Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn sinh học cho học sinh ở trường THPT triệu sơn 5 - Pdf 44

PHỤ LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

NỘI DUNG
Phụ lục
A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. Nội dung
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng học tập môn sinh của học sinh trường
THPT Triệu Sơn 5 hiện nay.
III. Một số giải pháp tạo hứng thú học tập đối với môn
sinh học.
IV. Hiệu quả của đề tài.
C. Kết luận

Về thực trạng học tập nói chung của học sinh trường THPT Triệu Sơn 5
hiện nay, do tính chất lịch sử khách quan nên tuyển sinh đầu vào không cao nên
bên cạnh những học sinh vui thích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ
phận không nhỏ các em không thích học, chán học, nguyên nhân là do lực học
còn yếu dẫn đến mất hứng thú học tập. Tình trạng chán học, không thích học do
mất hứng thú học này đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em
nói riêng và chất lượng giáo dục ở bậc THPT nói chung. Và đặc biết đối với lứa
tuổi THPT – lứa tuổi đang chuẩn bị bước vào bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời
là thi đại học thì việc mất hứng thú học tập làm cho các em mất động lực học
tập, điều này có có ảnh hưởng lớn tới tương lai của các em.
Trong những năm gần đây, tại trường THPT Triệu Sơn 5 thực trạng bộ
môn sinh học cũng không nằm ngoài xu thế chung đó vì thực tế mỗi năm học chỉ
có trung bình trên 10 học sinh đăng kí thi xét tốt nghiệp và tuyển sinh môn sinh
học.
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con
người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng
thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu
quả cao. Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế
cho thấy hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học
tập của các em.
Với tất cả những lí do trên tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp tạo
hứng thú học tập đối với môn Sinh học cho học sinh ở trường THPT Triệu
Sơn 5”.
II. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng hứng thú học tập của học sinh THPT đối với môn
sinh học. Từ đó, tìm ra mối quan hệ giữa hứng thú, động cơ, thái độ học tập và
kết quả học tập của học sinh THPT; góp phần xây dựng những phương pháp gây

2

kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và
trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Môn Sinh là bộ môn khoa học thực nghiệm. Đặc trưng của bộ môn là
những kiến thức xuất phát từ thực tế tự nhiên, từ cuộc sống đời thường. Để học
tốt môn Sinh học thì điều cần nhất là học sinh phải yêu thích và có hứng thú với
nó.
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của
chủ thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động
cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công
việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt
động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào
hành động đó. Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ
không đem lại kết quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động
học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ
không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực.
II. Thực trạng học tập môn sinh của học sinh trường THPT Triệu Sơn 5
hiện nay.
Qua thực tế giảng dạy tại trường THPT Triệu Sơn 5, tôi nhận thấy đa số
học sinh chưa có hứng thú học tập, trong đó có môn Sinh học, do nhiều nguyên
nhân như môn học có nhiều lí thuyết, khối B có ít trường tuyển sinh, các trường
tuyển sinh lại có điểm quá cao hoặc khó có cơ hội việc làm tốt, giáo viên dạy
chưa hấp dẫn, lôi cuốn…nên kết quả cuối năm của học sinh còn chưa cao.
Trước đây giảng bài tôi thường chú ý tới việc phải làm sao để truyền thụ
hết số lượng, nội dung kiến thức của bài mà chưa chú trọng tới việc khai thác
nội dung, kiến thức sao cho phù hợp với đối tượng học sinh mà đa số học sinh
của trường có học lực các môn tự nhiên ở mức trung bình yếu, vì vậy mỗi tiết
Sinh học đến với các em đều bị động, trầm và tẻ nhạt. Do đó, công việc của
người giáo viên lúc này là phải tìm ra phương pháp, cách thức phù hợp để học
sinh yếu kém gần gũi và có hứng thú yêu thích môn học, tích cực học tập để
ngày càng nâng cao chất lượng dạy và học.

