Tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỉ năng sống thông qua dạy học môn sinh học ở trường THPT nguyễn thị lợi - Pdf 44

MỤC LỤC

Trang

A - MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Xuất phát từ sự cần thiết giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống ở
trường phổ thông ...................................................................................... 2
2. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông .............. 2
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ............................................................................ 3
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ....................................... 3
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 3
B – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận................................................................................................ 4
2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 6
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ (THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI SKKN)
1. Đặc điểm và thực trạng sử dụng sách giáo khoa Sinh học trong hoạt động dạy
học ............................................................................................................. 6
2. Vấn đề lồng ghép giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống trong dạy
học Sinh học .............................................................................................. 6
3. Nguyên nhân của thực trạng ........................................................................ 7
4. Đưa giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống vào giờ học bộ môn.. 7
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các nguyên tắc tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống ... 8
2. Phương pháp tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống ...... 9
III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1. Nội dung thực nghiệm sư phạm …………………………………………. 18
2. Kết quả thực nghiệm sư phạm .................................................................... 18
C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận ...................................................................................................... 21

nhóm bộ môn trường THPT Nguyễn Thị Lợi đã bắt đầu nhìn nhận lại sự thiếu
hụt đó của học sinh. Việc coi trọng giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng
sống biểu hiện cụ thể ở các hoạt động như: Lồng ghép giáo dục giá trị sống và
rèn luyện kỹ năng sống vào tất cả các môn học, coi đây là nhiệm vụ bắt buộc
của các giáo viên đứng lớp ở mọi cấp học, nhằm giúp học sinh hình thành thế
giới quan, nhân sinh quan, giáo dục nhân cách, các em biết vận dụng các kiến
thức đã học vào giải quyết vấn đề cụ thể của cuộc sống. Đồng thời cũng tổ chức
các hoạt động bổ trợ ngoài giờ lên lớp nhằm cung cấp cho học sinh thông tin về
nghề nghiệp, định hướng và tư vấn nghề nghiệp; Tăng cường tổ chức các diễn
đàn trao đổi về một số kỹ năng hay nhóm kĩ năng sống chủ yếu: giao tiếp, ứng
xử văn hoá và quan hệ với mọi người; Kỹ năng tư duy tích cực và có được quyết
định đúng đắn; Kỹ năng ứng phó trong mọi tình huống và biết kiềm chế. Giúp
các em biết xây dựng kế hoạch; bảo vệ và tự bảo vệ tính mạng và sức khoẻ trước
những hiểm hoạ về tai nạn, về ma tuý, về bạo lực, về xâm hại đời sống tinh thần
và thể chất ...
2. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông
Phát huy tinh thần đổi mới giáo dục của Nghị quyết 4 - khoá VII, Nghị quyết
2 - khoá VIII; hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương đảng khoá IX (2002)
định hướng: “Phải đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp và các bậc
2


học, kết hợp tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những
phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Định hướng trên đã được pháp chế
hóa trong luật giáo dục phổ thông tháng 12 năm 1998 và được khẳng định lại ở
quyết định số 16/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi
dưỡng cho học sinh phương pháp tự học; khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng

- Nghiên cứu lí thuyết: Tổng hợp các tài liệu liên quan, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.

3


- Điều tra thực tiễn: Thiết kế và sử dụng các phiếu điều tra học sinh, thăm dò ý
kiến giáo viên để tìm hiểu các thực trạng.
- Tìm hiểu đặc điểm tâm lí, thực trạng về giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng
sống của học sinh tại nhà trường.
- Quan sát sư phạm: Dự giờ, nghiên cứu giáo án, sổ điểm, bài kiểm tra và vở ghi
của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm.
- Thống kê toán học.
B – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Giá trị sống và định hướng giá trị sống
1.1.1. Giá trị sống
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả trong tài liệu tập huấn về giáo dục giá trị
sống và rèn luyện kỹ năng sống cho giáo viên trung học phổ thông đã đưa ra các
định nghĩa như sau:
Giá trị sống là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý
nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống đã trở thành động lực để
người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống mang tính cá nhân, không
phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Có người cho rằng “ tiền bạc là
trên hết”. Có người cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời. Có
người coi trọng sự trung thực, hay sự bình yên......
Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái
thiện, cái ác trong mối quan hệ của con người với con người. Giá trị sống về bản
chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành

ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh
thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người
khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai
trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất,
tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý
xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.”
- Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO),
kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là:
+ Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sang
tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…
+ Học để làm: gồm các kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ
năng đạt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…
+ Học để cùng chung sống: gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương
lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông
+ Học làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng,
kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức,tự tin…
Như vậy, kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần có giúp cá nhân học tập,
làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Có hàng trăm kỹ năng sống khác nhau.
Tùy theo hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà người ta cần dạy cho
học sinh những kỹ năng thiết yếu khác nhau. Ví dụ: học sinh ở gần sông nước cần
được dạy kỹ năng bơi lội, đi xuồng, ghe… Hơn là kỹ năng sử dụng các phương
tiện giao thông công cộng. Các em đường phố cần được dạy kỹ năng tự bảo vệ
bản thân, phòng chống xâm hại tình dục, kỹ năng từ chối (khi được mời thử ma
túy, bỏ học…).
1.3. Điểm giống nhau giữa giáo dục giá trị sống và rèn
luyện kỹ năng sống
- Mục đích: Đều nhằm định hướng, giáo dục học sinh về nhân sinh quan
và thế giới quan duy vật biện chứng, có cách nhìn toàn diện hơn về thế giới vô

tiết giảng quá ít nên các kiến thức khoa học trong sách giáo khoa được trình bày
cô đọng, không lý giải đầy đủ các thông tin khoa học, thiếu thông tin bổ sung,
rất ít yếu tố hướng dẫn nên gây khó khăn cho học sinh khi độc lập nghiên cứu
sách giáo khoa để lĩnh hội kiến thức mới và ôn tập kiến thức cũ. Chính vì vậy để
phát huy tối đa khối lượng kiến thức có trong sách giáo khoa, vừa có tác dụng
giáo dục giá trị sống và kết hợp rèn luyện kỹ năng sống cơ bản người giáo viên
phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh
biến những kiến thức rất cơ bản của sách giáo khoa thành kiến thức triển khai
sâu rộng, áp dụng được vào đời sống thực tế, đồng thời cũng giúp các em từ
những kiến thức cơ bản, khao học đó xây dựng được thế giới quan, nhân sinh
quan đúng đắn qua mỗi tiết học.
2. Vấn đề lồng ghép giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ
năng sống trong dạy học Sinh học.
Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, kết hợp giữa lý thuyết và tư duy
lôgic nghiên cứu một cách có hệ thống về các vật sống và giải thích về sự sống trên
Trái Đất. Theo tác giả Ngô Văn Hưng trong cuốn “ Sinh học phổ thông trình bày

6


theo lối mới” của nhà xuất bản Hà Nội năm 2006 thì việc học môn Sinh học giúp
chúng ta hiểu về bản thân chúng ta và những hoạt động của cơ thể.
Nghiên cứu các quá trình sống của thế giới vi sinh vật, về sự phản ứng với một
số chất hóa học và cách thức hoạt động của vi sinh vật, con người học được cách để
đẩy lùi hệ lụy do vi sinh vật gây ra. Vì vậy giáo viên cần giáo dục cho học sinh
cách thức bảo vệ cơ thể chống bệnh tật theo phương thức khoa học, không mê tín
dị đoan.
Nghiên cứu về thực vật, động vật con người tìm ra giá trị chữa bệnh của rất
nhiều loài. Việc nghiên cứu về sinh sản và sự gia tăng dân số sẽ giúp cho con
người nhận biết được rằng sự ổn định dân số là một sự cần thiết và trách nhiệm

