SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
SINH YẾU, KÉM MÔN HÓA HỌC TRƯỜNG THPT
HOẰNG HÓA – THANH HÓA
Người thực hiện: Lê Đình Sỹ
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực: Hóa Học
THANH HÓA NĂM 2016
1
MC LC
A. T VN
I . Lớ do chn ti
Trang
2
2
II. Nhim v
2
11
C.KT LUN V KIN NGH
13
I. Kt lun
13
II.Kin ngh v xut
14
2
A-ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoá học là bộ môn được đưa vào chương trình học sau cùng ( lớp 8 -THCS )
vì nó đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy, sự nhạy bén, thông minh….để hiểu rõ
những khái niệm khá trừu tượng, những hiện tượng hoá học khá thú vị. Đặc điểm
của bộ môn hoá là mang tính thực nghiệm cả về định tính và định lượng. Các em
xem môn học này là một trong những môn học khó khăn nhất giống như các môn
học tiếng nước ngoài. Vì thực tế đối với các em khi học môn này cần phải học
thuộc lòng hoá trị, các kí hiệu hoá học, tên gọi, công thức tính, cách cân bằng
phương trình… Các em còn lúng túng trong việc dự đoán các sản phẩm tạo thành
trong một phương trình phản ứng.
- Tùy theo từng đối tượng học sinh mà đòi hỏi người giáo viên phải có phương
pháp phù hợp giúp học sinh nâng cao kiến thức cũng như nắm bắt kiến thức và vận
dụng được kiến thức. Thường người học sinh học yếu, kém là những học sinh ngồi
kiến thức, học hỏi phương pháp nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn (như thảo
luận theo nhóm, dự giờ thăm lớp, tổ chức các đợt thao giảng, dự các lớp tập huấn
chuyên đề Hóa Học …).
Không chỉ có thế mà tôi cũng như các giáo viên trong trường còn trao đổi học
hỏi thêm những đồng nghiệp ở các trường khác.
2.Khó khăn
a. Từ học sinh:
4
- Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác, môn Hóa học
có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh rỗng kiến thức cơ bản, do đó học sinh
tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn và thiếu hụt.
- Đối tượng học sinh ở trường tôi đầu vào rất thấp, kiến thức lớp dưới hổng
nghiêm trọng, ý thức và phương pháp học tập yếu kém . Học sinh học yếu môn
toán, lý khó có khả năng tiếp thu kiến thức môn Hóa học do đó sợ môn Hóa và
không ham thích học Hóa.
- Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không
nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các
dạng bài tập Hóa học.
- Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên,
có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải
sẵn trong sách giải một cách thụ động.
b. Từ giáo viên:
- Trong một bài dạy giáo viên phải thiết kế giáo án áp dụng cho các đối tượng học
sinh (Yếu, TB, Khá, Giỏi) nên thường hay bị động về thời gian.GiáoViên không thể
chỉ chú trọng vào các em yếu kém trên lớp mà còn phải mở rộng kiến thức nâng
cao cho những học sinh khá giỏi trong lớp.
.- Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh.
Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.
hợp với nội dung phụ đạo sao cho tiết dạy có hiệu quả nhất, muốn như vậy thì cần
phải biét rõ căn cứ, hiẻu và két hợp giải quyết đươc các vấn đề sau:
+ Tìm hiểu tại sao học sinh thường nói : “ Sợ” ; “ Chán”, học yếu, kém môn Hoá
Học. Đồng thời tìm cách giải toả tâm lí ở một số em.
+ Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn
luyện ý thức học tập.
+ Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho
đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung, hình thức và phương pháp dạy thích
hợp nhất.
6
Vì vậy người học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghỉ và hành
động, tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghỉ, cân nhắc kĩ lưỡng những thông
tin nhận được để “ vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thức một cách
chính xác, khoa học nhất. Muốn vậy người giáo viên có va tò rấ quan trọng cần
phải có hướng dẫn cụ thể để giúp học sinh.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
II.1. Giới thiệu giải pháp:
Để giúp học sinh “ vá lại lỗ hổng kiến thức” bắt kịp kiến thức trên lớp và có
hứng thú học tâp bộ môn hoá học, đặc biệt là giáo dục học sinh trở thành con người
hiện đại toàn diện theo yêu cầu xã hội hiện nay, đòi hỏi con người phải có tính độc
lập, tự chủ, tự giác cao trong nghiên cứu, tìm toài, sáng tạo hoc hỏi để tiếp thu kịp
kiến thức của bài mới nhẹ nhàng nhưng có hiệu quả.
Giáo viên sẽ rút ngắn được thời gian giảng giải cho đối tượng học sinh yếu
kém bộ môn trong tiết học, có nhiều điều kiện để mở rộng nâng cao kiến thức liên
hệ với thực tiễn và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Đồng thời lai tạo được sự
say mê, sáng tạo trong công việc dạyhọc của mình.
