
16 lớp đăng ký tham gia đá theo 3 vòng gồm 4 bảng A, B, C, D, mỗi bảng gồm 4
đội, cách thức thi đấu như sau :
Vòng 1: mỗi đội tuyển trong cùng một bản gặp nhau một lần và gặp tất cả các
đội có trong bảng (ví dụ bảng A đội thứ nhất phải thi đấu với 3 đội còn lại).
Vòng 2 ( bán kết ): Nhất A gặp nhất C
Nhất B gặp nhất D
Vòng 3 ( chung kết ): Giải 3: hai đội thua trong bán kết
Tranh giải nhất : hai đội thắng trong bán kết
Giải bóng được tổ chức vào các ngày liên tiếp, mỗi ngày 4 trận. Hỏi ban tổ
chức cần mượn sân vân động trong bao nhiêu ngày.
Số ngày mượn sân vận động phụ thuộc vào số trận đấu được tổ chức. Do đó
cần tính số trận đấu có thể diễn ra:
Phương án giải quyết:
Số các trận đấu trong cùng một bảng là: C42
Do vậy số trận đấu trong vòng 1 là 4.C42 =24 (trận)
Số trận đấu vòng 2 là 2
Số trận đấu vòng 3 là 2.
Vậy số trận đấu có khả năng xảy ra là 24 + 2 + 2 = 28 (trận)
Do vậy BTC cần muợn sân vận động trong thời gian 28 : 4 = 7 ngày
Ví dụ 2: Sau khi học xong bài “Biến cố và xác suất của biến cố”, tôi đã lấy
một ví dụ thực tế, thông qua ví dụ này tôi cũng giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh, ngăn ngừa các vấn đề xã hội, giảm bớt tệ nạn xã hội.
Ví dụ: Trong trò chơi chọn bóng người chủ trò chơi tay cầm túi vải trong túi
= 0,002
Xác suất chọn 6 quả cùng màu là :
924
72
= 0,0078
Xác suất chọn 5 đen 1 trắng hoặc 5 trắng 1 đen là :
924
450
= 0, 487
Xác suất chon 4 trắng 1 đen hoặc 4 đen 1 trắng là: :
924
400
= 0, 433
Xác suất chọn 3 trắng, 3 đen là:
924
Do vậy nếu bỏ ra 20.000đ thì khả năng người chơi thu được là (50,000.0,002 +
2000.0,0078 + 200.0,487).10 = 4534 đồng
Người chủ trò thu được 16560đ
Vậy rõ ràng người chơi luôn thua.
Ví dụ 3: Khi học xong kiến thức về cấp số cộng, cấp số nhân tôi lấy cho học
sinh làm bài toán thực tế sau:
Bài toán: Nhà ông Nam muốn khoan một giếng sâu 35m để lấy nước dùng cho
sinh hoạt của gia đình. Ông đã tìm hiểu tiền công khoan giếng ở 2 cơ sở khoan
giếng và được biết:
Cơ sở 1: Giá của mét khoan đầu tiên là 20 nghìn đồng và kể từ mét khoan thứ
hai, giá của mỗi mét tăng thêm 2 nghìn đồng so với giá của mét khoan ngay trước
nó.
Cơ sở 2: Giá của mét khoan đầu tiên là 16 nghìn đồng và kể từ mét khoan thứ
hai, giá của mỗi mét sau tăng thêm 7% giá của mét khoan ngay trước nó
Hiện tại ông Nam đang băn khoăn không biết chọn cơ sở nào vì chất lượng
thức tốt hơn nếu trong giờ học có sự xen kẽ nhau giữa các hoạt động dạy học.
Ví dụ 1: Khi dạy nội dung các tính chất cơ bản của số Cnk tôi chuẩn bị các
phiếu học tập có nội dung như sau:
Phiếu số 1: Nối kết quả ở cột (1) với kết quả cột (2) để được đẳng thức đúng.
(1)
(2)
1. C93
a. C1010
2. C100
3. Cnk +1
b. Cnn−k +1
c. C157
4. C158
5. Cnk −1
d. C96
e. Cnn−k −1
f. Cnn−k
Phiếu số 2: Nối kết quả ở cột 1 với kết quả cột 2 để được đẳng thức đúng.