trên thực tế mỗi giờ giảng của giáo viên là 45 phút phải đảm bảo chuẩn kiến
thức bộ môn, nhiều bài quá nặng về kiến thức, có bài nhiều nội dung khác nhau.
Số học sinh trên mỗi đơn vị lớp học là quá lớn, vì vậy rất khó cho giáo viên đảm
7


bảo vừa dạy sâu kiến thức bộ môn vừa tích hợp tốt giáo dục giá trị sống. Như
vậy, nhiệm vụ tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn kỹ năng sống phụ thuộc rất
nhiều vào sự vững vàng về kiến thức và việc vận dụng linh hoạt các phương
pháp giảng dạy của giáo viên bộ môn.
Ngoài những khó khăn chung như các bộ môn khoa học khác, bộ môn sinh
học có nhiều thuận lợi khi tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng
sống trong giảng dạy vì:
Môn sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm gần gũi với thiên nhiên và
môi trường, có nhiều kiến thức thực tế và gắn với tất cả các bộ môn khoa học cơ
bản cũng như các bộ môn khoa học xã hội nên việc gắn môn sinh học với thực
tiễn sẽ tạo thêm hứng thú cho các em học sinh tiếp thu bài học và yêu thích bộ
môn.
Kết luận 1
Để nâng cao chất lượng lĩnh hội tri thức khoa học cho học sinh trong quá trình
dạy học Sinh học ở trường trung học phổ thông đồng thời kết hợp giáo dục giá trị
sống và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, kích thích tính độc lập, sự say mê,
sáng tạo trong các em, từ đó bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu của học
sinh đòi hỏi người giáo viên phải có nền tảng kiến thức vững vàng, biết vận dụng
linh hoạt các phương pháp trong quá trình dạy học cho phù hợp với nội dung từng
bài, từng phần để có thể vừa truyền thụ được một cách hệ thống, logic kiến thức
cơ bản nhưng vẫn tích hợp được việc giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh đáp ứng với yêu cầu của bộ giáo dục và đào tạo.
Nhiệm vụ của người giáo viên là định hướng nhiệm vụ học tập, tổ chức các
hoạt động tìm tòi kiến thức thông qua việc rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành

hướng rõ ràng, xác định ngôn ngữ trình bày khoa học nhất để sau khi học sinh thực
hiện xong các hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học đồng thời các em tự rút ra được
những giá trị sống cụ thể qua bài học và cấu thành các kỹ năng cần thiết.
1.3. Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
Để cải thiện chất lượng lĩnh hội kiến thức cho học sinh thì đây là nguyên tắc
cơ bản, các giá trị sống giáo viên định hướng cho học sinh phải gần gũi, dễ hiểu,
ngôn ngữ trình bày kiến thức phải rõ ràng, các kỹ năng mà giáo viên đưa vào rèn
luyện không được quá dễ hoặc quá khó mà phải phù hợp với trình độ nhận thức của
các đối tượng học sinh.
1.4. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
Các giáo án định hướng giá trị sống, rèn luyện kỹ năng phải được thiết kế
từ dễ đến khó, tạo tính hứng thú cho học sinh tiếp tục nghiên cứu kiến thức sách
giáo khoa và hoàn thành các bài tập. Các bài tập phải có nhiều khả năng phát
huy tính tích cực tìm tòi khám phá kiến thức mới, phát huy tính chủ động, sáng
tạo của người học, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động được tối đa
vốn kiến thức thực tế của học sinh phục vụ cho quá trình học tập, thực hiện
nguyên lí giáo dục “ Học đi đôi với hành”, “ Lý luận gắn với thực tiễn”.
1.5. Ngôn ngữ trình bày: Ngắn gọn, súc tích và chính xác
Ngôn ngữ sử dụng phải hết sức chọn lọc sao cho các từ, cụm từ, câu, đoạn
trình bày phải ngắn gọn, súc tích, chính xác và chuyển tải đầy đủ nội dung trọng
tâm của bài học, thông qua bài học có ý nghĩa giáo dục cao nhưng không gò ép
học sinh tiếp nhận. Ngôn ngữ trình bày phải mang tính trọng tâm để giúp học
sinh có thể chính xác hóa được tri thức sinh học phổ thông.
2. Phương pháp dạy học tích hợp giáo dục giá trị sống và
rèn luyện kĩ năng sống
Tích hợp được hiểu là sự kết hợp, lồng ghép các mục tiêu khác nhau thông
qua một hoạt động nào đó. Phương pháp tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn
luyện kĩ năng sống chính là cách thức, con đường để đạt được các mục tiêu
giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống thông qua môn học/ hoạt động
giáo dục.

