Kinh nghiệm đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh bằng bài tập thực tiễn - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ VIẾT TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH BẰNG BÀI TẬP THỰC TIỄN

Người thực hiện:
Lê Thị Hồng
Chức vụ:
Tổ phó chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hoá học

THANH HOÁ NĂM 2016

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

1


Đất nước chúng ta đang trong giai đoạn hội nhập để phát triển. Giáo dục với
trách nhiệm đào tạo các tầng lớp tri thức, lao động có kĩ thuật cho xã hội không
ngừng đổi mới để có thể bắt nhịp với nền giáo dục tiên tiến của thế giới. Do vậy đổi
mới giáo dục là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm trong đó đổi mới kiểm tra
đánh giá có vai trò quan trọng.
Thực tiễn giáo dục phổ thông ở nước ta cho thấy nội dung kiểm tra đánh giá
vẫn còn nặng về tính toán, kiến thức sách vở và xa rời thực tế. Việc đánh giá
thường chỉ chú trọng điểm cuối của quá trình dạy học, mục đích kiểm tra vẫn còn

chuẩn thế giới.
3. Đối tượng nghiên cứu
2


Xây dựng quy trình, xác định nội dung kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh theo hướng phát triển năng lực học sinh.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý luận của việc kiểm tra đánh giá của học
sinh và xác định quy trình kiểm tra đánh giá kết qua học tập của học sinh theo
hướng phát triển năng lực.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, trao đổi
kinh nghiệm với đồng nghiệp.
4.3. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lý kết quả
thực nghiệm sư phạm.

II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3


1.1. Tìm hiểu về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.1.1. Quan niệm về kiểm tra- đánh giá
Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin, xác định mức độ đạt được
về thực hiện mục tiêu.
Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục
tiêu. Kiểm tra là công cụ của đánh giá, đồng thời kiểm tra, đánh giá là hai khâu
trong một quy trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu. Trong nhiều
trường hợp, khi nói đánh giá, nghĩa là đã bao gồm cả kiểm tra.

giúp học sinh sửa chữa thiếu sót. Đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học
sinh, chú trọng đánh giá hành động, tình cảm của học sinh; năng lực vận dụng vào
4


thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp; quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực,
chủ động của học sinh trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như
các tiết thực hành, thí nghiệm.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá kết quả cả quá trình học tập.
Tạo điều kiện cho học sinh cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học
tập với yêu cầu không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả
năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp; có nhiều hình
thức và độ phân hoá cao trong đánh giá.
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của học
sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học.
Chú trọng phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá quá
trình dạy học.
1.2. Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh
1.2.1. Định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh
Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung
vào các hướng sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh
giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức
đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục
đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình).
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của
người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, …
sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt
chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo.
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học

dụng một số phương pháp kiểm tra đánh giá tích cực (Kiểm tra đánh giá theo
hướng phát triển năng lực học sinh). Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế về cách
thức khi thực hiện đánh giá học sinh:
- Chưa đổi mới câu hỏi và bài tập để kiểm tra đánh giá (chủ yếu sử dụng bài
tập có sẵn trong sách giáo khoa, sách tham khảo; đáp án thì xây dựng theo lối tư
duy áp đặt nên chưa tạo hứng thú học tập cũng như phát triển tư duy sáng tạo của
học sinh).
- Hình thức kiểm tra đánh giá chưa đa dạng. Cơ bản vẫn sử dụng hình thức
đánh giá truyền thống: bài luận, bàì tập kiểm tra 15 phút, 1 tiết… Trong khi đó
phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực thì cần phải đa dạng
các hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận,
vấn đáp… đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình,
thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các
tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận…. thì giáo viên chưa sử dụng vì chưa
được đào tạo.
- Kiểm tra đánh giá chưa nhận được sự phản hồi từ học sinh. Khi chấm bài
kiểm tra, giáo viên thường chỉ cho điểm hoặc chỉ phê “sai”, “làm lại” chứ chưa giải
thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào… làm học sinh mất
niềm tin, chán nản và không có động lực để cố gắng. Nên chăng với bộ môn Hóa
học cũng cần có 1 tiết trả bài để giáo viên phân tích sai lầm mà học sinh mắc phải
trong khi làm bài tập.
Vì vậy chất lượng của việc kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo vì: năng lực học
tập của học sinh được đánh giá theo điểm số của giáo viên cho mà thực tế điểm số
chỉ là công cụ đánh giá mức thuộc bài chứ không đánh giá được tiềm năng , năng
lực càng không đánh giá được thái độ của học sinh.
3. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
3.1.Thiết kế bài tập thực tiễn theo hướng phát triển năng lực học sinh
6



