Một số kinh nghiệm ôn luyện giúp học sinh THPT nâng cao điểm thi môn sinh học trong kỳ thi THPT quốc gia với mục đích xét tuyển đại học, cao đẳng - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đối với học sinh THPT kết quả thi THPT Quốc gia với mục đích xét tuyển
đại học, cao đẳng (trước đây gọi là kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng) đã trở
thành mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu, là động lực chi phối suy nghĩ và hành
động của các em. Kết quả thi THPT Quốc gia của học sinh không chỉ là dấu mốc
đánh dấu cho một sự khởi đầu mới, đó là giáo dục ở cấp cao hơn (giáo dục
chuyên nghiệp), mà nó còn mang tính chất quyết định đến sự lựa chọn môi
trường giáo dục chuyên nghiệp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí, động
lực, cống hiến... của mỗi cá nhân cho việc học tập, nghiên cứu và làm việc sau
này. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước cùng với ngành giáo dục đang
tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần NQ số 29 của
Trung Ương… thì kết quả thi THPT Quốc gia cao mang lại cho học sinh rất
nhiều lợi thế, từ tự tin xét tuyển đến việc lựa chọn cho mình môi trường giáo dục
chuyên nghiệp phù hợp với sở thích, nhu cầu và năng lực, điều này góp phần
không nhỏ đến đầu ra của các em sau này.
Nhưng để có được kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia thì không phải
là dễ dàng. Đặc biệt với môn Sinh học là môn thi trắc nghiệm, với đặc thù là phổ
kiến thức rộng, thời gian làm bài ngắn, học sinh phải kết hợp tốt cả kiến thức và
kĩ năng làm bài... để đạt được điểm cao thì lại càng khó.
Là một giáo viên giảng dạy môn Sinh học THPT, tôi luôn nhận thức rõ về
trách nhiệm của bản thân đối với hiệu quả của môn học. Bởi thế tôi đã không
ngừng suy nghĩ, học hỏi và rút ra những kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng,
ôn thi THPT Quốc gia môn sinh học. Những giải pháp hỗ trợ các em không chỉ
trong việc tiếp thu kiến thức mà còn mang lại kết quả đánh giá môn học tốt nhất,
những giải pháp này bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, làm tôi
yêu nghề hơn và mạnh dạn chia sẻ: “Một số kinh nghiệm ôn luyện giúp học
sinh THPT nâng cao điểm thi môn Sinh học trong kì thi THPT Quốc gia với
mục đích xét tuyển đại học, cao đằng” để cùng trao đổi với đồng nghiệp trong
quá trình giảng dạy.
1.2. Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về vai trò của môn Sinh học trong định
hướng nghề nghiệp của bản thân.
- Nhận thức về cấu trúc đề thi THPT Quốc gia và tìm hiểu về kĩ thuật ra đề
trắc nghiệm.
- Tổ chức áp dụng đề tài vào thực tế dạy thêm môn Sinh học THPT tại
trường THPT Triệu Sơn 3.
- Tiến hành so sánh, đối chiếu và đánh giá về hiệu quả của đề tài khi áp
dụng.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Môn Sinh học là môn được lựa chọn đánh giá theo hình thức trắc nghiệm
khách quan trong kì thi THPT Quốc gia, với thời gian làm bài 90 phút, học sinh
phải hoàn thiện 50 câu trắc nghiệm. Như vậy, mỗi câu trắc nghiệm trung bình
học sinh chỉ có 1,8 phút để thực hiện, trong khi đó hiện nay với cách thức ra đề
tích hợp, để trả lời mỗi câu trắc nghiệm đòi hỏi học sinh cùng lúc phải giải quyết
nhiều bài toán nhỏ liên quan. Vậy để có được kết quả cao trong kì thi THPT
Quốc gia đòi hỏi học sinh phải kết hợp tốt giữa kiến thức môn học và kĩ năng
làm bài.
Với phổ kiến thức trong thi trắc nghiệm được phủ khắp chương trình lớp
12, đồng thời kết hợp với đặc thù bộ môn Sinh học là kết hợp giữa lí thuyết –
thực hành – thực tiễn, kết hợp giữa các cơ chế với cơ sở lí luận... thì việc trang
bị kiến thức cho học sinh đã khó, nhưng học sinh vận dụng được những kiến
thức này vào giải quyết các vấn đề của môn học lại càng khó hơn.
Bên cạnh đó, kĩ năng làm bài trắc nghiệm lại cũng là khâu quyết định đến
hiệu quả đánh giá môn học. Thi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải nhanh nhạy
trong nhận định đề và giải quyết yêu cầu của đề. Làm thế nào để học sinh trả lời
2


đúng, trả lời trúng và trả lời nhanh? Thì đây lại là yêu cầu đặt ra đối với giáo

về kĩ thuật ra đề, từ đó có nhận định đúng, có cách làm đúng, cách làm phù hợp.
Đối với học sinh: Có nhiều nguyên nhân kiến cho học sinh ngày càng
không mặn mà với môn Sinh học, ngày càng ít học sinh lựa chọn thi khối B hay
sử dụng tổ hợp xét tuyển đại học có môn Sinh học, nhưng trong đó phải kể đến
hai nguyên nhân chính, đó là các trường chuyên nghiệp tuyển sinh khối B (hoặc
tổ hợp xét tuyển) ít và điểm đầu vào các trường, chuyên ngành này lại quá cao.
Trước thực trạng này nhiều trường THPT số học sinh học khối B rất ít, trong khi
đó những học sinh đã lựa chọn thi khối B thì môn Sinh học là môn mà các em
“ngại” học nhất trong các môn khối, bởi theo nhiều học sinh đây là môn rất đặc
thù, nhiều lí thuyết, lí thuyết thì khó nhớ, khó suy luận, bài tập dài, nhiều dữ
kiện, nội dung kiến thức tập trung vào chương trình 12 nên gây áp lực tâm lí...