Qua thực tế trong các năm gần đây thực hiện chưng trình thay đổi sách giáo
khao và thực hiện phương pháp giảng dạy mới cũng như hình thức thi hoàn toàn
OXH- Khử:
+ Đầu tiên phải kiểm tra và giúp các em học thuộc kí hiệu và hóa trị( bài ca hóa trị )
của 1 số nguyên tố thường gặp 1 cách thành thạo.
+ Hướng dẫn lại cách viết đúng Công thức hóa học(CTHH)
Ví dụ: Viết CTHH của Kali oxit ( Hóa trị của nguyên tố này là chỉ số của nguyên
tố kia). Để viết được các em phải nhớ hóa trị: Kali ( K) có hóa trị I, Oxi (O) có hóa
trị II. Vậy CTHH viết như sau: K2O…..
+ Cho các em học thuộc 1 số gốc hóa trị thường gặp, cách tính và cách nhớ hóa trị
của chúng.
Ví dụ: Cách nhớ hóa trị I của 1 số nguyên tố và gốc axit:
8
Khi ( K) nào ( Na) đồng ( Cu) bạc ( Ag) có (Cl) hẹn ( H) hò ( - OH) nhau ( - NO 3)
anh ( AlO2) nhé ( NH4).
Cách nhớ hóa trị II của 1 số nguyên tố và gốc axit:
Ba ( Ba) Thủy ( Hg) cần ( Ca) mua ( Mg) sắt (Fe) kẽm(Zn) đồng ( Cu ) cùng ( =
CO3 ) cùng Oanh( O) sống ( = S) sung ( = SO3) sướng (= SO4 )… →
+ Cho các em viết các phản ứng hóa học từ dễ đến khó như sau:
. Viết công thức các chất tham gia phản ứng.
. Dự đoán phản ứng xảy ra ( dự đoán sản phẩm tạo thành) chẳng hạn của oxit bazo
với axit: Để viết đúng sản phẩm tạo thành của phản ứng ta có cách nhớ như sau: “
Kim loại trong oxit sẽ kết hợp với gốc axit tạo thành muối, còn hidro kết hợp với
oxi trong oxit tạo thành nước’’ hay cách dễ nhớ nhất là “ gần với gần, xa với xa”
Ví dụ: PTPU sau: 6HCl + Al2O3 → 2AlCl3 + 3H2O
Quan trọng hơn là các em phải thuộc hóa trị để viết đúng CTHH và cân bằng đúng
PTPU. Hoặc là để nhận dạng 1 bài toán chẳng hạn như dạng toán dư các em cần
phải chú ý dữ kiện bài toán phải có số mol 2 chất tham gia phản ứng….
Giải pháp2: Gây hứng thú từ những ứng dụng hóa học vào thực tế.
Dạng Bài tập về nhận biết các chất, cho các em học thuộc các phản ứng hóa học
đặc trưng của từng loại nhóm, từ đó dựa vào phản úng tạo kết tủa, có màu đặc
trưng hoặc có sủi bọt khí để giúp các em phân biệt. Để làm tốt dạng này giáo viên
hệ thống lại cách nhận biết cho các em dễ nhớ chẳng hạn như:
+ Các muối đồng thường có màu xanh
+ Dùng quì tím nhận ra axit và bazo: Axit quì hóa đỏ, bazo quì hóa xanh
+ Hay các muối có gốc- Cl dùng dung dịch AgNO3 thấy tạo kết tủa trắng
( AgCl)…
Ví dụ : Bằng phương pháp hóa học hãy nhận biết 3 dung dịch đựng trong 3 lọ mất
nhãn sau:
a, HCl, NaOH, NaNO3
b, NaCl, HCl, NaNO3
10
Câu a: Dùng quì tím nhận ra HCl ( quì hóa đỏ) , NaOH ( quì hóa xanh) Còn
NaNO3 ( quì không đổi màu)
Câu b: Dùng quì nhận ra HCl ( quì hóa đỏ), dùng dung dịch AgNO3 nhận ra NaCl
( có kết tủa trắng xuất hiện ), không có hiện tượng gì là NaNO3
III. Hiệu quả thực hiện
Qua thời gian giảng dạy và vận dụng những giải pháp nâng cao chất lượng học
sinh yếu kém môn hoá học nhận thấy tiết dạy sinh động hơn, không còn cảm giác
nặng nề như trước đây nhất là các em học sinh yếu kém tỏ ra có hứng thú học tập
bộ môn hơn trước và có ý thức tự học.
Cụ thể
+ Các em đã biết cách viết phương trình hoá học, viết được và gọi tên được các
công thức hoá học, cân bằng được phương trình hoá học, hiểu được các hiện tượng
xảy ra xung quanh.
