Kinh nghiệm trang bị kiến thức lí luận văn học nhằm giải quyết khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận văn học, nâng cao hiệu quả bồi dư - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
1.3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

TRANG
1
1
1
2
2
2
2
3
3
19
20
20
20


thống kiến thức lí luận văn học để bài viết của các em đủ độ “dày” hơn, lập luận
sâu sắc hơn, có như vậy thì bài viết mới có sức thuyết phục. Trao đổi với học sinh
về khó khăn của các em khi làm các đề thi học sinh giỏi, các em đều có chung ý
kiến rằng còn lúng túng khi gặp các dạng đề lí luận văn học vì thiếu kiến thức lí
luận văn học, các em thường đi vào chứng minh vấn đề nghị luận bằng cảm tính
mà bỏ qua phần lí luận. Tôi cho rằng đó cũng là một trong những lí do cơ bản
khiến kết quả thi học sinh giỏi chưa cao cho dù học sinh diễn đạt rất tốt, thẩm bình
rất hay. Tôi nghĩ đến việc trang bị kiến thức lí luận văn học cho học sinh ngay từ
khi mới lựa chọn đội tuyển với hi vọng sẽ cải thiện được chất lượng giải học sinh
giỏi. Bởi vậy, tôi chọn đề tài: Kinh nghiệm trang bị kiến thức lí luận văn học
nhằm giải quyết khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận văn học, nâng
cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trung học phổ thông làm
sáng kiến kinh nghiệm của mình trong năm học 2016 – 2017.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Tôi thực hiện đề tài này nhằm hướng tới một số mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Cung cấp, trang bị thật tốt kiến thức lí luận văn học - một mảng
kiến thức cần có đối với học sinh giỏi môn Ngữ văn.
Thứ hai: Giải quyết khó khăn của học sinh vì thiếu kiến thức lí luận khi làm
các đề thi học sinh giỏi. Học sinh có nền tảng lí luận vững chắc sẽ không còn
2


“ngại”, lúng túng khi gặp các dạng đề liên quan đến lí luận văn học – dạng đề
thường thấy trong các đề thi học sinh giỏi.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Xây dựng đề tài này, tôi tập trung vào nghiên cứu cách trang bị kiến thức lí
luận nhằm nâng cao hiệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn, giải quyết khó
khăn của học sinh khi gặp các dạng đề lí luận văn học.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

luận văn học.
3


2.2. THỰC TRẠNH CỦA VẤN ĐỀ KHI CHƯA ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.
Như trên đã đề cập đến tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học đối với
học văn, đọc văn, cảm thụ văn chương; càng quan trọng hơn với học sinh giỏi môn
Văn. Nhưng thực tế chương trình sách giáo khoa hiện nay những bài học lí luận
còn quá ít. Như vậy là chưa đủ đối với học sinh giỏi trong khi đề thi đề cập đến hầu
hết các phạm trù lí luận văn học.
Những năm học trước, khi chưa áp dụng đề tài này, bồi dưỡng học sinh giỏi
mới chỉ tập trung vào hệ thống kiến thức các tác phẩm, tác giả văn học, việc trang
bị kiến thức lí luận còn sơ sài dẫn đến hiệu quả chưa cao, chất lượng giải còn hạn
chế. Cụ thể:
- Năm học 2011-2012: 02 học sinh dự thi đạt 02 giải khuyến khích.
- Năm học 2012-2013: 02 học sinh dự thi đạt 02 giải ba.
- Năm học 2015-2016: 02 học sinh dự thi đạt 01 giải nhì, 01 giải khuyến
khích.
(Thống kê này là kết quả thi học sinh giỏi của học sinh bản thân tôi phụ trách,
không phải kết quả môn Ngữ văn của cả trường)
Từ kết quả trên cho thấy, mặc dù vẫn đảm bảo số lượng giải nhưng chất lượng
giải nhìn chung chưa cao.
Trao đổi với học sinh về khó khăn khi giải quyết các dạng đề thi học sinh
giỏi các em học sinh của đội dự tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn đều có chúng ý
kiến rằng rất lúng túng khi gặp các dạng đề thi học sinh giỏi vì đó đều là dạng đề lí
luận văn học trong khi bản thân lại không đủ hiểu biết về mảng kiến thức này.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
2.3.1. Tìm hiểu, trao đổi với học sinh về các vướng mắc khi làm các dạng đề lí
luận văn học để cung cấp kịp thời những kiến thức còn thiếu hụt của học sinh.
Qua tìm hiểu, trao đổi với học sinh về những khó khăn khi làm các dạng đề