3


Bên cạnh đó trường THPT Triệu Sơn 3, nơi tôi công tác là ngôi trường nằm
ở vùng cao nhất của huyện Triệu Sơn, một vùng được đánh giá là trũng cả về
kinh tế và giáo dục, vì thế nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể là nâng cao điểm
thi THPT Quốc gia ở đây không phải là vấn đề dễ dàng.
Thực trạng trên đã làm tôi trăn trở rất nhiều, tự kiểm điểm lại bản thân và
nghĩ ra rất nhiều phương án khác nhau để cải thiện, nhưng để nâng cao được kết
quả thi THPT Quốc gia thật không dễ, đòi hỏi phải có kế hoạch, phương pháp
hợp lí và kiên trì trong một khoảng thời gian dài.
2.3. Giải pháp thực hiện
2.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho học sinh về môn học
Từ khi thực hiện thay sách giáo khoa thì bản thân ở mỗi trường THPT
ngay từ đầu mỗi khóa học đều có sự khảo sát và sắp xếp lớp học cho phù hợp
với năng lực và nguyện vọng của học sinh. Môn Sinh học trở thành môn được
lựa chọn thi đại học khối B đối với học sinh học theo ban khoa học tự nhiên. Và
đối với giáo dục THPT thì kết quả thi THPT Quốc gia là khâu quan trọng nhất



Thứ hai: Tôi nhấn mạnh đối với học sinh để đạt được mục tiêu xét tuyển đại
học của mình thì “gánh nặng” tổng điểm cần chia đều cho 3 môn khối. Như vậy,
vừa phù hợp với khả năng phấn đấu của bản thân, khả năng đậu lại cao hơn rất
nhiều so với việc học lệch.
Ví dụ: Để đạt được điểm xét tuyển đại học là 21 điểm, nếu tính trung bình
mỗi môn phấn đấu 7 điểm thì không khó khăn gì, bởi mức 7 điểm đồi với đề thi
đại học là mức dành cho học sinh khá. Tuy nhiên, cũng với 21 điểm này, nếu học
lệch hoặc có mục tiêu sai như mục tiêu môn 1 là 10 điểm, tổng điểm môn 2 và
môn 3 là 11 điểm. Với mục tiêu như thế này học sinh đó chỉ chuyên tâm vào
môn 1, còn sơ cua đối với môn 2 và môn 3. Tuy nhiên, để môn 1 đạt 10 điểm
không phải là dễ dàng, trong khí đó việc quan niệm sơ cua, không chú tâm thì
môn 2 và môn 3 của học sinh này cũng chưa chắc được tổng 11 điểm. Trong
thực tế cũng đã không ít học sinh có kết cục như vậy.
Thứ ba: Tôi khẳng định với học sinh là các em vẫn còn 3 năm để nuôi ước mơ,
để thay đổi tương lai và để nhận thức đúng hơn về “nghề” và “nghiệp”, vì thế
ngay từ bây giờ các em phải nổ lực trong học tập, tu dưỡng, không nên sao
nhãng với bất kì môn học nào, trong đó có môn Sinh học. Bởi không ít học sinh
không đặt mục tiêu xét tuyển đại học, cao đẳng môn Sinh ngay từ đầu, không để
ý nhiều đến học tập môn Sinh học nhưng rồi đầu lớp 12, thậm chí mãi đến học
kì II của lớp 12 lại đột ngột chuyển sang thi khối B và lúc đó mới bắt đầu
chuyên tâm học môn Sinh học. Điều này sẽ gây khó khăn cho chính học sinh đó,
gây sốc vì học dồn dập một khối lượng kiến thức lớn... và từ đó sẽ dẫn đến kết
quả thi đại học không cao.
2.3.2. Biện pháp 2: Nâng cao nhận thức cho học sinh về hình thức thi trắc
nghiệm và bước đầu hướng dẫn học sinh cách làm bài thi trắc nghiệm.
Tôi nhận thức rõ sự cần thiết nâng cao nhận thức cho học sinh về thi trắc
nghiệm, bởi đây là hình thức đánh giá khá mới mẻ đối với học sinh mới bước
vào THPT. Khác với cách đánh giá truyền thống là thi tự luận thì thi trắc nghiệm