hỏi tại sao). Bằng những câu hỏi liên tiếp, xếp theo logic chặt chẽ dẫn dắt học
sinh từng bước đi tới bản chất của các sự việc hiện tượng.
- Bước 2. Tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh bằng
phương pháp động não.
+ Giáo viên cung cấp liên tiếp cho học sinh hệ thống câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề.
+ Cho học sinh tự giác trả lời hoặc chỉ định học sinh trả lời. Mỗi học sinh trả lời
một hoặc một số câu hỏi.
+ Nguồn thông tin cho cả lớp là sự tổng hợp các câu hỏi cùng những câu trả lời
tương ứng kèm theo sự bổ sung, kết luận của giáo viên.
- Bước 3. GV nhận xét và kết luận.
Ví dụ 1: Khi dạy mục VI. Cân bằng nước và tưới nước hợp lí cho cây
trồng, Bài 3. Thoát hơi nước (Trang 19 SGK Sinh học 11 Cơ bản).
(1) Mục tiêu
a. Kiến thức
- Giải thích được cơ sở khoa học của vấn đề tưới nước hợp lí cho cây trồng.
b. Giáo dục giá trị sống
10


- Xây dựng ý thức quan tâm và tìm hiểu những vấn đề thực tiễn nông nghiệp
c. Giáo dục kỹ năng sống
- Chăm sóc cây trồng, tưới nước hợp lí cho cây trồng.
- Áp dụng các biện pháp kĩ thuật để nâng cao năng suất cây trồng.
- Rèn kĩ năng phân tích, so sánh, khái quát
- Kỹ năng hợp tác và chia sẻ
- Kỹ năng đánh giá người khác
- Kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để tìm hiểu thực tiễn
(2) Phương pháp
- Vấn đáp, tìm tòi
(3) Phương tiện

cả các nhóm hoặc đưa ra một hệ thống nhiệm vụ (chủ đề), trong đó mỗi nhóm có

11


trách nhiệm giải quyết một chủ đề khác nhau. Nên sử dụng phiếu học tập với hệ
thống câu hỏi định hướng học sinh thảo luận.
+ Giáo viên quan sát, đôn đốc và hướng dẫn các nhóm thảo luận.
+ Các nhóm thảo luận, hoạt động này do nhóm trưởng chỉ đạo, thư kí ghi
chép các ý kiến của các thành viên trong nhóm. Giáo viên cần lưu ý sao cho tất
cả các thành viên trong nhóm đều được tham gia thảo luận, đưa ra ý kiến. Tránh
hiện tượng cục bộ nghĩa là việc thực hiện nhiệm vụ chỉ do 1 hoặc 2 các nhân
tham gia.
- Bước 3. Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận giữa các nhóm
- Bước 4. Giáo viên tổng hợp; đánh giá và kết luận.
Ví dụ 2: Khi dạy mục II. Lên men lăctic, Bài 24. Thực hành lên men lăctic
và etilic (Trang 97 – 98 SGK Sinh học 10 cơ bản).
(1) Mục tiêu:
a. Kiến thức
- Đặt được thí nghiệm và quan sát được hiện tượng lên men lăctic
- Giải thích được các hiện tượng xảy ra trong quá trình len men lăctic
b. Giáo dục giá trị sống
- Trong phần thảo luận, học sinh được phát biểu ý kiến của mình, tranh luận
với các nhóm khác, như vậy giáo viên đã tạo nên được một bầu không khí có
tính giáo dục, giúp học sinh cảm thấy bản thân có giá trị. Khi có mâu thuẫn xảy
ra bên cạnh việc tổ chức học sinh giải quyết mâu thuẫn, giáo viên chú trọng việc
giáo dục cho học sinh biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người khác.
- Từ quá trình lên men lăctic, giáo viên nhấn mạnh trong cơ thể người khi
thiếu hụt O2 cung cấp cho các tế bào cơ, sẽ xảy ra quá trình hô hấp yếm khí, cũng
giải phóng nhiều axit lactic, gây đau cơ. Vì vậy, cần có chế độ lao động hợp lý,