Do ham chơi không để ý đến việc học tập nói chung
31,3%
Do ý thức học chưa cao, kết quả học lực yếu
29,77%
Do cảm thấy môn học quá khó, không có năng lực đối với môn sinh
16,03%
Do gia đình tác động
6,87%
Do ít trường xét tuyển, trường điểm quá cao hoặc không hấp dẫn
10,69%
Ý kiến khác: Thầy cô dạy chưa nhiệt tình, lôi cuốn…
5,34%
+ Đối với nhóm học sinh yêu thích môn sinh với câu hỏi “Những nguyên
nhân thúc đẩy bạn học tốt hơn”, thì thu được kết quả sau: Ngoài những nguyên
nhân gắn liền với mục đích học tập để thi vào trường đại học, còn có một số
nguyên nhân khác như: Giáo viên tạo không khí học tập vui vẻ; Do có niềm đam
mê với môn học; Do ý thức bản thân thấy được tầm quan trọng của việc học…
+ Học bài cũ và chuẩn bị bài mới:
Mức độ



Không
5


Tỉ lệ

41,76%



Yếu
43/171
(25,1%)

Kém
8/171
(4,6%)

Qua các kết quả điều tra trên, tôi nhận thấy đa số học sinh có thái độ mục
đích học tập tốt tuy nhiên số học sinh yêu thích môn Sinh học lại không nhiều,
điều đó chứng tỏ môn Sinh học chưa thực sự cuốn hút các em, không gây đựơc
hứng thú học tập của các em do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do ý thức học
tập chưa cao ham chơi, học lực yếu, điều đó chứng tỏ hiện tượng chán học, lười
học nhìn chung xuất phát từ chính bản thân các em nhưng bên cạnh đó một phần
cũng là do giáo viên chưa thực sự sâu sát và có phương pháp giảng dạy hợp lý
để lôi cuốn học sinh.
Do đa số học sinh không có hứng thú học tập đối với môn sinh nên việc
học bài cũ và chuẩn bị bài mới của học sinh không tốt, nhiều em không thực
hiện mà nếu có thực hiện cũng chủ yếu là mang tính chất đối phó với giáo viên
dẫn đến trong các giờ học môn sinh thường không khí rất trầm, ít học sinh chịu
khó hăng hái tham gia phát biểu xây dựng bài, học một cách thụ động do đó kết
quả học tập còn hạn chế, tỉ lệ học sinh yếu kém chiếm trên 30%.
Tóm lại, dựa vào kết quả điều tra những nguyên nhân chủ yếu của hiện
tượng chán, lười học và mức độ ảnh hưởng ít hay nhiều của các nguyên do thúc
đẩy việc học tập mà chúng ta có thể đề ra được những biện pháp phù hợp hơn
nhằm khuyến khích học sinh học tập tốt hơn.
III. Một số giải pháp tạo hứng thú học tập đối với môn sinh học.
1. Những đề xuất nhằm tạo động lực cho học sinh THPT tích cực học tập.
Để học sinh có hứng thú học tập môn sinh học nói riêng thì trước hết học

- Tích cực chuẩn bị bài, phát biểu xây dựng bài…
2. Một số giải pháp giúp học sinh có hứng thú học tập môn sinh học.
Từ việc nghiên cứu, điều tra về lý luận và thực tiễn trên, tôi xin đề xuất
một số phương pháp giúp học sinh THPT có hứng thú học tập đối với môn sinh
học, tạo tiền đề cho việc đạt kết quả học tập tốt:
2.1. Các giải pháp nhằm thay đổi thái độ, hành vi của học sinh đối với môn sinh
học:
- Do nguyên nhân chủ yếu của việc chán học, lười học là do học sinh
không có mục đích học tập rõ ràng, ý thức học tập chưa cao, học lực yếu và ham
chơi nên muốn nâng cao hứng thú học tập môn sinh học thì giáo viên phải làm
cho học sinh thấy được nhu cầu cần thiết học tập đối với môn sinh học để tạo
động cơ học tập. Động cơ học tập là muôn hình muôn vẻ, muốn phát động động
cơ học tập đúng đắn, động cơ chiếm lĩnh tri thức thì trước hết cần phải khơi dậy
ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì nhu cầu
7