làm bài trắc nghiệm như sau:
Thứ nhất: Với mỗi câu trắc nghiệm chỉ được lựa chọn một phương án trả lời.
Thứ hai: Đọc kĩ lời dẫn của đề trước khi suy luận để tìm ra phương án trả lời
(đối với câu lí thuyết) hoặc tính toán tìm kết quả (đối với câu bài tập).
Thứ ba: Đối với câu lí thuyết ngay cả khi thấy phương án A là phù hợp thì vẫn
cần phải kiểm tra các phương án còn lại, vì có thể đây chưa phải là phương án
đúng. Đối với câu bài tập tính toán, để làm trắc nghiệm hiệu quả thì cần phải rèn
luyện khả năng giải bài tập tự luận. Vì vậy, tuy là thi trắc nghiệm nhưng không
thể xem nhẹ kĩ năng làm bài tự luận.
Thứ tư: Chú trọng trau rồi kiến thức lí thuyết. Với đặc thù môn Sinh học thì lí
thuyết vẫn chiếm trọng lượng lớn trong đề thi THPT Quốc gia, đặc biệt lí thuyết
lại là cơ sở của nhiều dạng bài tâp (bởi khác với các môn khác bài tập được khai
thác từ các công thức thì môn Sinh học trong toàn bộ chương trình THPT xuất
hiện rất ít công thức vận dụng mà đa số bài tập phải tự suy luận từ lí thuyết căn
bản).
Với những hướng dẫn bước đầu để học sinh làm quen với hình thức đánh
giá trắc nghiệm này, tôi yêu cầu học sinh ghi chép cẩn thận. Tuy rằng, ban đầu
học sinh sẽ thấy mơ hồ về các kĩ năng này, nhưng kết hợp với quá trình rèn
luyện dần qua các đơn vị kiến thức thì những kĩ năng này lại trở nên rất hữu ích,
góp phần không nhỏ vào thành tích học tập của các em.
2.3.3. Biện pháp 3. Bồi dưỡng, bổ sung kiến thức cho học sinh.
Cấu trúc đề thi THPT Quốc gia được chia thành 7 phần, tương ứng với 7
chuyên đề nghiên cứu như sau:
Chuyên đề 1. Cơ chế di truyền, biến dị.
Chuyên đề 2. Tính quy luật của hiện tượng di truyền.
Chuyên đề 3. Ứng dụng di truyền vào chọn giống.
Chuyên đề 4. Di truyền quần thể.
Chuyên đề 5. Di truyền học người.
Chuyên đề 6. Tiến hóa.
Chuyên đề 7. Sinh thái.

cho học sinh sơ đồ xác định như sau:
Tính trạng phụ thuộc chủ yếu
vào môi trường

Đồng sinh
cùng trứng

Nuôi ở 2 môi trường

Cho 1 kiểu hình

Cho 2 kiểu hình

Tính trạng phụ thuộc chủ yếu
vào kiểu gen

7


Tính trạng phụ thuộc chủ yếu
vào môi trường

Đồng sinh
khác trứng

Nuôi ở 1 môi trường

Cho 1 kiểu hình

Cho 2 kiểu hình


8


Ví dụ: Nếu gen gây bệnh nằm trên NST X --> sự di truyền của gen bệnh
tuân theo quy luật di truyền chéo. Nếu gen gây bệnh nằm trên NST Y --> sự di
truyền của gen bệnh tuân theo quy luật di truyền thẳng.
Chú ý: Những bước nào đề đã cho hoặc không yêu cầu thì bỏ qua. Tuỳ
vào từng bài cụ thể mà thứ tự các bước có thể thay đổi.
Sau khi đã có phương pháp tổng quát để giải bài tập, tôi tiến hành hướng
dẫn các em luyện tập để nắm chắc được kĩ năng làm bài.
Ví dụ: Câu 9 (ĐH 2011 – Mã đề 248) Cho sơ đổ phả hệ sau:


Sơ đồ phả hệ trên mô tả sự di truyền một bệnh ở người do một trong hai
alen của một gen quy định. Biết rằng không xảy ra đột biến ở tất cá các cá thể
trong phả hệ. Trong những người thuộc phả hệ trên, những người chưa thể xác
định được chính xác kiểu gen do chưa có đủ thông tin là:
A. 8 và 13
B. 1 và 4
C. 17 và 20
D. 15 và 16
Hướng dẫn giải:
Bước 1. Bỏ qua bước này (vì đề bài đã cho phả hệ và chú thích các kí hiệu).
Bước 2. Xét P: III12 x III13 ta thấy, bố mẹ bị bệnh nhưng sinh con bình thường,
nên tính trạng bệnh phải do gen trội quy định và không xuất hiện tính trạng
trung gian nên tính trạng trội là trội hoàn toàn.
Bước 3.
- Tính trạng bệnh xuất hiện ở cả nam và nữ nên gen quy định không thuộc NST
Y.

aa

aa

?