3. Khi muối dưa người ta thường cho thêm một ít nước dưa cũ, 1 - 2 thìa
đường để làm gì? Tại sao khi muối dưa, người ta thường phải đổ ngập nước
và nén chặt rau, quả?
4. Khi muối dưa người ta có thể phơi dưa ở chỗ nắng nhẹ hoặc chỗ râm
cho se mặt để làm gì?
5. Rau quả muốn làm dưa chua phải có điều kiện gì? Nếu không đạt được
điều kiện ấy phải làm như thế nào?
6. Nếu dưa để lâu sẽ bị khú. Vì sao?
Sau 4 phút, GV gọi đại diện các nhóm lên bốc thăm câu hỏi và trả lời, các
nhóm khác nhận xét. Trong quá trình trả lời câu hỏi, các nhóm có thể có ý
kiến trái ngược nhau giúp cho buổi thảo luận sôi nổi,chuyển thành mức độ cao
hơn là tranh luận. GV phải khéo léo hướng dẫn HS tìm ra đáp án đúng và kết
luận, cho điểm từng nhóm.
2.3. Phương pháp đóng vai
2.3.1. Đặc điểm:
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ Làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng
dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào
một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được.
2.3.2. Quy trình thực hiện
- Bước 1. Giáo viên đưa ra các tình huống hoặc chủ đề của bài học.
- Bước 2. Giáo viên Tổ chức hoạt động học tập cho học sinh
thông qua phương pháp đóng vai
+ Giáo viên phân vai cho học sinh tùy theo ngoại hình, tính cách và khả năng
diễn xuất, hoặc cho học sinh tự phân vai.
+ Giáo viên cung cấp kịch bản liên quan đến nội dung bài học sau đó phổ
biến cho học sinh. Kịch bản có thể là một tình huống cụ thể hoặc là các nhân vật
cụ thể. Thông thường nhiệm vụ chính của các nhân vật phải được giáo viên cung
cấp từ giờ học trước để các em chuẩn bị. Ngoài nội dung chính giáo viên đã
chuẩn bị (thường là hệ thống câu hỏi), giáo viên nên khuyến khích sự sáng tạo ở

- Kỹ năng hợp tác và làm việc theo nhóm, lắng nghe ý kiến của các thành
viên trong nhóm để đưa ra cách xử lý tình huống.
- Kỹ năng quản lý thời gian: trong thời gian 3 phút, các nhóm vừa phải suy
nghĩ hướng giải quyết,vừa phân vai diễn vì vậy phải có cách quản lý thời gian
hợp lý mới hoàn thành được mục tiêu.
(2) Phương pháp:
- Đóng vai
(3) Phương tiện:
- Chuẩn bị sân khấu, trang phục
(4) Hoạt động của Giáo viên và Học sinh
Hoạt động của GV và HS
- Sau khi tìm hiểu về các phương thức lây truyền HIV, GV đặt ra tình
huống yêu cầu 3 nhóm đưa ra phương án giải quyết tình huống bằng cách
đóng vai.
* Tình huống: Vinh là một học sinh lớp 12. Một ngày nọ, khi đang ôn bài
trong công viên, Vinh phát hiện một tên cướp giật đồ của người đi đường,
Vinh đã dũng cảm lao ra bắt tên cướp và giao cho cơ quan công an. Trong quá
trình bắt cướp, cả hai giằng co và chảy rất nhiều máu. Sau khi bị bắt, tên cướp
được cơ quan công an đưa đi xét nghiệm máu và kết quả dương tính với HIV.
+ Theo em, Vinh phải làm gì trong trường hợp này?
14


