Sở Giáo dục – Đào tạo Thanh Hóa
Trường THPT Lý Thường Kiệt – TP Thanh Hóa
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ
SỨC KHỎE BẢN THÂN CHO HỌC SINH THÔNG QUA GIẢNG
DẠY BÀI 40 ANCOL ( TIẾT 57) HÓA HỌC 11 CƠ BẢN.
Người thực hiện:
Chức vụ:
Chuyên môn :
Lê Thị Ngọc Hoa
Giáo viên
Hóa học
Thanh Hóa, năm 2017
MỤC LỤC
PHẦN I. Lý do chọn đề tài.......................................................................... 2
PHẦN II.
3
A. Mục tiêu :
3
1.Kiến thức......................................................................................... 3
vong.Hay ở tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 22/3 vừa qua bệnh viện tiếp nhận 7 trường
hợp nhập viện nghi do ngộ độc rượu. Trước đó đã có nhiều vụ ngộ độc rượu tập
thể xảy ra, kết quả xét nghiệm cho thấy hàm lượng metanol vượt ngưỡng cho
phép nhiều lần.
3) Việc đổi mới phương pháp giảng dạy đòi hỏi phải tích hợp nhiều chủ đề
kết hợp với thực tiễn cuộc sống nhằm giúp học sinh có kỹ năng giải quyết các
vấn đề nóng hổi của cuộc sống trong đó môn Hóa học cần được coi trọng đúng
mức hơn.
Chính vì thế mà tôi muốn : " GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH
PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ SỨC KHỎE BẢN THÂN CHO HỌC SINH
THÔNG QUA GIẢNG DẠY BÀI 40 ANCOL( TIẾT 57) HÓA HỌC
11CƠ BẢN."
PHẦN II.
A. Mục tiêu :
1.Kiến thức
- Biết được phương pháp điều chế ancol và ứng dụng của ancol etylic.
- Hiểu được tính chất hóa học của ancol etylic.
2.Kĩ năng:
- Biết quan sát, phân tích và giải thích các hiện tượng thí nghiệm.
- Viết các PTHH dạng công thức phân tử và CTCT thu gọn
3
- Rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Vận dụng tính chất hóa học của ancol để giải đúng bài tập liên quan.
3.Thái độ tình cảm:
- Hiểu biết cơ bản về các tác hại của của rượu đối với cơ thể để biết cách phòng
Hoạt động 1:
GV cho HS quan sát một số hình
ảnh.
Đã uống rượu bia không lái xe
Uống nhiều rượu bia có hại cho sức khỏe
GV: Từ các hình ảnh mà các em
vừa quan sát được, hãy cho biết
những tai họa trên là do đâu?
- HS: do uống nhiều rượu bia.
GV: Để hiểu được vì sao rượu bia
thường gây tai họa cho con người,
chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ bài 40
tiết 57: Ancol.
Hoạt động 2: tìm hiểu tính chất IV. Tính chất hóa học
hóa học của ancol etylic:
1.Phản ứng thế H của nhóm OH:
5
- Hs vận dụng đặc điểm cấu tạo của a) Tính chất chung của ancol: chỉ t/d
phân tử ancol đã học ở tiết trước và được với Na, K giải phóng khí H2:
trên cơ sở các tính chất của ancol
etylic ( đã học ở lớp 9) suy ra tính
chất chung của ancol.
- GV tiến hành thí nghiệm Na tác
b. Tính chất đặc trưng của glixerol.
- GV: Làm thí nghiệm Glixerol
Glixerol + Cu(OH)2 → phức chất tan màu
hòa tan Cu(OH)2, và thí nghiệm xanh da trời.
Etanol không hòa tan Cu(OH)2 . GV 2C3H5(OH)3+ Cu(OH)2 → [C3H5(OH)2
hd HS cách viết ptpu xảy ra.
O]2Cu + 2 H2O
Từ đó GV nêu ứng dụng của phản ⇒ Phản ứng trên:
ứng này
+) chứng minh ntử H trong nhóm -OH
của ancol đa chức có 2 nhóm – OH kề
nhau linh động hơn ancol đơn chức.
+) Để nhận biết ancol đa chức có 2
nhóm – OH kề nhau như: glixerol,
etylen glicol, …
Hoạt động 4.
2. Phản ứng thế nhóm OH.
- GV thông báo: ancol tác dụng với a. Phản ứng với axit vô cơ.
6
3. Phản ứng tách nước → anken .
- GV thông báo: khi đun ancol với
H2SO4 đặc, ở nhiệt độ 1700C, mỗi
phân tử ancol tách 1 phân tử nước,
tạo thành 1 anken. Viết ptpư tổng TQ:
quát.
CnH2n+1OH → CnH2n + H2O
VD:
- Yêu cầu HS viết VD cụ thể.
- GV giải thích và rút ra nhận xét:
Hướng của phản ứng tách nước tuân
theo quy tắc Zaixep.
- Nêu quy tắc Zaixep.
Hoạt động 6.
Quy tắc Zaixep: Nhóm OH ưu tiên tách
ra cùng với H ở nguyên tử C bậc cao
hơn bên cạnh để tạo liên kết đôi C=C.
4. Phản ứng oxi hóa.
- GV thông báo: Khi OXH không a. Phản ứng OXH không hoàn toàn.
hoàn toàn, ancol bậc I bị OXH nhẹ - Ancol bậc I + CuO →
anđehit
⇒ phản ứng tỏa nhiều nhiệt, dùng sát trùng
- HS nêu ứng dụng của phản ứng?