Buớc 6. Khẳng định yêu cầu của đề bài. Căn cứ vào sơ đồ kiểu gen của phả hệ
vừa tìm được ta có thể kết luận đáp án cần chọn theo yêu cầu của đề bài: Trong
những người thuộc phả hệ trên, những người chưa thể xác định được chính xác
kiểu gen do chưa có đủ thông tin là: Cá thể số 17 và 20.
→ Đáp án C. 17 và 20
Với cách chia nhỏ nội dung thành các đơn vị kiến thức, đồng thời hướng
dẫn chi tiết tiến trình giải quyết yêu cầu của đề tạo sự thống nhất về nội dung, sự
liền mạch trong tư duy và kết quả học sinh đã tiếp thu tốt kiến thức lại còn vận
dụng linh hoạt kiến thức lĩnh hội được.
Thứ ba: Bổ sung ngay câu hỏi trắc nghiệm tương ứng với từng đơn vị kiến thức
và yêu cầu học sinh nghiêm túc thực hiện.
Sau mỗi đơn vị kiến thức có thể là một mục, một bài lí thuyết, một dạng
bài tập, một nội dung kiến thức hay đôi khi là một chuyên đề, một phần... tôi đều
tìm tòi, thiết kế cho các em đề trắc nghiệm phù hợp với đơn vị kiến thức đó, điều
này vừa giúp các em củng cố ngay kiến thức vừa học nhưng đồng thời còn tăng
cường khả năng tư duy, vận dụng vào trả lời trắc nghiệm, cũng như kết hợp để
rèn luyện kĩ năng làm bài trắc nghiệm cho học sinh.
Ví dụ: Sau khi dạy về phương pháp giải bài tập khai thác bài toán từ phả
hệ và cho học sinh luyện tập, thì tôi yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức và
kĩ năng vừa học vào thực hiện đề trắc nghiệm ở phụ lục 1.
Kết quả làm trắc nghiệm ở mỗi đề này tôi đều lưu lại, để lấy cơ sở đánh
giá khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức và sự tiến bộ của các em.
2.3.4. Biện pháp 4. Gắn việc bồi dưỡng, bổ sung kiến thức với việc kiểm tra,
đánh giá học sinh qua từng chuyên đề.

thuộc nội dung hoặc chuyên đề cần kiểm tra.
Ví dụ: Sau khi học xong phần 1: Cơ chế di truyền, biến dị cấp phân tử
thuộc chuyên đề cơ chế di truyền, biến dị tôi thiết kế đề kiểm tra như ở phụ lục
2.
Bước 2. Tiến hành kiểm tra trong thời gian 90 phút.
Bước 3. Thu bài, chấm bài và tổng hợp kết quả đạt được của mỗi học sinh.
Bước 4. Sửa bài và đánh giá khả năng tiếp thu của các em qua nội dung hoặc
chuyên đề. Quá trình chấm bài tôi liệt kê các câu sai của mỗi học sinh, từ đó tiến
hành phân tích về:
- Khả năng tiếp thu của học sinh.
- Khả năng vận dụng kiến thức đã học.
- Sự linh hoạt, mức độ nhạy bén và khả năng huy động kiến thức liên quan.
Ví dụ: Em Phạm Đình Dương; trung bình các bài trắc nghiệp sau từng
đơn vị kiến thức ở nội dung 2: cơ sở vật chất, cơ chế di truyền và biến dị cấp tế
bào của em rất tốt, đạt 9,75 điểm. Tuy nhiên, khi làm bài tổng hợp về kiến thức
phần này (50 câu trắc nghiệm) thì em lại vướng mắc ở 2 câu, cụ thể:

11


Câu 1: Ở 1 loài 2n = 10, giả sử cặp NST số I chỉ chứa 1 cặp gen dị hợp và xảy ra
trao đổi chéo đơn, cặp NST số II chỉ chứa 2 cặp gen dị hợp và xảy ra trao đổi
chéo kép, các cặp NST khác đều có cấu trúc khác nhau và không xảy ra trao đổi
chéo trong giảm phân. Số loại giao tử tối đa tạo ra là
A. 256.
B. 64.
C. 128.
D. 8.
Đáp án em Dương chọn là đáp án A.
Câu 2. Ở người, bộ nhiễm sắc thể 2n = 46. Số nhóm gen liên kết ở nam là

em chỉ đạt ở mức trung bình.
Bước 5. Gửi kết quả về gia đình. Kết quả đạt được của các em sau mỗi nội dung
hoặc chuyên đề cùng những nhận xét về khả năng tiếp thu; vận dụng kiến thức;
ý thức học tập; khả năng phát huy…tôi gửi về gia đình các em và yêu cầu phản
hồi từ phía phụ huynh.
Ví dụ: Thông báo kết quả như ở phụ lục 3.
Với cách làm này không chỉ có thể kịp thời nắm bắt, nhận xét, đánh giá về
khả năng của từng học sinh mà còn kịp thời phối hợp với phụ huynh học sinh
trong giáo dục các em, tạo sự đồng thuận, sự ủng hộ từ phía gia đình các em.
12


2.3.5. Biện pháp 5. Ôn tập tổng hợp
Bước 1. Phân nhóm đối tượng học sinh theo khả năng tiếp thu.
Do sâu sát với học sinh từ lớp 10 THPT nên đến giai đoạn ôn tập cuối
khóa chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia bản thân tôi có thể đánh giá chính xác
khả năng tiếp thu của từng học sinh. Từ kết quả các lần khảo sát, tôi chia các học
sinh thành hai nhóm với dự kiến điểm thi THPT Quốc gia tương ứng như sau:
Nhóm 1: Nhóm có khả năng đạt từ điểm 7 trở lên.
Nhóm 2: Nhóm có khả năng đạt dưới điểm 7.
Sau khi chia nhóm, tôi tiến hành:
- Cho học sinh đăng kí lại mục tiêu điểm thi THPT Quốc gia của bản thân đối
với môn Sinh học. Căn cứ để đăng kí là dựa vào hai kênh thông tin:
Một là: Điểm trung bình các bài kiểm tra khảo sát sau khi học xong các nội dung
hoặc chuyên đề.
Hai là: Điểm trung bình môn Sinh học các lần tham gia khảo sát thi THPT Quốc
gia do nhà trường tổ chức. Đây là một kênh thông tin đáng tin cậy, bởi nhiều
năm trở lại đây các trường THPT đều cho học sinh khảo sát kiến thức thi THPT
Quốc gia, đề khảo sát tuân thủ cấu trúc của Bộ GD – ĐT, được thẫm định và coi
thi nghiêm túc bởi các giáo viên trong trường.