+ Câu hỏi đúng/sai (có / không) phức hợp
+ Câu hỏi mở trả lời ngắn, hoặc dài.
Với câu hỏi trắc nghiệm khách quan phải có độ dài – ngắn tương xứng. Các
phương án nhiễu sai phải nằm trong mức độ hiểu nhầm cho phép.
Các câu tự luận nên khu biệt vấn đề, không tính toán phức tạp, không quá
khó, quá trừu tượng, làm mất đi bản chất môn học hóa học.
Với mỗi bài tập như thế giáo viên có thể xây dựng 1,2,3,4 câu hỏi có độ phân
hóa cấp độ: Biết, hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Tùy thuộc vào trình độ của học
sinh của từng lớp mà giáo viên có thể sử dụng lượng câu phù hợp.
3.1.2. Một số ví dụ mẫu về cách xây dựng bài tập thực tiễn theo hướng phát
7


triển năng lực học sinh .
ĐỀ BÀI 1: Tháng 4 năm 1915, vào một ngày trời râm mát, binh sĩ liên quân
Anh- Pháp đang đồn trú dưới chiến hào rộng hàng nghìn m2 trên đất Bỉ, chiến
trường hoàn toàn yên tĩnh. Đột nhiên từ phía quân Đức, một vùng chất khí màu
vàng lục như một màng yêu khí tràn tới theo gió bay về phía quân Anh- Pháp.
Trong chiến hào vang lên tiếng hắt hơi, tiếng ho, tiếng gào thét của các binh sĩ.
Trận địa hỗn loạn, binh sĩ chết la liệt, người còn sống nước mắt giàn dụa vứt bỏ vũ
khí chạy khỏi chiến trường. Đó là lần đầu tiên khí độc được sử dụng trong chiến
tranh, từ đó mở màn cho cuộc chiến tranh hóa học. Thời gian gần đây từ tháng 4
năm 2014 đến tháng 1 năm 2015 phiến quân hồi giáo IS đã 3 lần sử dụng bom
chứa khí này trong các lần gây chiến ở IRAQ.

Hình 1.1. Bom hóa học Clo
Hình 1.2. Binh lính đeo mặt nạ phòng độc
Để đối phó với các loại vũ khí hóa học, các nhà khoa học phải tiến hành
nghiên cứu trong thời gian dài và tìm ra được dụng cụ có khả năng phòng độc làm
từ than hoạt tính.