+ Các em đã dự đoán được các sản phẩm tạo thành trong một phản ứng hoá học.
học sinh, ngoài kiểm tra trên giấy còn thực hiện vấn đáp.
- Khảo sát học sinh để so sánh, đánh giá tính sát thực, khả thi của sáng kiến. Khảo
sát lớp thực nghiệm và lớp đối chứng: 67 học sinh của 2 lớp thực nghiệm và 70 học
sinh của 2 lớp đối chứng.
- Hình thức khảo sát: Trắc nghiệm khách quan.
4. Lên lớp giờ chính khoá
- Trực tiếp lên lớp 5 giờ chính khoá (2 giờ lớp 10, 3 giờ lớp 11).
- Trao đổi, góp ý giáo viên làm với sự theo rõ, kiểm tra của người nghiên cứu.
5. Trao đổi với giáo viên bộ môn
- Trao đổi với cán bộ quản lý khoa về việc thực hiện dạy và học bộ môn, những
việc đã làm được, những việc chưa làm được, nguyên nhân trong dạy và học bộ
môn Hoá học.
- Trao đổi với giáo viên về thực trạng dạy và học môn hoá học ở tổ, trường. Những kiến
nghị, đề xuất của giáo viên.
12
Kết hợp giữa trao đổi cá nhân với việc tổ chức thảo luận chủ đề trong sinh
hoạt chuyên môn tại tổ, sinh hoạt chuyên môn tập trung.
V. Phân tích và xử lý số liệu thực nghiệm.
1. Kết quả điều tra lấy ý kiến thăm dò:
- Học sinh: Tất cả các ý kiến của giáo viên và học sinh đều cho thấy học sinh chưa
viết được phương trình phản ứng, chưa cân bằng được phương trình, chưa biết cách
gọi tên các chất, chưa biết cách giải các dạng bài tập cơ bản..
- Về nguyên nhân của sự yếu kém: Các ý kiến của học sinh đều xác định các
nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém của các em như đã nêu. Tuy nhiên tỉ lệ ở
mỗi lớp có khác nhau.
2. Kết quả áp dụng.
Bảng 1: Số lượng học sinh đạt từng loại điểm
9
4
3
3
1
4
8 12 5
2
1
9
10
Bảng 2: Tần suất(%) học sinh đạt điểm từng loại:
Lớp Sĩ số
TN
ĐC
31
34
% học sinh đạt từng loại điểm
0 1
2
3
4
5
6
7
3
4
5
6
7
8
3
7
9
6
7
3
1
6
8 12 3
3
1
9
10
13
Bảng 2: Tần suất(%) học sinh đạt điểm từng loại
2.2. Khối lớp 10 (Lớp Thực nghiệm (TN) là 10A5, lớp đối chứng (ĐC) là 10A4).
Lớp Sĩ số
TN
ĐC
8,1
2,8
8
2,7
9
10
Qua bảng kết quả trên ta thấy tỉ lệ học sinh yếu kém giảm, đồng thời tỉ lệ học
sinh trung bình, khá có tăng. Điều này chứng tỏ khi vận dụng các giải pháp trên
giúp các em tự tin hơn trong học tập.
C. K ẾT LUẬN -KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN:
Sự nhận thức sâu sắc và đúng đắn về nội dung kiến thức, hình thức tổ chức
và phương pháp giảng dạy dưới sự hướng dẫn của giáo viên trong tiết học đã trở
thành một yếu tố quan trọng để hình thành ở học sinh thối quen học tập tốt. Các
em đã nhận thức đúng đắn ý nghĩa của việc học và đang có thái độ học tập rất tốt.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số rất học sinh
(do yếu tố khách quan ) còn lơ là việc học đang cần được
sự phối hợp giáo dục toàn diện của các giáo viên bộ
môn, GVCN…
Do ®ã ®Ĩ s¸ng kiÕn nµy thµnh c«ng ®ỵc trong thùc tÕ th×
gi¸o viªn ph¶i cã t©m hut víi nghỊ, ®Çu t thêi gian cho mçi bµi
gi¶ng chÝnh khãa còng nh giê «n tËp.
Trªn ®©y lµ nh÷ng hiĨu biÕt cđa b¶n th©n t«i. Rất
mong ®ỵcù sự góp ý nhiệt tình và chân thành của ®ång
nghiƯp ®Ĩ b¶n th©n t«i rót kinh nghiƯm hoµn thµnh tèt nhiƯm
- Sách ôn tập hoá học
- NXBGD
- Để học tốt mơn hóa học10;11 - NXBGD
- S¸ch båi dìng chuyªn ®Ị Hãa Häc- NXBGD
15
- Tµi liÖu ph¬ng ph¸p gi¶ng d¹y bé m«n Hãa Häc cÊp THCS&THPT
16