Các nhóm có 3 phút chuẩn bị và 3 phút để diễn phương án giải quyết. GV
gọi một số thành viên trong lớp nhận xét, GV tổ chức hướng dẫn HS thảo
luận, nhận xét, chấm điểm từng nhóm theo thang điểm như sau
+ Phương án giải quyết hợp lý: 7 điểm
+ Đóng vai, diễn xuất tốt, thu hút khán giả: 3 điểm.
Tổng điểm tối đa: 10 điểm
Nhóm nào có điểm số cao nhất sẽ giành chiến thắng.

lớp. Ban giám khảo làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Bước 3. Giáo viên tổ chức hoạt động học tập thông qua phương pháp trò
chơi.
+ Giáo viên đưa ra những mục tiêu cần đạt được thông qua phương pháp trò
chơi cả về kiến thức lẫn kĩ năng.
15


+ Để tăng hiệu quả của phương pháp, giáo viên cần tổ chức thi đua giữa các
nhóm tham gia trò chơi, sau đó có xếp loại nhất nhì hoặc thắng thua.
+ Giáo viên tổ chức, hướng dẫn và quản lý chung các hoạt động.
- Bước 4. Đánh giá và kết luận.
+ Cho học sinh tự đánh giá nguyên nhân dẫn đến đội mình thắng (hoặc thua),
qua đó thấy được những kĩ năng cần rèn luyện thêm.
+ Cho học sinh đưa ra bài học về nhận thức và kĩ năng sau mỗi trò chơi.
+ Giáo viên nhận xét, kết luận.
Ví dụ 4: Khi dạy mục II. HIV/AIDS, Bài 30. Sự nhân lên của Virút trong tế
bào chủ (Trang 120 SGK Sinh học 10 cơ bản).
(1) Mục tiêu:
a. Kiến thức:
- Quá trình lây nhiễm và phát triển của VR HIV trong cơ thể người.
b. Giáo dục giá trị sống:
- Tôn trọng, không phân biệt đối xử, trách nhiệm với bản thân và với mọi
người.
c. Giáo dục kỹ năng sống:
- Phòng chống tệ nạn xã hội, tự bảo vệ, biết cách phòng chống, bảo vệ sức
khỏe, chống kỳ thị, phân biệt đối xử, kỹ năng làm quen, giao tiếp, từ chối, kiên
định.
Tiếp tục rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, khái quát từ sự phát triển của
HIV để giải thích được các triệu chứng của AIDS.

đường nào?
* Đối tượng nào bị nhiễm HIV? (bất kì ai nếu không biết cách bảo vệ), tuy
nhiên phần lớn là TN với các đối tượng dễ lây nhiễm: nghiện hút, gái mại
dâm…
* Các bạn bên dưới bổ sung, vậy có những con đường nào lây nhiễm HIV?
* Quá trình xin chữ ký các em có chọn lọc không? Có biết mình đã vô tình
lây nhiễm HIV hoặc lây nhiễm ra cộng đồng không? Vậy với những bệnh nhân
nhiễm HIV có nên phân biệt đối xử, kì thị hay không?
- Không nên phân biệt đối xử, kỳ thị, cần giúp đỡ để các bệnh nhân nhiễm
HIV hòa nhập cộng đồng. Mỗi cá nhân cần có ý thức tự bảo vệ mình bởi sự lây
nhiễm không loại trừ bất kỳ ai.
* Có một bạn mang phiếu màu tím không cho ai chữ ký cả, Vậy có phải bất
cứ người nào bị lấy nhiễm HIV cũng lan truyền ra cộng đồng hay không? (Do
ý thức trách nhiệm và có ý thức bảo vệ cộng đồng. nếu kiên định => không lây
nhiễm, nếu không kiên định => lây nhiễm)
* Từ phương thức lây nhiễm, theo các em có những cách nào để phòng
chống đại dịch HIV- AIDS?
Kết luận 2
Để giáo dục giá trị sống và rèn luyện có hiệu quả các kỹ năng sống cho học
sinh thông qua các bài học sinh học ở cấp trung học thì giáo viên phải có định
hướng nhiệm vụ học tập cho từng bài, mục một cách cụ thể, rõ ràng. Yêu cầu
sinh học tập trung nghiên cứu sách giáo khoa, phải nắm chắc các nguyên tắc
trình bày, thực hiện theo các phương pháp tổ chức lớp học của giáo viên. Các
bước tổ chức lớp học phải đảm bảo được phát huy tính tích cực nhận thức, chủ
động, sáng tạo đồng thời tạo hứng thú cho học sinh. Các bài tập rèn luyện được
thiết kế phải phù hợp với loại kiến thức Sinh học và trình độ sinh học (Bám sát
quy trình rèn luyện). Với các loại ngôn ngữ định hướng phải rõ ràng, logic, phù
hợp với đối tượng học sinh, giúp sinh học có thể tự trình bày các nội dung khác
cùng loại mà không làm thiếu bản chất, lạc hướng vấn đề.
Quá trình tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng phải được thực