chính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực học tập. Trong vấn đề này
ngoài việc giáo viên cho học sinh biết theo luật giáo dục thì môn sinh học cũng
như mọi môn học khác đều tham gia vào kết quả đánh giá xếp loại học lực
chung thì ở tiết học đầu tiên giáo viên nên giới thiệu thêm cho học sinh thấy
được triển vọng của môn sinh học. Tiếp đến khi vào giảng dạy ở mỗi phần,
chương và bài học giáo viên căn cứ vào nội dung cụ thể để vào vấn đề một cách
hấp dẫn nhằm khơi dậy trí tò mò, cuốn hút học sinh.
Ví dụ 1: Ở tiết học đầu tiên trước hết giáo viên giới thiệu sơ lược chương
trình môn học bậc THPT sau đó là một số đặc trưng bộ môn cũng như ý nghĩa,
triển vọng của sinh học trong tương lai: Môn Sinh là bộ môn khoa học thực
nghiệm. Đặc trưng của bộ môn là những kiến thức xuất phát từ thực tế tự nhiên,
từ cuộc sống đời thường. Kiến thức sinh học được ứng dụng để giải quyết nhiều
vấn đề thực tiễn, thế kỉ 21 là kỉ nguyên của công nghệ sinh học hay học tốt môn

người chỉ ăn mình rau sẽ dẫn đến bị suy dinh dưỡng? Tại sao phân tử glucozo
ngoài tự nhiên để bị oxi hóa thì cần phải có điều kiện nhiệt độ cao nhưng trong
cơ thể sống nó lại có thể xảy ra ở điều kiện nhiệt độ bình thường? Nội dung bài
học hôm nay sẽ giúp chúng ta giải quyết những câu hỏi đó.
- Tiếp theo để học sinh thấy được môn sinh học không phải là một môn học
khó nằm ngoài khả năng của học sinh thì giáo viên cần phải chú ý nội dung dạy
học phải bám sát chuẩn kiến thức – kĩ năng và giảm tải, cô đọng thật ngắn gọn
đủ ý và phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Các nguyên tố hóa học và nước đối với chương trình
chuẩn giáo viên chỉ cần dạy làm sao để về kiến thức học sinh có thể nêu được
các thành phần hóa học của tế bào; Kể tên được các nguyên tố cơ bản của vật
chất sống, đồng thời phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng;
Kể tên được các vai trò sinh học của nước đối với tế bào. Còn đối với chương
trình nâng cao giáo viên chỉ bổ sung thêm các nội dung: vai trò các nguyên tố
Ca, Mg ở thực vật hạt kín và động vật có vú; đặc điểm cấu tạo và tính chất
của phân tử nước; tăng độ vững chắc của màng TB.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Axitnucleic do học sinh đã được nghiên cứu về axit
nuclêic ở chương trình THCS. Tuy nhiên ở lớp 9, học sinh được học về axit
nuclêic là cơ sở vật chất ở cấp độ phân tử thuộc phần Di truyền học. Đến lớp 10,
kiến thức về axit nuclêic được nghiên cứu ở góc độ là thành phần cấu tạo nên tế
bào. Do đó giáo viên cần làm rõ sự khác biệt này tránh hiện tượng dạy lại kiến
thức gây nhàm chán cho học sinh, cụ thể giáo viên dạy cho học sinh biết được
Axit nuclêic gồm 2 loại là ADN và ARN, phân biệt sự khác nhau về cấu trúc dẫn
đến sự khác nhau về chức năng của 2 loại đó. Còn đối với học sinh khá, giỏi
phân biệt được sự khác nhau giữa ADN và ARN, các khái niệm bộ ba mã hoá,
mã hoá bộ ba, bộ ba đối mã sao.
Ví dụ 3: Khi dạy bài Vận chuyển các chất qua màng sinh chất ở chương
trình chuẩn giáo viên chỉ cần dạy để học sinh về kiến thức nêu được các con
đường vận chuyển các chất qua màng sinh chất. Phân biệt được các hình thức
vận chuyển thụ động, chủ động, xuất bào và nhập bào. Phân biệt được thế nào là