Các sách viết về lí luận văn học thường đề cập vấn đề ở lí thuyết khái quát
nên có phần khô khan và hàn lâm, đôi khi khó hiểu, nếu giáo viên cung cấp kiến
thức theo kiểu “bê nguyên si” từ sách vở đến học sinh thì không tránh khỏi việc
học sinh chán học văn, ngại phần lí luận. Vì vậy, từ kiến thức sách vở, giáo viên
phải chuyển hóa thành các bài giảng sinh động, kết hợp giữa lí thuyết và dẫn chứng
cụ thể chứng minh cho lí thuyết. Thêm những lời bình, sự đánh giá giàu cảm xúc
văn học để học sinh hứng thú với vấn đề lí luận mà giáo viên truyền đạt.
Vấn đề 1: Chức năng của văn học.
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích, ý nghĩa xã hội của văn
học. Mĩ học và lí luận nghệ thuật macxít hiện nay cho rằng văn học có nhiều chức
năng song tựu chung lại nó có các chức năng chủ yếu sau đây: Chức năng nhận
thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ.
+ Chức năng nhận thức (còn gọi là chức năng phản ánh của văn học).
Văn học với chức năng nhận thức, phản ánh có thể đưa lại cho con người
biết bao tri thức. Văn học có thể đưa ta về với quá khứ xa xưa, làm sống lại trong
ta hình ảnh các phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ, niềm vui nỗi buồn, cái
sướng cái khổ, lời ăn tiếng nói…; tóm lại là đời sống tinh thần và đời sống vật chất
của cha ông, của nhân loại bao đời nay. Người ta nói: Văn học là bộ Bách khoa
toàn thư về cuộc sống là vì vậy.
Nội dung chính của chức năng nhận thức văn học là nhận thức về con người.
Ý nghĩa nhận thức về con người của văn học bộc lộ trong nhiều mặt khác nhau:
trong việc khám phá ra tính cách xã hội điển hình của một giai đoạn, một xã hội,
một tầng lớp nào đó (ví dụ: Chí Phèo, chị Dậu…); trong những lí giải về số phận
con người (như Truyện Kiều, Chiến tranh và hòa bình…); và đặc biệt là sự thâm
nhập vào thế giới bên trong của con người, vào các quá trình tư duy và tình cảm
con người. Nghệ thuật không giải phẫu cơ thể nhưng nó là sự giải phẫu tinh thần
con người, đi vào những ngõ ngách tâm hồn con người, cao hơn là giúp con người
5



+ Chức năng thẩm mĩ.
Nhìn chung chức năng thẩm mĩ của văn học bộc lộ ở chỗ nó có nhiệm vụ
thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Cần hiểu rằng nhu cầu hưởng thụ cái
đẹp là nhu cầu rất tự nhiên, mang tính bản chất của con người. Dù ở đâu, làm gì,
khi nào con người cũng luôn có xu hướng vươn tới cái đẹp. Thỏa mãn nhu cầu về
cái đẹp không phải chỉ riêng văn học nhưng văn học thiên về cái đẹp nhiều hơn cả.
Nhà mĩ học, nhà phê bình văn học nổi tiếng nước Nga Biêlinxki đã nói: “Cái đẹp
là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và
không thể có nghệ thuật. Đó là một định lý”.
Văn học thể hiện chức năng thẩm mĩ, nghĩa là đưa cái đẹp đến với đến với
con người thông qua hình tượng nghệ thuật. Mỗi hình tượng nghệ thuật trong tác
6