5,6
4,8
5,2
5,4






- Nêu yêu cầu đối với mỗi nhóm ở mỗi bài trắc nghiệm.
Đối với nhóm 1: Yêu cầu các em hoàn thiện tất cả các câu trắc nghiệm.
Đối với nhóm 2: Yêu cầu học sinh tập trung hoàn thiện 30 câu đầu tiên
trong mỗi đề (đề 50 câu được sắp xếp từ dễ đến khó) hoặc đối với đề không sắp
xếp các câu từ dễ đến khó thì tôi đánh dấu các câu khó và yêu cầu học sinh phải
hoàn thiện các câu dễ trước sau đó mới được làm các câu khó. Cuối cùng thì câu
nào cũng phải lựa chọn phương án trả lời.
Bước 2. Bổ sung một số kĩ năng làm bài trắc nghiệm cho học sinh.
Thứ nhất: Câu đã chắc chắn có phương án đúng, phải khoanh ngay vào tờ đề
và tô vào phiếu trả lời trắc nghiệm, còn những câu còn lưỡng lự, chưa làm... thì
phải có kí hiệu riêng trên đề để sau đó quay trở lại kiểm tra hoặc làm.

13


Thứ hai: Những từ ngữ dễ bị nhầm lẫn thì phải gạch chân hoặc khoanh tròn để
chú ý khi làm bài. Ví dụ: Chọn kết luận sai hoặc không đúngcho các phát biểu
sau? Thì học sinh cần gạch chân chữ sai hoặc chữ không đúng để tránh nhầm
lẫn khi lựa chọn các đáp án.
Thứ ba: Với nhưng câu trắc nghiệm phải đếm số phương án thì với mỗi phương

kết quả tốt thì tôi đã tiến hành như sau:
Thứ nhất. Thiết kế đề
Đề cho học sinh làm trong giai đoạn này cần:
Một là: Đúng theo cấu trúc của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc ra đề thi
hay lựa chọn đề thi trên mạng cho học sinh làm, tôi đều thận trọng lựa chọn
những đề thi theo đúng cấu trúc của Bộ, vì thế học sinh sẽ có cái nhìn tổng quát
về trọng lượng các phần kiến thức và mức độ nhận biết ở mỗi phần.

14


Hai là: Phân loại câu hỏi theo mức độ nhận thức. Từ năm 2015 khi thực
hiện kì thi THPT Quốc Gia, đề thi được ra chung để xét tốt nghiệp và đại học
nên đề đã có sự sắp xếp rất rõ ràng các câu hỏi từ dễ đến khó, các câu thuộc mức
độ dễ (mức độ nhận biết và thông hiểu) được xếp ở 30 câu đầu tiên, còn các câu
khó, có tính phân loại sắp xếp ở 20 câu tiếp theo. Với cách làm này của Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã tạo thuận lợi cho học sinh, đặc biệt học sinh thi THPT Quốc
gia chỉ với mục đích xét tốt nghiệp, từ đó xu hướng ra đề của nhiều trường trên
cả nước cũng bám theo cấu trúc này, đây được coi là bước đột phá trong công
tác ra đề. Tuy nhiên, ở những năm trước nhận thức được tầm quan trọng của
việc phân loại học sinh, nên với mỗi đề thi tuy chưa sắp xếp các câu dễ tới khó
như hiện nay nhưng tôi đã đánh dấu những câu khó trong đề trước khi photo đưa
cho các em làm bài.
Thứ 2. Làm đề, đánh giá kết quả.
Thực hiện bước này, tôi yêu cầu học sinh:
- Sắp xếp chỗ ngồi: Tôi chia các em ngồi thành hai dãy, tương ứng với hai nhóm
học sinh mà tôi đã phân loại. Với cách bố trí này, những em thuộc nhóm một sẽ
ngồi một bên và những em thuộc nhóm hai sẽ ngồi bên còn lại.
- Phát đề, yêu cầu các em ghi tên vào tờ đề và làm bài trong thời gian 90 phút
như quy định của Bộ Giáo dục.