của học sinh (vận dụng dạy học tích hợp- liên môn : Hóa học- lịch sử- giáo dục
công dân).
- Câu hỏi:
+ Câu trắc nghiệm khách quan trả lời ngắn tuy nhiên qua các phương án
nhiễu học sinh cũng biết thêm các kiến thức khác (chất độc màu da cam, khí độc
H2S, SO2)
+ Kiến thức kiểm tra trong các câu hỏi 2, 3 ngoài kiểm tra về kiến thức hóa
học còn thể hiện được sự hiểu biết về mặt xã hội, tinh thần yêu chuộng hòa bình
của học sinh. Kiến thức kiểm tra không tính toán phức tạp, không kiểm tra sự thuộc
bài, mà kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức học sinh vào thực tiễn, đồng thời qua
việc trả lời câu hỏi GV có thể đánh giá được thái độ của học sinh.
+ Câu hỏi có thể áp dụng để kiểm tra vấn đáp khi dạy bài Clo (Tiết 38-Hóa
học 10), hoặc để kiểm tra bài cũ trong tiết 39 và sử dụng trong bài kiểm tra định
kỳ chương Halogen.
Hướng dẫn
Câu hỏi 1: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan kiểu đơn giản, mức độ 1.
Câu hỏi 2: Câu hỏi Đúng/sai phức hợp, mức độ 2.
1.(Đ); 2.(S);3.(Đ)
Câu hỏi 3: Câu hỏi mở trả lời ngắn, mức độ 3.
Ở câu hỏi này học sinh sẽ trả lời với các mức độ khác nhau tùy thuộc vào
khả năng của mình và giáo viên dựa vào đó để đánh giá thái độ của học sinh.
Tác dụng của than hoạt tính:
Than hoạt tính được làm từ các vật liệu chứa nhiều các bon như gỗ vỏ dừa…
đem đốt ở nhiệt độ cao trong điều kiện thiếu oxi để tạo thành than gỗ, qua quá trình
xử lý than gỗ tạo thành than hoạt tính.
Than hoạt tính thường có dạng hạt nhỏ hoặc chất bột màu đen, có diện tích
bề mặt rất lớn. Khi than hoạt tính tiếp xúc với các các chất, do diện tích bề mặt lớn
nên than hoạt tính có thể hấp thụ trên bề mặt nhiều loại phân tử, hoặc có thể tác
dụng với chất độc (thường là các chất oxi hóa mạnh ) để giảm thiểu hàm lượng chất
độc.

thức của học sinh như tính chất hóa học của axit clohidric, điều chế clo trong
phòng thí nghiệm.
- Có thể áp dụng bài tập này để kiểm tra học sinh khi dạy bài luyện tập
chương Halogen (tiết 47 hóa học 10), hoặc làm bài tập trong một số tiết tự chọn
của chương hay dùng để làm câu hỏi trong bài kiểm tra định kỳ.
10


Hướng dẫn
Câu hỏi 1: Câu hỏi mở trả lời ngắn, mức độ 2.
- Viết đúng phương trình phản ứng
MnO2 + 4HCl → MnCl2 + Cl2 + 2H2O
Câu hỏi 2: Câu hỏi Đúng/sai phức hợp, mức độ 3.
(1)S,(2)Đ, (3)S.
Câu hỏi 3: Câu hỏi mở trả lời ngắn, mức độ 3.
- HS trả lời được tại bình tam giác dùng thu khí clo còn thiếu bông tẩm
NaOH để ngăn chặn Clo tràn ra gây nguy hiểm vì Clo là khí độc.
Câu hỏi 4: Câu hỏi mở trả lời ngắn, mức độ 4.
- HS trả lời được nguyên nhân do trong quá trình điều chế có dùng đèn cồn
nên cung cấp nhiệt độ vì thế xảy ra thêm phản ứng nhiệt phân KMnO4 .
2KMnO4 → K2MnO4 + MnO2 + O2
Phản ứng trên sinh ra oxi nên trong sản phẩm thu được có thể lẫn khí Oxi.
ĐỀ BÀI 3: Mỗi sáng mai thức dậy khi ta mở vòi nước thấy xộc lên mùi hắcĐấy là do ta đang sử dụng nước sạch được xử lí bằng khí clo. Dùng clo để khử
trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền và dễ sử dụng. Tuy nhiên cần
thường xuyên kiểm tra nồng độ clo dư ở trong nước bởi vì lượng clo dư nhiều sẽ
gây nguy hiểm cho con người và môi trường. Lượng Clo dư còn lại khoảng 12g/m3 nước là đạt yêu cầu. Cách đơn giản để kiểm tra lượng clo dư là dùng KI và
hồ tinh bột.
Câu hỏi 1: Vì sao Clo được sử dụng để sản xuất nước sạch?
Câu hỏi 2: Nhược điểm của việc sử dụng công nghệ sử lí nước bằng khí clo?
Câu hỏi 3: Mô tả của quá trình kiểm tra trên và viết phương trình phản ứng hóa