phẩm văn học là kết quả sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau quá trình công phu
nhào nặn chất liệu tự nhiên. Một Nguyễn Bá Ngọc dũng cảm cứu bạn thoát chết
khỏi bom Mĩ nhưng mình lại hy sinh. Một Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ
châu mai cho bộ đội ta tiến lên diệt giặc Pháp. Một cuộc đời “nâng niu tất cả chỉ
quên mình" của Bác Hồ. Một tiếng thét “Anh em ơi tuốt gươm ra” để giành lại Tổ
quốc của Phan Bội Châu. Một tiếng chửi của Hồ Xuân Hương “Chém cha cái kiếp
lấy chồng chung”. Một tiếng chim chiền chiện hót trên cao. Một áng mây chiều
nhè nhẹ trôi trên bầu trời. Tất cả đều đẹp! Văn học sẽ giúp ta nhận ra cái đẹp đó.
Mặt khác, thấy Sở Khanh ta ghét, Bá Kiến ta thù…Cái ghét cái thù đó cũng đưa ta
đến với cái đẹp bằng con đường phản cảm. Đưa con người đến với cái đẹp, lí luận
coi đó là chức năng thẩm mĩ của văn học.
Vấn đề 2: Phong cách văn học.
* Khái niệm phong cách văn học.
“Thế giới không được tạo lập một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo
xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Mác xen Prút). Chính cái độc đáo
ấy đã tạo nên phong cách văn học, dấu hiệu trưởng thành về bản lĩnh nghệ thuật

độc đáo bởi cách nhìn, cách cảm thụ có tính khám phá, ở giọng điệu riêng biệt:
Một Thạch Lam “duy cảm” – phám phá con người ở đời sống nhạy cảm của tâm
hồn với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh, tinh tế; một Nguyễn Tuận
“duy mĩ” – luôn nhìn con người ở phẩm chất tài hoa, nhân cách; một Nam Cao
“duy lí” – tiếp cận con người ở đời sống nội tâm, diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp,
khám phá “con người bên trong con người”…
Phong cách văn học là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác. Cái độc
đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững,
nhất quán trong nhiều tác phẩm thì mới tạo nên phong cách. Thống nhất từ cốt lõi
nhưng triển khai phải đa dạng, đổi mới (ví dụ: Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình
Ngô, Quân trung từ mệnh tập rất hào hùng đanh thép, nhưng trong Quốc âm thi
tập lại u hoài, trầm lắng, suy tư. Hồ Chí Minh trong truyện và kí thì hiện đại,
nhưng thơ chữ Hán lại giàu sắc thái phương Đông cổ kính, thơ tiếng Việt đậm cốt
cách dân gian…)
Độc đáo, đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới, nhưng phong cách còn phải có
phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm
dồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, hay, sinh động, hấp dẫn. Chỉ khi
đó dấu ấn của phong cách trong quá trình văn học mới được ghi nhớ mãi mãi, nói
một cách hình ảnh như nhà thơ Lê Đạt:
Mỗi công dân đều có một dạng vân tay
Mỗi nhà thơ thứ thiệt có một dạng vân chữ
Không trộn lẫn.
(Vân chữ)
Vấn đề 3: Tiếp nhận văn học.
* Tiếp nhận trong đời sống văn học:
Bên cạnh hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để tồn tại và phát triển, loài
người còn có hoạt động sản xuất rất quan trọng đó là sản xuất ra của cải tinh thần.
Văn chương nghệ thuật là một trong những dạng sản xuất của cải tinh thần của con
người. Quá trình sản xuất ra của cải tình thần – tác phẩm nghệ thuật diễn ra như thế
nào? Phải chăng khi nhà văn nung nấu ý đồ rồi lập sơ đồ, viết, sửa chữa và hoàn