khăn, kể cả đối với học sinh giỏi.
Tuy nhiên, để khắc sâu kiến thức đối với học sinh, tôi yêu cầu các em phải
chỉ ra được:
- Với câu trắc nghiệm chọn phương án đúng thì các phương án còn lại sai ở chỗ
nào? Từ đó học sinh phải chỉ ra được lí do sai ở mỗi phương án, nó có thể sai ở
một từ, một cụm từ hoặc nghĩa của câu…
Ví dụ: Câu 32 (ĐH 2014 – Mã đề 169): Khi nói về đột biến cấu trúc
nhiễm sắc thể, phát biểu nào sau đây đúng?
A. Đột biến đảo đoạn làm cho gen từ nhóm liên kết này chuyển sang nhóm liên
kết khác (Đột biến đảo đoạn không làm thay đổi nhóm gen liên kết).
B. Đột biến chuyển đoạn có thể không làm thay đổi số lượng và thành phần gen
của một nhiễm sắc thể.
C. Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể chỉ xảy ra ở nhiễm sắc thể thường mà không
xảy ra ở nhiễm sắc thể giới tính (Đột biến cấu trúc NST xảy ra ở cả NST thường
và NST giới tính).
D. Đột biến mất đoạn không làm thay đổi số lượng gen trên nhiễm sắc thể (Đột
biến mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST).
- Với câu trắc nghiệm chọn phương án trả lời sai (hoặc không đúng), thì học
sinh cũng phải nêu rõ phương án đó sai ở chỗ nào?
Ví dụ: Câu 27 (ĐH 2014 – Mã đề 169): Khi nói về quần xã sinh vật, phát
biểu nào sau đây không đúng?
A. Quần xã càng đa dạng về thành phần loài thì lưới thức ăn càng đơn giản.
B. Sinh vật trong quần xã luôn tác động lẫn nhau đồng thời tác động qua lại với
môi trường.
C. Mức độ đa dạng của quần xã được thể hiện qua số lượng các loài và số lượng
cá thể của mỗi loài.
D. Phân bố cá thể trong không gian của quần xã tùy thuộc vào nhu cầu sống của
từng loài.
Học sinh phải chỉ ra được phương án A không đúng ở chỗ: Quần xã càng
đa dạng thành phần loài thì lưới thức ăn càng phức tạp.

7,2
7,0

3
Lê Thị Hà
5,4
5,0
5,0







Sau khi có kết quả mỗi lần làm đề tôi đều đánh giá mỗi học sinh về các
mặt như: Ý thức học tập, ý thức làm bài, sự tiến bộ, khả năng đạt và vượt mục
tiêu đặt ra của bản thân. Từ đó, tạo động lực, xây dựng niềm tin để các em tiếp
tục phấn đấu và qua đây cũng là cảnh báo kịp thời với những em có xu hướng đi
xuống hoặc chậm tiến bộ.
Thứ tư. Dặn dò học sinh trước kì thi THPT Quốc Gia
- Viết và tô mã đề ngay khi được phát đề.
- Bình tĩnh làm bài.
- Tận dụng thời gian phát đề để làm ngay bài thi.
- Làm được câu nào thì khoanh đáp án ngay vào tờ đề và tô ngay vào tờ phiếu
trả lời trắc nghiệm, tránh để cuối giờ thi dồn dập có thể dẫn đến tô nhầm.
- Nháp ngay vào các khoảng trống của đề.
- Chỉ được đối chiếu bài làm của mình với đáp án của Bộ GD – ĐT khi đã hoàn
tất cả đợt thi. Điều này giúp các em tránh được hoang mang không cần thiết và
ảnh hưởng tới tâm lí làm bài tiếp theo.


Khoảng điểm
0  2,0

2.0 
5,0

5.0 
6.5

6.5 
8,0

8.0 
10

Điểm
TB

32

0

5

16

7

4

từ 9 điểm trở lên. Trong đó, em Nguyễn Thị Linh đạt 9,4 điểm; em Nguyễn Thị
Hương đạt 9,2 điểm; đặc biệt, em Hà Sỹ Tùng xuất sắc khi đạt 9,8 điểm. Bên
cạnh đó thống kê điểm thi môn Sinh học từ 8 điểm trở lên cả lớp có tới 8 học
sinh, chiếm 23,5%, trong khi tỉ lệ điểm thi này của cả nước là rất thấp (chỉ chiếm
khoảng 10%).
Tuy rằng, các em đều thuộc lớp có điểm đầu vào cao nhất khối, nhưng để
có được kết quả này thì không phải dễ dàng. Kết quả đạt được của các em trong
kì thi THPT Quốc gia 2015, không chỉ cho thấy sự nỗ lực của chính bản thân các
em, mà còn khẳng định sự hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm, sự tác động tích
cực trong phương pháp ôn luyện tới kết quả thi THPT Quốc gia.
Đối với hoạt động dạy học của bản thân:
Bản thân tôi được trau rồi về kiến thức ôn luyện môn Sinh học và kĩ năng
làm bài trắc nghiệm, sự phối kết hợp giữa kiến thức môn học và kĩ năng làm bài
chính là yếu tố quyết định đến kết quả thi THPT Quốc gia, đóng góp vào thành
tích chung của môn học. Kết quả mà các em đạt được ở cuối khóa học càng
củng cố thêm niềm tin của bản thân tôi vào phương pháp ôn luyện đồi với các
em, tạo động lực để tôi tiếp tục hoàn thiện, nâng cao ở các khóa học tiếp theo.
Đối với hoạt động dạy học của tổ chuyên môn và nhà trường:
Sáng kiến kinh nghiệm đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động dạy học
của các đồng chí trong nhóm chuyên môn, bởi tôi thường xuyên trao đổi về kế
hoạch, phương pháp, cách thức ôn luyện thi THPT Quốc gia trong các buổi sinh
hoạt chuyên môn. Điều này góp phần đổi mới trong cách thức sinh hoạt tổ
chuyên môn, đồng thời mang lại hiệu quả giáo dục tích cực. Ngoài ra, sự hiệu
quả bước đầu của đề tài cũng đã ảnh hưởng đến nhiều đồng nghiệp khác trong
trường, đặc biệt với các đồng nghiệp giảng dạy môn Lí, Hóa và Ngoại ngữ, bởi
những môn này hình thức đánh giá trong kì thi THPT Quốc gia cũng là thi trắc
nghiệp.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Là một giáo viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học tôi đã