đoạn phát triển của bệnh, cách phòng tránh, cách ứng xử với người nhiễm HIV.
- Nội dung dạy học cần liên hệ thực tiễn địa phương để gây hứng thú,
gần gũi và dễ tiếp thu đối với học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài Vận chuyển các chất qua màng sinh chất giáo viên có
thể đặt câu hỏi cho học sinh:
Câu hỏi 1: Tại sao để cây trồng phát triển tốt cẩn phải bón phân cho cây?
Câu hỏi 2: Một bạn muốn cây nhanh tốt nên bón một lượng lớn phân đạm
vào gốc cho cây. Theo em việc làm của bạn đó có hợp lý hay không? Giải thích.
Câu hỏi 3: Vì sao khi truyền nước bổ sung vào cơ thể người, ta không nên
truyền nước cất mà phải truyền dung dịch nước muối sinh lí(0,09%)?
Câu hỏi 4: Vì sao khi xào rau, nếu cho gia vị sớm sẽ làm rau dai và mất
ngon?
Câu hỏi 5: Tại sao khi làm siro từ quả mơ, quả mơ lại có vị ngọt còn nước
siro lại có vị chua?
10


- Để học sinh thấy được môn sinh học không phải là một môn thiếu hấp
dẫn thì trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chỉ ra được cái mới, cái lí thú và
triển vọng của môn để tạo ra hứng thú vững chắc cho học sinh trong quá trình
học tập vì hành vi của con người phụ thuộc vào nhiều khả năng khách quan,
nhất là ở những học sinh có nhân cách chưa hình thành ổn định, chưa có mục
đích sống chủ đạo, cho nên môi trường khách quan cần có những điều kiện
thuận lợi để ươm mầm cho hứng thú phát triển. Đối với các thí nghiệm thực
hành giáo viên cần tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự làm (thí nghiệm tách chiết
AND, quan sát tế bào và vi sinh vật…).
Ví dụ: Khi dạy bài thực hành Tìm hiểu một số bệnh truyền nhiễm ở địa
phương, giáo viên có thể tổ chức như sau:
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm tương ứng với 4 tổ, mỗi nhóm có nhóm
trưởng và thư kí.

phải:
- Không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, cải tiến
phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày càng chính xác,
hấp dẫn, có chất lượng.
- Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được ý nghĩa và vai trò của các
kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinh biết cách học thích hợp đối
với mỗi bộ môn, tăng cường thời lượng, chất lượng thực hành cho mỗi bộ môn,
nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống và
giải quyết các tình huống trong đời sống theo các khía cạnh khác nhau.
- Giáo viên kết hợp nhiều phương pháp như: Cần có những bài giảng nêu
vấn đề, những giờ thảo luận trên lớp, dạy học theo nhóm, dạy học qua phiếu học
tập, dạy học sử dụng thí nghiệm, thuyết trình, những trò chơi mang tính chất
giáo dục… để kích thích hứng thú học tập cho các em.
- Giáo viên cần sử dụng triệt để đồ dùng dạy học, sử dụng công nghệ
thông tin để tạo hứng thú cho tiết học.
- Đổi mới đánh giá kết quả dạy học: Giáo viên có thể cho học sinh tự đánh
giá qua phiếu học tập sau bài học, hoặc giáo viên có thể đánh giá học sinh bằng
1 số câu hỏi củng cố. Vì đối với học sinh yếu, về nhà học bài các em rất lười.
Thường xuyên kiểm tra miệng và kiểm tra vở của học sinh để nắm bắt được việc
học bài, làm bài và chuẩn bị bài của học sinh để từ đó có cơ sở điều chỉnh kịp
thời. Đối với bài kiểm tra, giáo viên nên kết hợp cả trắc nghiêm và tự luận để có
thể kiểm tra tránh hiện tượng các em làm bài may rủi, đồng thời chấm bài khách
quan trả bài kịp thời cho học sinh.
- Trong quá trình giảng dạy phải quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học
sinh, hướng dẫn học sinh các phương pháp học và tự học cũng như nghiên cứu
tài liệu. Trong các giờ học tạo không khí học tập thoải mái, vui vẻ, khích lệ học
sinh tìm hiểu kiến thức và hăng say phát biểu xây dựng bài bằng những lời khen,
điểm số khi học sinh phát biểu đúng và nhiệt tình, đồng thời cũng phải có những
lời động viên hợp lý đối với học sinh phát biểu còn chưa chính xác chứ không
chê bai.