trong xã hội, trong từng người đọc:
“ Rồi tác phẩm rời anh như con thuyền rời bến.
Sống cuộc đời riêng anh không dự kiến.
Nó trôi đến các thời gian xa, những năm tháng mơ hồ
Với ngọn gió anh thổi vào buồm trang giấy lúc xa bờ”.
(Con thuyền – Chế Lan Viên)
* Bàn về sự đồng cảm giữa nhà văn và bạn đọc.
M.Gorki từng khẳng định: “Người tạo ra tác phẩm là tác giả nhưng người
quyết định số phận tác phẩm là độc giả”. Tác phẩm văn chương chỉ sống được
trong tấc lòng của người tri kỉ - là bạn đọc. Thế nhưng không phải bạn đọc nào
cũng hiểu được tác phẩm, hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tác giả. Thực tế văn
học đã có biết bao chuyện đáng buồn: Người đọc hiểu hoàn toàn sai lệch giá trị của
tác phẩm và tư tưởng của nhà văn. Cho nên ở bất cứ thời đại nào, bất cứ nền văn
học của dân tộc nào cũng đều rất cần tiếng nói tri âm của bạn đọc dành cho tác giả.
Tiếp nhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp. Sự giao tiếp giữa tác giả với
người tiếp nhận là mối quan hệ giữa người nói với người nghe, người viết và người
đọc, người bày tỏ và người sẻ chia cảm thông. Bao giờ người viết cũng mong
người đọc hiểu mình, cảm nhận được những điều mình muốn gửi gắm, kí thác.
Thế nhưng cơ sở nào đem lại sự cảm thông, chia sẻ giữa người đọc và người
viết? Trước hết cần được bắt đầu bằng qui luật sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ
cầm bút trước tiên là để giải bày lòng mình. Khi những trăn trở, suy nghĩ, day dứt,
dằn vặt, vui hay buồn không thể nói với ai thì người nghệ sĩ tìm đến văn học, bởi
“thơ là tiếng lòng”, là tiếng nói hồn nhiên nhất của trái tim. Người nghệ sĩ sáng tác
9


trước hết là cho chính mình và cho những người thực sự hiểu mình mà thôi. Phải
chăng vì vậy mà khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến đã đắn đo: “Câu thơ nghĩ
đắn đo không viết/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa”. Thế nhưng thơ là “tiếng nói đồng
điệu đi tìm những tâm hồn đồng điệu”. Nhà thơ đồng thời là bạn đọc thơ, như Tế

Những câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?
luôn là những câu hỏi mà mỗi người nghệ sĩ ngôn từ cần đặc biệt quan tâm mỗi khi
cầm bút.
Như vậy, tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dân
tộc nào, thời đại nào cũng hướng tới. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với nghệ sĩ phải
10


sáng tác những tác phẩm bằng những cảm xúc chân thành nhất, da diết nhất, hướng
tới và ngợi ca những giá trị Chân Thiện Mĩ muôn đời. Và người đọc, hãy sống hết
mình với tác phẩm để hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tác giả, để chia sẻ, cảm
thông, thấu hiểu nỗi lòng, những khát vọng tác giả gửi gắm. Mỗi người hãy rung
lên khúc đàn Ba Nha và Chung Tử Kì để văn chương mãi mãi tươi đẹp, kì diệu.
Vấn đề 4: Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.
* Sự hài hòa máu thịt giữa nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật.
Nội dung và hình thức vốn là một phạm trù triết học liên quan đến mọi hiện
tượng trong đời sống. Hình thức tất yếu phải là hình thức của một nội dung nhất
định và nội dung bao giờ cũng là nội dung được biểu hiện qua một hình thức.
Không thể có cái này mà không có cái kia và ngược lại. Tác phẩm nghệ thuật là
một hiện tượng xã hội, cho nên trong những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, nội
dung và hình thức luôn luôn thống nhất khăng khít với nhau. Có lẽ không ai diễn
đạt sự thống nhất chặt chẽ này ấn tượng hơn nhà phê bình văn học Nga Biêlinxki:
“Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một
cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức cũng có nghĩa là
hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy”. Ông cho rằng: “Khi hình thức là biểu
hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức nếu nó tách khỏi nội dung
có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung; và ngược lại, nội dung tách khỏi hình
thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức”
Trong tác phẩm văn học, hình thức là cái để biểu hiện nội dung, hình thức
phải phù hợp với nội dung. Mối quan hệ này bắt nguồn từ chỗ nhà văn có nhu cầu

“ Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng là
một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.” (Lêônôp).
Vấn đề 5: Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống.
* Vai trò của hiện thực cuộc sống.
Cuộc sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông bất tận của những
tâm hồn nghệ sĩ. Văn chương cũng như các loại hình nghệ thuật khác nếu không
bén rễ vào cuộc đời, không hút nguồn nhựa sống dạt dào ngầm chảy trong lòng
cuộc sống thì nó sẽ mãi mãi là một cây non èo uột, không mang trên mình những
cành cây săn chắc, những phiến lá xanh tươi phơi phới dưới ánh nắng mặt trời. Là
nhà văn, ngòi bút của anh phải chấm vào nghiên mực cuộc đời thì thơ anh mới tươi
màu và neo chặt trong bến tâm hồn người thưởng thức. Danh sĩ Lê Quí Đôn từng
nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh núi sông
kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được”. Có thể nói, cuộc đời là mạch sữa
ngọt ngào tuôn chảy muôn đời để nuôi dưỡng thi ca. Đến với Chế Lan Viên, ta
không thể quên những tháng ngày con người ấy rơi vào hố sâu tuyệt vọng của sự
chán chường:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa;
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh,
Những ưu phiền, đau đớn với buồn lo”.
Thế là cuộc sống mới chan hòa hơi thở nồng ấm của cách mạng đã làm tan
mọi giá băng trong trái tim người nghệ sĩ ấy. Người sà vào lòng nhân dân, sung
sướng đón nhận nguồn cảm hứng thi ca từ cuộc đời:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Tiếng hát con tàu)
Cuộc sống mênh mông và kì diệu! Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho
thơ ca. Văn học bắt nguồn từ cuộc sống nên văn học bao giờ cũng chứa đựng bóng

sáng tác văn học không đơn thuần chỉ là hoạt động phản ánh mà còn là hoạt động
sáng tạo- một sự sáng tạo mang tính cá nhân trực tiếp mà kết quả là tác phẩm văn
học như một hiện tượng thẩm mĩ mới mẻ, độc đáo, không lặp lại.
Vai trò của nhà văn gắn liền với yếu tố nghệ thuật trong thơ ca: Biêlinxki
cũng khẳng định: “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Ông coi
trọng yếu tố hàng đầu là “cuộc đời” song cũng không xem nhẹ yếu tố nghệ thuật
của văn chương. Thiếu nghệ thuật, nghĩa là thiếu bàn tay nhào nặn của người nghệ
sĩ thì thơ ca chỉ là thứ nguyên liệu thô, không thể khơi dậy trong trái tim người đọc
những rung động sâu xa. Thơ ca ví như cánh diều, cuộc đời tạo cho cánh diều hình
hài sắc vóc còn nghệ thuật là làn gió nâng cánh diều bay bổng trên bầu trời cao
rộng. Ta yêu Truyện Kiều đâu phải chỉ vì “đoạn trường tân thanh” xé ruột cất lên
từ quãng đời mười lăm năm lưu lạc chuân chuyên của nàng Kiều tài hoa bạc mệnh;
ta còn yêu Truyện Kiều vì những “ngôn ngữ gấm hoa” giàu sức biểu cảm, vì âm
hưởng ca dao dịu dàng man mác trong lục bát thân thương: “Long lanh đáy nước
13


in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”. Cảnh mùa thu long lanh mĩ lệ
đọng đầy chất thơ ấy có lẽ còn sống mãi trong lòng người dân đất Việt đến nhiều
thế kỉ mai sau.
Để viết nên những trang văn có sức lay động thực sự, có khả năng vượt qua
mọi qui luật băng hoại của thời gian không thừa nhận cái chết (Sêđrin), nhà thơ
phải có tài năng và tâm huyết, vừa đắm mình vào cuộc đời vừa không ngừng tìm
tòi khám phá, khơi những nguồn chưa ai khơi. Nhà thơ Nga Maiakôpxki từng thấm
thía giá trị cao quí của lao động thi ca:
“Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ
Để thu về một chữ mà thôi
Nhưng chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”.
Mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc đời cũng mật thiết