Nội dung: Khai thác bài toán từ phả hệ
Câu 1: Ở người, tính trạng hình dạng lông mi do một gen có 2 alen nằm trên 1 cặp NST
thường qui định, di truyền theo qui luật trội hoàn toàn. Xét một cặp vợ chồng: Người vợ lông
mi cong có anh trai lông mi thẳng, bố và mẹ đều lông mi cong. Người chồng lông mi cong có
em gái lông mi thẳng. Xác suất để cặp vợ chồng này sinh con đầu lòng lông mi cong là bao
nhiêu?
A. 5/9.
B. 3/4.
C. 8/9.
D. 1/9.
Câu 2: Ở người tính trạng tóc quăn là trội so với tính trạng tóc thẳng, gen qui định chúng nằm
trên NST thường. Hai vợ chồng đều có tóc quăn, người em gái của chồng và người em trai
của vợ đều có tóc thẳng. Biết (ông bà nội và ngoại đều tóc quăn) . Khả năng cặp vợ chồng này
sinh đứa con có tóc thẳng xấp xỉ là:
A. 17,36%
B. 66,67%
C. 5,56%
D. 11,11%
Câu 3: Bệnh mù màu đỏ và lục ở người do gen đột biến lặn nằm trên nhiễm sắc thể X không
có alen tương ứng trên Y. Bệnh bạch tạng lại do một gen lặn khác nằm trên nhiễm sắc thể
thường qui định. Một cặp vợ chồng đều không mắc cả 2 bệnh trên, người chồng có bố và mẹ
đều bình thường nhưng có cô em gái bị bạch tạng. Người vợ có bố bị mù màu và mẹ bình
thường nhưng em trai thì bị bệnh bạch tạng.
Xác suất để cặp vợ chồng này sinh con trai mắc đồng thời cả 2 bệnh trên :
A. 1/12
B. 1/24
C. 1/36
D. 1/8
Câu 4: Ở người gen bạch tạng do gen lặn (a) nằm trên NST thường quy định , bệnh máu khó
đông do gen lặn b nằm trên NST giới tính X. Một cặp vợ chồng, bên phía người vợ có bố bị

C. Bệnh do gen lặn nằm trên NST thường qui định
D. Bệnh do gen trội nằm trên NST thường qui định
20


Câu 7: Khảo sát sự di truyền bệnh M ở người qua ba thế hệ như sau :
I

Nam bình thường
1

2

3

4

Nam bị bệnh M

II
1

2

3

Nữ bình thường

4


3
8
6
4
Câu 9. Quan sát phả hệ mô tả sự di truyền của một bệnh qua bốn thế hệ, tính trạng bệnh do
một đột biến gen tạo ra. Tính trạng bệnh do

A. đột biến gen lặn trên NST thường.
C. đột biến gen trội trên NST thường.
Câu 10. Cho sơ đồ phả hệ sau:
I

B. đột biến gen trên NST giới tính Y.
D. đột biến gen trội trên NST giới tính X.

Qui ước:

: Nam bình thường

II
Nam bị bệnh

III

Nữ bình thường
: Nữ bị bệnh
?

21


D. Đột biến gen dạng thay thế một hoặc một số cặp nu ở bộ ba mã hoá axít
amin thứ 270.
Cõu 2: Mt gen cú 600 Adenin, trờn mt mch cú 20% Guanin. Khi gen sao mó, mụi trng
ni bo cung cp 1200 Uraxin, 600 Adenin v 2700 Guanin v Xitoxin. Chiu di ca gen ú
l:
A. 4080 A0
B. 2040 A0
C. 5100 A0
D. 3060 A0
Cõu 3: Một gen bị đột biến do tác nhân đột biến là chất 5- BU. Phải
qua mấy lần nhân đôi mới phát sinh gen đột biến và số gen không mang
đột biến cặp G - X là:
A. 1; 2.
B. 2;1
C. 3;7
D. 3; 8
Cõu 4: Nhn nh no di õy cha chớnh xỏc khi núi v biu hin ca t bin gen?
A. t bin gen xut hin t bo sinh dng s di truyn qua c ch nhõn ụi ca ADN.
B. t bin gen thng di truyn cho th h sau.
C. t bin gen xut hin trong quỏ trỡnh hỡnh thnh giao t s i vo hp t.
D. t bin gen xut hin giai on tin phụi cú th di truyn cho th h sau.
Cõu 5: Khi núi v tn s t bin gen, nhn nh no sau õy cha chớnh xỏc:
A. tn s t bin gen t l thun vi chiu di ca gen.
B. tn s t bin gen ph thuc vo kiu gen.
C. tn s t bin gen ph thuc vo s ln nhõn ụi ca ADN
D. trong cựng mt kiu gen, cỏc gen u cú tn s t bin nh nhau.
Cõu 6: Gen là một đoạn AND mang thông tin mã hoá cho:
(1) chuỗi polypeptit;
(2) ARN;
(3) exon và intron.