sống và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Thu thập số liệu, dùng phần mềm SPSS để phân tích kết quả các bài trắc
nghiệm và đánh giá về lĩnh vực cảm xúc của học sinh (bao gồm thái độ; tình
cảm...). Dùng các phiếu điều tra hoặc đàm thoại trực tiếp với học sinh để thăm dò
mức độ hứng thú học tập và mức độ đáp ứng tích cực của học sinh khi sử dụng
các hình thức tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống cho học
sinh.
2. Kết quả thực nghiệm sư phạm năm học 2015-2016 – Lớp 10
Việc sử dụng các phương pháp dạy học giúp tích hợp giáo dục giá trị sống và
rèn luyện kĩ năng sống như phương pháp trò chơi, phương pháp thảo luận nhóm
và phương pháp động não khi dạy mục II. HIV và hội chứng AIDS (bài 44. Sự
nhân lên của vi rút trong tế bào chủ, Sinh học 10 nâng cao, trang 148 – 151) đã
kích thích được tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập. Ban
đầu, khi giáo viên mời 10 học sinh tự nguyện tham gia vào trò chơi xin chữ kí
thì một số học sinh còn nhút nhát không muốn tham gia. Tuy nhiên, khi trò chơi
bắt đầu, với sự hào hứng, tích cực của các bạn tham gia trò chơi thì không khí
lớp học đã thay đổi, hầu hết các học sinh trong lớp đều bị “lôi cuốn” bởi trò
chơi. Để có thể xin được nhiều chữ kí nhất trong một khoảng thời gian rất ngắn
(3 phút), rõ ràng học sinh phải động não, biết làm quen, biết giao tiếp và có khả
năng phối hợp cộng đồng… Ngược lại, đối với học sinh mang phiếu màu tím
19


không cho ai chữ ký và cũng không cho ai ký vào phiếu của mình, để làm được
điều này thì học sinh phải biết kiên định trong việc thực hiện mục tiêu của mình.
Như vậy, thông qua trò chơi này, học sinh đã được rèn luyện các kĩ năng rất cần
thiết trong cuộc sống.
Khi giáo viên đưa ra giả định 2 bạn có phiếu màu tím là người đã nhiễm HIV,
8 bạn mang phiếu màu xanh là người không bị nhiễm HIV, bằng phương pháp
dạy học nêu vấn đề kết hợp với phương pháp đàm thoại, giáo viên không những


20


* Với 17 câu hỏi trắc nghiệm:
Kết quả khảo sát: Tìm hiểu về HIV/AIDS
Câu
Câu 1 – 11
Câu 12 – 13
Câu 14 – 17

Lớp TN
Số lượng
%
89
100,0
81
91,0
83
93,0

Lớp ĐC
Số lượng
84
60
58

%
100,0
71,4

sau: Quan niệm đó là sai, vì :
- HIV không lây truyền qua những tiếp xúc thông thường như bắt tay, ôm
hôn, ăn uống chung,.. do đó khi người nhiễm HIV bị ốm vẫn có thể chăm sóc tại