độc, tự nó nảy sinh và phát triển. Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm
xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc
sống, không có thơ”.
Ra-bin-đra-nát Ta-go đã từng khẳng định: “Khi tình cảm tự tìm cho nó một
hình thức để bộc lộ ra ngoài, chúng ta có thơ”. Ý kiến của Ta-go một lần nữa nhấn
mạnh yếu tố tình cảm trong thơ. Qui luật sáng tạo trong thơ ca nghệ thuật là qui
luật tình cảm. Sáng tác thơ nói riêng và văn chương nói chung chính là để thể hiện
những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ, khát vọng của người cầm bút. Thơ là
tiếng nói của tình cảm khi tình cảm ấy ở độ sâu sắc, mãnh liệt nhất. Khi những thôi
thúc của trái tim trở nên dồn đập, mạnh mẽ, nó sẽ tự tìm đến một hình thức biểu
hiện phù hợp nhất, truyền tải hết những tình cảm ấy. Cảm xúc trong thơ chính là
yếu tố quan trọng nhất góp phần tạo nên sự đặc sắc và nét riêng độc đáo của mỗi
tác phẩm thơ ca. Không có tình cảm của nhà thơ thổi nguồn sống thì những câu
chữ hiện lên trên trang giấy sẽ chỉ là những câu chữ “thẳng đơ”, vô nghĩa, vô cảm.
Chính tình cảm, cảm xúc đã làm nên nét đặc trưng của thơ so với các thể
loại khác. Nếu trong văn xuôi, trong các thể tự sự, người nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng,
tình cảm qua hệ thống nhân vật, cốt truyện, tình huống thì trong thơ, người nghệ sĩ
thể hiện trực tiếp những tình cảm này bằng ngôn từ. Thơ trao cho người sáng tác
quyền bộc lộ trực tiếp những cảm xúc của mình. Cảm hứng sáng tác chỉ được xây
dựng trên hệ thống tình cảm phong phú, sâu sắc của nhà thơ về cuộc sống. Trong
thơ không chấp nhận thứ tình cảm hời hợt, nông cạn. Tình cảm trong thơ phải là
tình cảm mãnh liệt, sâu sắc và dâng trào trong trái tim nhà thơ. Chính cảm xúc ấy
đã truyền tải sức sống cho những hình tượng nghệ thuật trong thơ, làm cho những
hình tượng ấy trở nên sinh động, hấp dẫn đối với người đọc. nếu không có tình
cảm, thơ chỉ là những con chữ vô hồn ghép thành vần, thành điệu.
Vấn đề 7: Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật.
Nếu như màu sắc, ánh sáng, đường nét là chất liệu của hội họa; âm thanh,
tiết tấu, nhịp điệu là chất liệu của âm nhạc; hình khối là chất liệu của điêu khắc…
thì ngôn từ là công cụ, là phương tiện, chất liệu cơ bản và đặc thù của văn học. Bởi