sao chép ADN của E. coli nhanh hơn ở người khoảng 10 lần. Những cơ chế nào giúp toàn bộ
hệ gen người có thể sao chép hoàn chỉnh chỉ chậm hơn hệ gen E. coli khoảng vài chục lần:
A. Người có nhiều loại ADN polymerase hơn E. Coli
B. Tốc độ sao chép ADN của các enzym ADN polymerase ở người cao hơn
C. Hệ gen người có nhiều điểm khởi đầu sao chép
D. Ở người, quá trình sao chép không diễn ra đồng thời với các quá trình phiên mã và dịch mã
như ở vi khuẩn.
Câu 12: Ở cấp độ phân tử, cấu tạo của vật chất hữu cơ khác hợp chất vô cơ về:
A. chức năng của các nguyên tố
B. mức độ hoạt động của các nguyên tố
C. thành phần, hàm lượng của các nguyên tố
D. tính chất của các nguyên tố
Câu 13: Nhận định nào dưới đây chưa đúng?
A. Tất cả đột biến gen khi phát sinh đều có thể biểu kiểu hình của cơ thể.
B. Đột biến gen nhân sẽ di truyền cho thế hệ sau.
C. Đột biến gen khi phát sinh sẽ được tái bản qua cơ chế tự nhân đôi của ADN.
D. Đột biến gen là những biến đổi xảy ra trên phân tử ADN.
Câu 14: Một nhà hoá sinh học đã phân lập và tinh sạch được các phân tử cần thiết cho quá
trình sao chép ADN. Khi cô ta bổ sung thêm ADN, sự sao chép diễn ra, nhưng mỗi phân tử
ADN bao gồm một mạch bình thường kết cặp với nhiều phân đoạn ADN gồm vài trăm
nucleôtit. Nhiều khả năng là cô ta đã quên bổ sung vào hỗn hợp thành phần gì?
A. ARN polymeraza.
B. Primaza (enzim mồi).
C. ADN polymeraza.
D. ADN ligaza.
Câu 15: Đột biến điểm là:
A. những biến đổi trong cấu trúc của gen
B. những biến đổi trong cấu trúc của ADN hoặc ARN
C. những biến đổi trong vật chất di truyền
D. những biến đổi kiểu gen thể gây chết hoặc giảm sức sống--------Câu 17: Cơ chế điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân thực phức tạp hơn ở sinh vật

Câu 20: Trong quá trình nhân đôi ADN, enzym ADN pôlimeraza có vai trò
A. lắp ráp các nuclêôtit vào đầu 3/-OH theo nguyên tắc bổ sung.
B. tổng hợp các đoạn mồi cho quá trình nhân đôi.
C. bám vào ADN để cắt đứt các liên kết hiđrô và tháo xoắn phân tử ADN.
D. nối các đoạn Okazaki với nhau tạo thành mạch mới bổ sung hoàn chỉnh.
Câu 21: Một gen qua 5 lần sao mã hình thành 3745 mối liên kết hóa trị trong các phân tử
ARN và có 9750 liên kết hiđrô bị phá vỡ. Số lượng nuclêôtit từng loại của gen là
A. A = T = 400; G = X = 350.
B. A = T = 350; G = X = 400.
C. A = T = 300; G = X = 450.
D. A = T = 450; G = X = 300.
Câu 22: Đặc điểm nào sau đây có cả ở quá trình phiên mã của sinh vật nhân thực và sinh vật
nhân sơ?
A. Đều tạo ra mARN sơ khai gồm các êxôn và intron.
B. Chỉ diễn ra trên mạch gốc của gen.
C. Có sự tham gia của nhiều loại enzym ARN pôlimeraza.
D. Mỗi quá trình phiên mã tạo ra mARN, tARN, rARN đều có ARN pôlimeraza riêng xúc tác.
Câu 23. Một chuỗi pôlipeptit được tổng hợp đã cần 799 lượt tARN. Trong các bộ ba đối mã
của tARN có A = 447; ba loại còn lại bằng nhau. Mã kết thúc của mARN là UAG. Số
nuclêôtit mỗi loại của mARN điều khiển tổng hợp chuỗi pôlipeptit nói trên là?
A. U = 447; A = G = X = 650.
B. A = 448; X = 650; U = G = 651.
C. A = 447; U = G = X = 650.
D. U = 448; A = G = 651; X = 650
Câu 24. Một quần thể sinh vật có gen A bị đột biến thành gen a, gen b bị đột biến thành gen
B và C bị đột biến thành c. Biết các cặp gen tác động riêng rẽ và gen trội là trội hoàn toàn.
Các kiểu gen nào sau đây là của thể đột biến?
A. AAbbCc, aaBbCC, AaBbcc
B. aaBbCc, AabbCC, AaBBcc
C. AaBbCc, aabbcc, aaBbCc

đôi lần thứ hai. Trong 2 lần nhân đôi, môi trưòng nội bào đã cung cấp 1083 nuclêôtit loại
ađênin và 1617 nuclêôtit loại guanin. Dạng đột biến đã xảy ra với gen A là:
A. thay thế một cặp A-T bằng một cặp G-X
B. mất một cặp A-T
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status