PTHH: Cl2 + 2KI → 2KCl + I2 (I2 làm hồ tinh bột chuyển sang màu xanh).
Câu hỏi 4:
Lượng nước cần dùng cho huyện Hoằng Hóa mỗi ngày là:
20 000 . 100 = 2.106 lít = 2 000 m3
Lượng khí Clo cần dùng là:
2 000 . 5 = 10 000 g = 10 Kg
3.1.3. Một số bài tập thực tiễn chương Halogen được xây dựng theo hướng phát
triển năng lực học sinh.
ĐỀ BÀI 4: Thủy tinh là loại chất liệu dùng để làm rất nhiều đồ dùng trong
cuộc sống con người, thủy tinh có bề mặt rất nhẵn, việc vẽ hình khắc chữ trên thủy
tinh là rất khó nếu chúng ta dùng tay ,vẽ bằng bút hay phun sơn. Tuy nhiên trên thực tế
có rất nhiều vật dụng bằng thủy tinh được khắc chữ và vẽ hình rất công phu, việc làm
này thành công là nhờ trợ giúp của một chất hóa học.
Câu hỏi 1: Chất nào dùng để khắc chữ và hình trên vật liệu thủy tinh?
Câu hỏi 2: Người ta không đựng chất hóa học đó trong bình bằng chất liệu gì?
Hướng dẫn
Câu hỏi 1: Câu hỏi mức độ 2
Hóa chất dùng khắc chữ và hình lên vật liệu thủy tinh là axit HF. Vì axit HF
hòa tan dễ dàng SiO2 ( thành phần chính của thủy tinh) theo phương trình:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Câu hỏi 2: Câu hỏi mức độ 2
Không đựng axit HF trong bình thủy tinh vì: HF có thể hòa tan được thủy
tinh (phương trình trên).
ĐỀ BÀI 5: Axit clohidric có vai trò rất quan trọng đối với quá trình trao đổi
chất của cơ thể. Trong dung dịch dạ dày của người có axit clohidric với nồng độ
khoảng từ 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng là 4 và 3). Ngoài việc hòa

12



Câu hỏi 2: Câu hỏi Đúng/sai phức hợp, mức độ 2.
(1)S, (2)Đ, (3)S, (4)Đ.
ĐỀ BÀI 6: Để cơ thể khỏe mạnh, con người cần phải được cung cấp đầy đủ
các nguyên tố hóa học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối
lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ ( được gọi
13


là nguyên tố vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con
người. Theo các nhà khoa học mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ
1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.
Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dưới dạng hợp chất của iot được bổ
sung sẵn trong muối ăn và có trong một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt
iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba dân số bị thiếu
iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở
những mức độ khác nhau. Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại.
Thiếu iot làm não bị hư hại nên người thiếu iot trở nên đần độn, chậm chạp, có thể
điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn
khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.

Hình 6.1và 6.2. Bệnh nhân mắc bệnh bướu cổ
Câu hỏi 1: Muối Iot là muối ăn có trộn chất nào sau đây:
A. AgI
B. I2 (đơn chất iot)
C.HI
D. KI hoặc KIO3
Câu hỏi 2 : Trên cơ sở nắm được nội dung đoạn trích, hãy lựa chọn Đúng/ Sai cho
các ý sau:
Ý kiến
Đ/ S

ĐỀ BÀI 7: Người ta bố trí các dụng cụ thí nghiệm như hình vẽ dưới đây.
Bóp mạnh quả bóp cao su của ống nghiệm chứa dung dịch HCl đặc vào dung dịch
KMnO4 . Hơ nhẹ ngọn lửa đèn cồn chỗ có miếng bông tẩm dung dịch KI.