bằng thị giác, xúc giác. Lại có thể nắm bắt được cả những cái mơ hồ, vô hình
nhưng có thật trong cảm xúc về thế giới. Chẳng hạn như câu thơ của Xuân Diệu
nói về tình yêu:
Không gian như có dây tơ
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
(Chiều)
Làm sao những cái mơ hồ, vô hình ấy hội họa hay bất cứ ngành nghệ thuật
nào khác có thể khắc họa được ngoài sức mạnh của nghệ thuật ngôn từ
Thứ ba: Ngôn ngữ văn học mang tính biểu cảm:
Nói đến văn học là nói đến tình cảm. Tình cảm là yếu tố đầu tiên và cũng là
yếu tố quan trọng trong lí do cầm bút của người nghệ sĩ. Chính điều này là cội rễ
sâu xa quyết định một đặc trưng khác của ngôn ngữ văn học là tính biểu cảm.
Thiếu tính biểu cảm người nghệ sĩ không thể phô bày được thế giới cảm xúc phong
phú, mãnh liệt của mình. Sự vô cảm là chỗ chết của nghệ thuật và ngôn từ nghệ
thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật không thể nào chấp nhận sự khách quan, lạnh lùng, xơ
cứng. Mỗi một lời nói phải chất chứa đầy tình cảm. Mỗi một ngôn từ bao giờ cũng
phải hàm chứa một sắc thái biểu cảm nào đó. Viết về thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã
thực sự xúc động:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

16


Có thể nói, từng câu, từng chữ đều chan chứa một niềm tha thiết, nhớ nhung
của Hàn Mặc Tử với mảnh vườn Vĩ Dạ, con người Vĩ Dạ bởi một tình yêu sâu
lắng, thiết tha, chân thành.
Còn có thể kể đến nhiều đặc trưng khác. Và những đặc trưng kể trên là

mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa
làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”.
(Thạch Lam, “Lời nói đầu” viết trong tập “Gió đầu mùa”, NXB Đời nay, Hà
Nội, 1937)
17


Hãy bình luận về quan niệm văn chương của Thạch Lam qua một tác phẩm
trong chương trình THPT.
Đề văn này hướng tới giá trị nhận thức (hay giá trị phản ánh): tố cáo và thay
đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác; giá trị giáo dục của văn học: làm cho lòng
người thêm phong phú và trong sạch. Ngoài việc vận dụng kiến thức về mối quan
hệ giữa văn học và hiện thực đời sống để phê phán thứ văn chương thoát li thì học
sinh cần vận dụng kiến thức lí luận về giá trị nhận thức và giá trị giáo dục của văn
học để bàn luận quan niệm văn chương của Thạch Lam.
Phong cách văn học:
Đề 1: “Nghệ thuật là lĩnh vực độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có
phong cách nổi bật, tức là nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của
mình”. Anh/chị hãy phân tích một số tác phẩm của một trong những tác giả
Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên
Đề 2: “Trong đời sống văn học, những nhà văn có tài năng, người thì đóng góp
vào một cách viết, người thì đóng góp vào cách sử dụng ngôn ngữ, có người thì lại
chỉ cho ta thấy những thứ rất nhỏ bé, đặc sắc mà giàu giá trị. Nhưng trên tất cả,
anh ta phải cho người đọc thấy được tiếng nói riêng của anh ta trong một vấn đề
mà nhiều người quan tâm”. (Nguyễn Minh Châu)
Bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ qua một tác phẩm truyện kí đã học.
Tất cả các đề thi trên đều đề cập đến nét riêng, độc đáo, đóng góp mới của
nhà văn trong cách tiếp cận, phản ánh cuộc sống. Học sinh cần vận dụng tốt kiến
thức lí luận về Phong cách nghệ thuật để giải quyết các vấn đề này.
Tiếp nhận văn học:

Từ đoạn trích “Việt Bắc” (Ngữ văn 12) của Tố Hữu, anh/chị hãy làm sáng tỏ
ý kiến trên. (Đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa năm học 2015-2016).
Nhạc và ý trong cách nói của Chế Lan viên thực chất là hai phương diện:
nghệ thuật – nhạc; nội dung – ý. Lời nhận xét của Chế Lan Viên về thơ Tố Hữu
nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn
học. Thành công của thơ Tố Hữu là quân bình được mối quan hệ này để tác phẩm
vừa đẹp về hình thức, dễ đi vào lòng người; vừa sâu sắc về nội dung để người ta
nhớ mãi. Vì vậy, làm đề này trước khi đi vào bàn luận vẻ đẹp của nhạc và ý trong
bài thơ “Việt Bắc”, học sinh cần có phần bàn luận về mối quan hệ giữa nội dung và
hình thức để tạo cơ sở lập luận vững chắc cho bài làm.
Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống:
Đề bài