48%

Bình thường
60/167
36%

Không thích
27/167
16%

+ Học kì II:
Mức độ
Kết quả

- Kết quả học tập:
+ Tổng kết học kì I:
Loại
Tỉ lệ

Giỏi
5/171
(2,9%)

Khá
38/171
(22%)

Trung bình
77/171
(45,4%)

4/167
(2,2%)

Theo kết quả thu được, bước đầu các em đã có sự chuyển biến tích cực
trong tiết học, các em quan tâm tới bài học, biết quan sát, suy luận để giải thích
các hiện tượng thực tế. Đồng thời, các em tự tin chủ động hơn trong học tập tiếp
thu tương đối lượng kiến thức của bài, cơ bản nắm vững lí thuyết. Các em mạnh
dạn trao đổi với bạn bè, với giáo viên về bài học. Đối với tiết học có thuyết trình
hay thảo luận nhóm các em đã mạnh dạn hơn so với thời gian đầu năm học. Đặc
biệt từ kết quả trên cũng cho thấy hiệu quả rõ rệt về mặt chất lượng tỉ lệ học lực
trung bình, khá và giỏi đều tăng nhất là tỉ lệ học lực giỏi, còn tỉ lệ học lực yếu,
13


kém giảm đáng kể so với thời điểm cuối học kì I điều đó chứng tỏ đề tài bước
đầu đã mang lại những hiệu quả nhất định.

C. KẾT LUẬN

14


Việc thực hiện đề tài, một mặt giúp nắm bắt được mức độ hứng thú đối với
môn sinh học của học sinh. Đó là cơ sở để đề xuất các biện pháp phù hợp để
hình thành và nâng cao hứng thú học tập của học sinh nhằm giúp các em đạt kết
quả học tập tốt hơn.
Thực tế điều tra cho thấy, phần lớn học sinh đã nhận thức được tầm quan
trọng của học tập. Tuy nhiên, giữa nhận thức và hành động lại có sự mâu thuẫn.
Nguyên nhân căn bản là do chưa có động cơ học tập đúng đắn. Kinh nghiệm dạy
và học cho thấy: học sinh chỉ có kết quả học tập cao khi các em có hứng thú thật



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học (Nhà xuất bản Giáo dục –
Tháng 8/2006).
2. Sinh học 10 (Nguyễn Thành Đạt, Tổng Chủ biên – Phạm Văn Lập, Chủ
biên – Phạm Văn Ty - Nhà xuất bản Giáo dục – Tháng 6/2006).
3. Sinh học 10 nâng cao (Vũ Văn Vụ, Tổng Chủ biên – Vũ Đức Lưu, Chủ
biên – Nguyễn Như Hiền – Ngô Văn Hưng – Trần Quý Thắng – Phạm
Đình Quyến - Nhà xuất bản Giáo dục – Tháng 6/2006).
4. Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 môn Sinh học Tài liệu bồi dưỡng giáo viên (Phạm Văn Lập, Chủ biên - Nhà xuất bản
Giáo dục – Tháng 7/2006).
5. Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học lớp 10 – Ngô Văn Hưng, chủ
biên – Lê Hồng Điệp – Nguyễn Thị Hồng Liên.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status