Câu hỏi 1 : Nêu hiện tượng xảy ra trong ống hình trụ và trong ống nghiệm
chứa dung dịch hồ tinh bột, nhận xét và rút ra kết luận .
Câu hỏi 2: Cho biết vai trò của dung dịch NaOH đặc.
Hướng dẫn
Câu hỏi 1: Câu hỏi mở, mức độ 4:
Sau một thời gian ngắn, ở đoạn thứ nhất của ống hình trụ xuất hiện màu
vàng lục của khí clo, đoạn thứ hai có màu nâu của brom, đoạn thứ ba có màu tím
của iot. Dung dịch trong ống nghiệm 2 xuất hiện màu xanh do iot đã làm xanh hồ
tinh bột.

15


Cl2 + 2KBr → KCl + Br2
Br2 + 2KI → KBr + I2
Câu hỏi 2: Câu hỏi mở, mức độ 2:
Dung dịch NaOH đặc chứa trong cốc thủy tinh dùng hoà tan lượng halogen
còn dư để tránh độc hại cho giáo viên và học sinh.
NaOH + Cl2 → NaCl + NaClO + H2O
3.2. Thiết kế đề kiểm tra phát triển năng lực vào kiểm tra đánh giá học sinh.
3.2.1. Quy trình thiết kế hệ thống bài tập kiểm tra
Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh
sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học
nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việc
kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của

3.2.2. Đề kiểm tra chương Halogen :
Đề kiểm tra 45 phút:Hình thức trắc nghiệm khách quan kết hợp tự luận.
- Ma trận:
Mức độ nhận thức
Cộng
Nội
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng ở
dung
mức cao hơn
kiến
TN
TL
TN
TL
TN
TL
TN
TL
thức
1. Khái
quát
nhóm
Halogen
2. Clo và
hợp chất
chứa oxi
của clo

1 câu
0,5 đ

4 câu
2,0 đ
(20%)

1 câu
2,0 đ
1 câu
0,5 đ

3 câu
2,5 đ
(25%)
2 câu
1,0 đ
(10%)
3 câu
1,5 đ
(15%)
2 câu
2,0 đ
(20%)

1 câu
0,5 đ

1 câu
0,5 đ

(20%)

3 câu
2,5 đ
(25%)
16 câu
10,0 đ
(100%)

- Đề kiểm tra 45 phút chương halogen
A. Phần trắc nghiệm khách quan:
Câu 1. Phát biểu nào sau đây không chính xác ?
A. Tính axit của HX tăng dần theo thứ tự sau. HI, HBr, HCl, HF
17


B. Từ F2 đến I2 tính oxi hóa giảm dần.
C. Trong các halogen F2 có tính phi kim mạnh nhất.
D. Nguyên tử halogen có 7 electron lớp ngoài cùng dễ dàng thu thêm 1
electron để tạo thành ion âm X- cấu hình electron của khí hiếm liền kề trong
bảng tuần hoàn.
Câu 2. Người ta dùng hóa chất nào sau đây để khắc chữ và hình vẽ lên thủy tinh?
A. H2SO4 đặc B. NaOH đặc C. Hỗn hợp CaF2 và H2SO4 đặc D. Khí F2
Câu 3: Trong phòng thí nghiệm clo được điều chế như sơ đồ dưới đây:

Hãy cho biết bình tam giác thu khí Clo cần bổ sung ý nào sau đây:
A. Cần cho nước vào bình để clo tan vào nước khỏi clo bay ra ngoài.
B. Cần úp ngược bình tam giác để thu khí Clo theo phương pháp đẩy không khí
C. Cho bông tẩm NaOH để loại khí Cl2 tràn ra ngoài
D. Cần làm lạnh bằng nước đá để khí Cl2 hóa lỏng cho dễ thu khí clo.