(1)
(2)
3
4
1. C8 + C8
a. C157
2. C154 + C1510
3. C137 + C125 + C126
π
A. cos x
B. cos( x + )
C. sin( x + )
D. sin x
4
4
2. Đạo hàm của hàm số y = cos 2 x là:
A. − sin 2x
B. 2sin 2x
C. sin 2x
D. −2sin 2x
π
3. Đạo hàm của hàm số y = sin 3 ( − x) là:
4
π
π
A. cos3 ( − x)
B. − cos3 ( − x)
4
4
π
π
π
π
C. −3sin 2 ( − x).cos( − x)
D. 3sin 2 ( − x).cos( − x) [2].
4
4
4
câu trả lời.
- Học sinh có nhu cầu giải quyết vấn đề, họ không thể chấp nhận để nguyên
nhân sai lầm mà không sửa chữa.
- Vấn đề này liên quan đến những kiến thức sẵn có của họ, không có gì vượt
quá yêu cầu, họ thấy nếu tích cực suy nghĩ vận dụng kiến thức đã học thì có thể tìm
ra nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm.
Qua ví dụ này GV hướng dẫn học sinh phân tích bài toán theo sơ đồ “tư duy”
VD sơ đồ phân tích cho bài toán:
Số cách
chọn 7
học sinh
giỏi bất
kỳ
Số cách chọn 7 học sinh giỏi
chỉ có ở 2 khối:
Số cách chọn 7 học sinh giỏi
có ở cả 3 khối:
Ví dụ
2: Sau khi học xong “Khái niệm của đạo hàm”, tôi cho học sinh giải quyết ví dụ
sau:
x + 1 khi x > 2
Ví dụ: Khi tính đạo hàm của hàm số f ( x) = 2
tại x = 2 , bạn
x − 3x khi x ≤ 2
Nam giải như sau:
Với x ≤ 2 thì f '( x) = ( x 2 − 3x)' = 2 x − 3 ⇒ f '(2− ) = 1
2
Ví dụ 2: Đun nóng hỗn hợp gồm glixerol và 3 axit béo: panmitic, linoleic,
stearic. Số trieste tối đa thu được là bao nhiêu? [6]
Phân tích lời giải bài toán: Có 3 trường hợp xảy ra:
TH1: este tạo bởi 1 loại axít béo. Số este là: C31 = 3
TH2: este tạo bởi 2 loại axít béo.
-Số cách chọn 2 loại axít béo trong 3 loại axít béo là: C32
- Giả sử 2 axít được chọn là: R1COOH và R2COOH , có 2 khả năng :
R1COO
R1COO
+ 2 gốc R1 , 1 gốc R2 ⇒ có 2 este là: R1COO và R2COO
R2COO
R1COO
+ 2 gốc R2 , 1 gốc R1 ⇒ có 2 este ( tương tự như trên)
Suy ra : với 2 axít được chọn thì tạo được 4 este.
Theo quy tắc nhân, trong trường hợp này thì số este được tạo thành là :
2
4.C3 = 12
TH3 : este tạo bởi cả 3 axít béo. Các este chỉ khác nhau ở axít nằm giữa nên
có 3.C33 = 3 este.
Vậy số este tối đa thu được là : 3 + 12 + 3 = 18 este
Ví dụ 2: Sau khi học xong bài “Các quy tắc tính xác suất”, để học sinh thấy rõ
vai trò của môn Toán đối với các môn học khác, tôi đã lấy một ví dụ của môn Sinh
học sử dụng kiến thức xác suất để giải quyết.
Ví dụ: Ở một loài thực vật P: cao × cao → F1 : 3 cao, 1 thap
a. Chọn ngẫu nhiên 3 cây còn non ở F1 , tính xác suất để có:
- 3 cây cao
- 1 cây cao, 2 cây thấp
- ít nhất 1 cây cao
b. Chọn ngẫu nhiên 5 cây cao ở F1 , tính xác suât để:
1
Xác suất chọn được ít nhất 1 cây cao là: 1 − ÷
4
b. Trong số cây cao: có 1 cây đồng hợp và 2 cây dị hợp.