“Bài thơ anh, anh chỉ làm một nửa mà thôi
Còn một nửa để mà thu làm lấy.
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá,
Nó không phải là anh nhưng nó là mùa”.
(Sổ tay thơ – Chế Lan Viên)

Từ trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận quan niệm về thơ của Chế
Lan Viên.
Nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện quan niệm về mối quan hệ giữa thơ ca với
cuộc đời: cảm xúc, tài năng của người nghệ sĩ là một nửa yếu tố làm nên thơ ca,
hiện thực cuộc đời là nửa còn lại. Một tác phẩm nghệ thuật là sự chuyển hóa nhuần
nhuyễn hai yếu tố ấy. Thơ cũng như nghệ thuật nói chung đều bắt nguồn từ chính
hiện thực cuộc sống. Sức sống của câu thơ chính là hơi thở phập phồng của cuộc
sống trong nó. Không có mùa thu đẹp đẽ của cuộc đời thì không thể có mùa thu
đẹp đẽ của thơ ca. Điều đó không có nghĩa là người nghệ sĩ không có vai trò gì.
Hiện thực bản thân nó là “một nửa”, nửa còn lại vẫn là con người tác giả, cảm xúc
chân thành của tác giả khi đứng trong âm vang của đời sống và dùng tài năng nghệ

văn học của mình làm rõ vấn đề mà nhà văn đặt ra.
Đề văn này đề cập đến đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật: Tính chính xác,
sáng tạo của ngôn ngữ văn học so với ngôn ngữ toàn dân, sử dụng từ ngữ phải
đúng người, đúng tình, đúng cảnh. Học sinh sử dụng kiến thức lí luận đã học để
giải quyết yêu cầu của đề bài.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Để đánh giá hiệu quả của đề tài, tôi lấy ý kiến của học sinh khi giải quyết
các dạng đề lí luận văn học sau khi đã được trang bị kiến thức, tất cả các em đều
cho rằng đã không còn lúng túng, “ngại” khi làm dạng đề này nữa.
Tôi so sánh kết quả thi học sinh giỏi năm học 2015 -2016 và năm học 2016
-2017 trên cùng 2 học sinh dự thi:
- Trước tác động (năm học 2015 -2016):
20


Học sinh Hà Thị Lan Phương: Đạt giải Khuyến khích
Học sinh Nguyễn Thị Vân: Đạt giải Nhì
- Sau tác động (năm học 2016 -2017):
Học sinh Hà Thị Lan Phương: Đạt giải Ba
Học sinh Nguyễn Thị Vân: Đạt giải Nhất
Từ kết quả thực tế trên cho thấy, việc trang bị kiến thức lí luận văn học thực
sự đem lại hiệu quả tích cực đối với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Ngữ văn, giải quyết được khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận
văn học.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Với việc áp dụng sáng kiến Kinh nghiệm trang bị kiến thức lí luận văn học
nhằm giải quyết khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận văn học, nâng
cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trung học phổ thông, tôi
thấy học sinh không còn khó khăn, lúng túng khi giải quyết các đề thi lí luận văn

Quốc gia Hà Nội, 1997).
3. Tuyển chọn những bài văn đoạt giải Quốc gia – Học sinh giỏi THPT (20042014) (NXB Giáo dục Việt Nam).
4. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, tập 2 (NXB Giáo dục Việt Nam)

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
22


ĐÃ ĐƯỢC SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI.

TÊN ĐỀ TÀI SKKN

XẾP
LOAI

NĂM

1. Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận

C

2009

2. Phát hiện, lựa chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ
văn ở trường Trung học phổ thông.

C

2012


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status