B. 73%
C. 67%
D. 7,3%
Câu 8. Sục khí X2 vào 3 cốc: cốc 1 đựng nước cất, cốc 2 đựng dung dịch NaY, cốc
3 đựng dung dịch NaZ, thấy dung dịch ở cốc 1 có màu vàng nhạt và làm mất màu
giấy quỳ đỏ, dung dịch ở cốc 2 và 3 có màu vàng đậm hơn, thêm tiếp hồ tinh bột
thấy ở cốc 2 có màu xanh. X, Y, Z theo thứ tự là:
A. Cl, I, Br
B. F, I, Br
C. Cl, Br, I
D. F, Br, I
Câu 9. Để làm giảm lượng axit clohidric trong dạ dày người ta dùng loại thuốc có
thành phần chính là chất nào sau đây:
NaCl
B. NaOH
C. Ca(OH)2
D. NaHCO3
Câu 10. Để phòng bệnh bướu cổ người ta thường dùng muối Iot . Muối iot là muối
ăn (NaCl) có trộn lẫn một lượng nhỏ chất nào sau đây:
A. I2
B. HI
C. KI hoặc KIO3
D. HIO3
Câu 11. Nếu cho 1 mol mỗi chất: CaOCl2, KMnO4, K2Cr2O7, MnO2 lần lượt phản ứng
với lượng dư dung dịch HCl đặc, chất tạo ra lượng khí Cl2 nhiều nhất là
A. K2Cr2O7
B. MnO2.
C. CaOCl2.
D. KMnO4
Câu 12. Cho các cách thu khí như hình vẽ sau:

4. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh là một trong
những quá trình góp phần phát huy tính cực của học sinh, giúp học sinh thêm hứng
thú với bài học, rèn luyện các kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, giải qyết các
vấn đề thực tiễn trong đời sống… Trong đề tài này, tôi đã hoàn thành được mục tiêu
ban đầu đề ra: đề cập đến ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học thực tiễn, phân loại
bài tập, xây dựng được một số dạng bài tập kiểm tra đánh giá học sinh trong
chương Halogen hóa học lớp 10, tiến hành dạy thực nghiệm và lấy ý kiến phản hồi
của học sinh nhằm đánh giá hiệu quả của đề tài.
Bảng 1: Tình hình học sinh đầu năm.
Đặc điểm Sĩ số Nam Nữ
Học lực
Lớp
Khá
Trung
Yếu
giỏi
bình
10A
43
25
18
17
21
5
10B
43
23
20
16


20


C. KẾT LUẬN
Mặc dù trong đề tài này tôi không thể đề cập mọi bài tập thực nghiệm hiện
tượng có liên quan trong thực tiễn, nhưng phần nào cũng đã đề cập đến một số bài
tập thực nghiệm có hình vẽ có ý nghĩa thực tiễn trong sản xuất và sinh hoạt, thậm
chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày. Tôi hi vọng đây là vấn đề được nhiều giáo viên
cũng như học sinh quan tâm.
Với kinh nghiệm sử dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ vào bài học sẽ góp
phần nâng cao chất lượng giờ dạy, kích thích sự tìm tòi sáng tạo của học sinh, giúp
học sinh chăm học hơn và nắm vững kiến thức của bài học chuyển hướng học sinh
từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực.
Khi sử dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ vào bài học đòi hỏi giáo viên phải
luôn xác định rõ trọng tâm kiến thức bài học, vân dụng linh hoạt tránh sa đà vào
kiến thức không trọng tâm của bài học. Riêng học sinh cần tích cực phát biểu ý
kiến xây dựng bài, có khả năng quan sát và liên hệ thực tế sinh động.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác

Lê Thị Hồng

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status