1
Xác suất chọn được 1 cây cao đồng hợp:
3
1 2
Xác suất chọn được 1 cây cao dị hợp 1 − =
3 3
Biến cố chọn cây cao đồng hợp và biến cố chọn cây cao dị hợp là 2 biến cố
độc lập nên:
4
4 1 2
Xác suất chọn được 4 cây cao đồng hợp, 1 cây cao dị hợp là: C5 . ÷ .
3 3
5
5
1 1
Xác suất chọn được 5 cây cao đồng hợp là: C . ÷ = ÷
3 3
Ví dụ 3: Sau khi học xong tiết 80: “Đạo hàm của hàm số lượng giác”, tôi lấy
ví dụ của môn Vật lý sử dụng kiến thức đạo hàm và phương trình lượng giác để
giải quyết.
π
Ví dụ: Một dao động điều hòa theo phương trình: x = 10.cos(4π t − )
3
( x: tính bằng cm, t: tính bằng giây). Tìm thời điểm vật qua vị trí x = 5cm theo
)
=
π
π
3
3
2
⇔
⇒ (4π t − ) = − + k 2π
3
3
v = −4π .10.sin(4π t − π ) > 0 sin(4π t − π ) < 0
3
3
1
Suy ra t = k với k ∈ { 0,1,2,3,4,.....}
2
Ở lần thứ 2017 nên k = 2016 . Vậy t = 1008s
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Cơ sở kiểm nghiệm
Sử dụng:
- Kết quả trước tác động là điểm tổng kết môn Toán năm học lớp 10, điểm
khảo sát kiến thức đầu năm lớp 11
- Kết quả trong thời gian đang tác động là điểm tổng kết môn Toán học kỳ I
0%
Điểm 7 đến
dưới 9
10
25%
Điểm 5 đến
dưới 7
14
35%
Điểm 3 đến
dưới 5
15 37,5%
Dưới 3
1
2,5%
Mức độ hứng thú của học sinh của học sinh lớp 10C4 khi học môn Toán
Năm học 2015-2016
Mức độ hứng thú
Rất thích
Bình thường
Không thích
Tổng
17 42,5%
4
10%
2.4.1.3. Sau tác động
Điểm tổng kết môn Toán năm học 2016 – 2017 của lớp 11C4
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
40
3
7,5%
26
65%
11 27,5%
0
0%
Kém
0
0%
Kém
0
0%
Mức độ hứng thú của học sinh của học sinh lớp 11C4 khi học môn Toán
Năm học 2016-2017
Mức độ hứng thú
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
của nhà trường.
2.4.2.2. Về thực tiễn
- Học sinh có kỹ năng phân tích một bài toán, quy lạ về quen, khai thác các
tính chất cơ bản, các kỹ năng giải toán tối ưu.
- Học sinh hứng thú và chủ động khai thác kiến thức.
- Học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt.
- Đa số học sinh đã thực hiện các nội dung theo yêu cầu câu hỏi.
- Các em học sinh đã tìm được niềm đam mê thực sự trong học tập môn Toán
và thấy rằng không chỉ học để thi mà còn học để vận dụng vào thực tế của cuộc
sống.
17
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Sau khi triển khai các giải pháp đã nêu tôi thấy: Các em học sinh đã hứng
thú hơn trong học tập, chủ động trong việc học tập, tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu
kiến thức và rèn luyện kỹ năng; nhiều em đã phát huy tối đa được tính sáng tạo và
nhạy bén trong tư duy, tự tìm tòi kiến thức, có sự say mê trong học tập và nghiên
cứu. Kết quả học tập của các em học sinh có sự tiến bộ rõ rệt.
Đồng thời sau thời gian áp dụng các phương pháp trên tôi nhận thấy chất lượng
dạy và học của nhà trường nói chung và của môn Toán học nói riêng ngày càng
được nâng cao, chất lượng giáo dục ngày càng có sự chuyển biến rõ rệt. Vị thế của
nhà trường được xã hội ghi nhận.
3.2. Kiến nghị
Đối với giáo viên, phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về công
nghệ thông tin, biết khai thác thông tin trên mạng Internet, có kĩ năng sử dụng
thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại. Đặc biệt phải biết phát huy các tính