21


nhà mà không sợ lây cho người khác nếu chăm sóc theo đúng hướng dẫn chuyên
môn y tế.
- HIV chỉ lây truyền khi khu vực da, niêm mạc bị tổn thương có tiếp xúc trực
tiếp với máu và dịch sinh dục của người nhiễm HIV.
- Nếu tay, chân người nhiễm bị xây xát, khi chăm sóc bệnh nhân nhiễm
HIV/AIDS nên đi găng tay để phòng lây nhiễm HIV.
- Chăm sóc người bệnh là một trong những nhiệm vụ chức năng của các
thành viên trong gia đình, đặc biệt là gia đình Việt Nam.
Như vậy, các giá trị sống (Tôn trọng, không phân biệt đối xử, trách nhiệm với
bản thân và với mọi người trong vấn đề phòng tránh HIV) và các kĩ năng sống
(Phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ cộng đồng; Tự bảo vệ bản thân bằng các
biện pháp cụ thể trước sự bùng nổ của đại dịch HIV/AIDS; Chống kỳ thị, phân
biệt đối xử đối với bệnh nhân HIV/AIDS; Rèn luyện kỹ năng làm quen, giao
tiếp, từ chối, kiên định). Tiếp tục rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, khái quát
từ sự phát triển của HIV để giải thích được các triệu chứng của AIDS mà học
sinh có được sau khi kết thúc bài học ở các lớp thực nghiệm là nhiều hơn và ở
mức độ cao hơn so với lớp đối chứng, điều này chứng tỏ hiệu quả của việc tích
hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống qua bài học.
C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
Sau khi được tập huấn tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng
sống vào quá trình dạy học môn Sinh học bậc THPT trong năm học 2011 – 2012
, tôi đã áp dụng vào những năm học tiếp theo đối với học sinh khối 10,11 và

- Số học sinh trong mỗi lớp học không quá đông, không gian lớp học không
quá chật hẹp.
- Nên có phòng học chức năng tốt.
XÁC NHẬN CỦA

Thanh Hóa, ngày.... tháng ... năm 2016

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,

HIỆU TRƯỞNG

không sao chép nội dung của người khác.

TRẦN HIẾU MINH

Ngô Hữu Tư

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Quang Báo (chủ biên), Nguyễn Đức Thành (1996), Lý luận dạy
học sinh học – Phần đại cương, NXB Giáo dục.
2. Đinh Đỗ Đoàn (2010), Kỹ năng sống cho lứa tuổi học trò.
3.
Nguyễn Kỳ (1996), “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”,
Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 3/1996.
4. Nguyễn Kỳ (1996), Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung

1. Em hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?
A. Đường tình dục.
B. Giao tiếp thông thường (ôm hôn, bắt tay…).
C. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con.
D. Cả 3 đáp án trên.
2. Theo em, thời gian dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất là trong thời
gian nào?
A. Ngay sau 2-3 giờ đầu.
B. Sau 1 tuần.
C. Sau 10 ngày.
D. Khi xác định rõ nguồn lây nhiễm HIV của người lây nhiễm.
3. Em hãy cho biết, thời gian điều trị thuốc kháng virút HIV (ARV) cho
bệnh nhân AIDS là bao lâu?
A. 1 năm.
B. 3 năm.
C. 5 năm.
D. Suốt đời.
4. Em hãy cho biết dấu hiệu lâm sàng chính của AIDS?
A. Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể.
B. Sốt kéo dài trên 1 tháng.
C. Ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng.
D. Cả 3 đáp án trên.
5. Em hãy cho biết, các giai đoạn lây truyền HIV từ mẹ sang con?
A. Khi mang thai.
B. Khi sinh con.
C. Khi cho con bú.
D Cả 3 đáp án trên.
6. Em hãy cho biết nguyên nhân gây ra HIV/AIDS là gì?
A. Vi khuẩn.
B. Nấm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status