Hoạt động 7.
dụng cụ y tế và làm nhiên liệu
V. Điều chế.
GV:
1. Phương pháp tổng hợp:
- Liên hệ tính chất của anken đã -Từ anken:
học để dẫn dắt qua cách điều chế.
CnH2n+ H2O → CnH2n+1OH
- Hidrat hóa etylen với xúc tác acid. -Thủy phân đẫn xuất halogen:
- Hướng dẫn học sinh phương pháp
điều chế glyxerol từ propylen.
CH3Cl+ NaOH → CH3OH+NaCl
- Liên hệ cách nấu rượu trong dân
gian để dẫn dắt qua cách điều chế
lên men tinh bột.
2. Phương pháp sinh hóa: từ tinh bột
(C6H10O5) + nH2O
n C6H12O6
tương đương với 0,3 l bia hoặc 100 ml rượu vang), tùy theo cân nặng và cấu tạo
của cơ thể, cồn đã có tác động đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là lên não: góc
nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi. Các nhà nghiên cứu của Đại
học Stockholm đã tìm thấy rằng uống 50 g cồn hằng ngày sẽ để lại tác hại vĩnh
9
viễn. Ước lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi uống một ly
bia. Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi có thể lên đến 10.000.000.
- Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết
tật về trí tuệ.
- Tác động lớn nhất của các thức uống có cồn là các tác động lên hệ thần kinh.
Với khối lượng từ trên 250 đến 500 ml thức uống có cồn, tùy theo tỷ lệ độ cồn
có trong thức uống, có thể gây các trạng thái như sau:
+ Mức độ nhẹ (dưới 20% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng và trạng thái
cơ thể): Chất cồn trong thức uống có thể gây trạng thái bay bổng. Khi đó, người
có trạng thái này không thể xác định được nhu cầu của chính mình, không thể
biết mình cần gì và không cần gì. Thông thường, người ta vẫn gọi đây là trạng
thái "ngà ngà say".
+ Mức độ trung bình (từ 20% đến dưới 45% alcol với khối lượng tùy theo trọng
lượng và trạng thái cơ thể): Chất cồn tác động đến các vùng sâu của hệ thần
kinh, gây trạng thái trì trệ ở toàn bộ các thùy quan trọng điều khiển các giác
quan của não. Ở trạng thái "ngất ngây" này, con người mất khả năng điều khiển
lý trí và tình cảm; chỉ còn lại khả năng tự vận động theo bản năng. Đây là trạng
thái "say".
+Mức độ nặng (trên 45% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng và trạng thái
cơ thể): Cơ thể hoàn toàn mất điều khiển tại tất cả các tuyến thần kinh ngoại
biên, mất cảm giác không gian và thời gian, mất ý thức; thậm chí rơi vào hôn
mê. Đây là trạng thái "quá say" khi uống rượu.
- Các tế bào não ở nhiều vùng bị chết, dẫn đến giảm khối lượng não.
- Loét dạ dày và ruột, do rượu thường xuyên kích thích và làm thoái hóa niêm
mạc của các cơ quan này.
11
- Tăng huyết áp do tim bù trừ lại hiện tượng tụt áp gây ra do rượu.
- Tế bào sinh dục nam giảm sản xuất tinh trùng (do hạ đồi tuyến yên bị rượu ức
chế làm giảm tiết hormone hướng sinh dục).
c. Học sinh cần phòng tránh, tuyên truyền cho người thân và cộng đồng biết
không nên sử dụng rượu bia quá nhiều vì nó gây ra những thiệt hại về kinh tế và
tiềm ẩn nguy cơ gây tử vong.
2. Chấp hành pháp luật về rượu:
12
Bên cạnh tác hại của rượu bia đối với sức khỏe thì say rượu bia còn ảnh
hưởng đến cuộc sống sinh hoạt gây bạo lực gia đình, lái xe mất an toàn giao
thông, gây rối trật tự công cộng, thậm chí gây án mạng. Chính vì vậy để đảm
bảo an toàn cho chính bản thân và tránh gây đau thương mất mát cho gia đình,
không nên uống rượu bia khi tham gia giao thông, tuyên truyền phổ biến cho
người dân nhận thức được việc sử dụng rượu bia đúng nơi, đúng chỗ và đúng
lúc.Không sản xuất và sử dụng rượu bia không rõ nguồn gốc, có pha cồn công
nghiệp.
III. Khảo sát kết quả học tập của học sinh:
Tôi đã khảo sát kết quả học tập trên 100 em học sinh theo mẫu khảo sát và
thu được kết quả như sau:
95%
5%
98%
2%
85%
10%
10%
5%
Nhận xét: Sau khi khảo sát kết quả học tập của học sinh ở trên tôi thấy đa
số học sinh nắm được bài, nhận thức được tác hại của rượu bia. Nhưng bên cạnh
đó vẫn còn một số nhỏ học sinh chưa nắm vững bài học, nguyên nhân là do các
em đó lơ là, chủ quan không tập trung chú ý nghe giảng.
Từ kết quả học tập của các em tôi nhận thấy việc kết hợp truyền thụ kiến
thức cơ bản và giáo dục tư tưởng trong một môn học nào đó là một việc làm hết
sức cần thiết. Nó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà
trường theo tinh thần nghị quyết 29/NQ- TƯ về đổi mới căn bản và toàn diện
giáo duc Việt Nam.
Trên đây, tôi đã trình bày sáng kiến kinh nghiệm: " GIÁO DỤC Ý
THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ SỨC KHỎE BẢN
13