MỤC LỤC
Mục
Nội dung cơ bản
I.
Trang
Mở đầu
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
II.
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.3.7
2.4
III.
3.1
3.2
7
8
11
12
13
14
14
Kết luận và kiến nghị
Kết luận:
Kiến nghị:
Tài liệu tham khảo
15
15
1
I. Mở đầu:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Trong thế giới này cái quý nhất là con người, trong con người cái quý
nhất là trí tuệ, mà trí tuệ chỉ có được nhờ con đường học vấn và trải nghiệm
trong đời sống xã hội. Thực tế cuộc sống hiện nay cho thấy có những đứa trẻ đi
qua “thời kỳ quá độ” (giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn) một cách
dễ dàng, đầy tự tin, bản lĩnh, họ hiểu rõ mình là ai, lý tưởng và mục tiêu của
cuộc đời mình là gì?... Nhưng lại có những đứa trẻ đi qua giai đoạn này một
cách hết sức khó khăn, vất vả, các em cảm thấy tự ti, sợ sệt, vô vọng, bế tắc,
thậm chí có em còn không xác định được lý tưởng sống của mình, không biết
giá trị thực của bản thân, luôn nghĩ mình vô nghĩa, không còn giá trị từ đó có
nhiệt tình, trách nhiệm nhưng thiếu hiểu biết về phương pháp giáo dục nên đã
đẩy em ra xa lớp học, làm trầm trọng hơn căn bệnh tâm lý đang dần phát lộ
trong con người em. Từ thực tế đó bản thân tôi đã tìm hiểu và chuyển sang sử
2
dụng giải pháp khác. Sau một thời gian cùng với chuyên gia tâm lý, gia đình,
bạn bè, và bản thân em, tôi đã đưa được em trở lại trường học và năm nay em
đang chuẩn bị tham gia kỳ thi THPT Quốc gia như những học sinh bình thường
khác với sự tự tin, bản lĩnh để bước lên một nấc thang mới của cuộc đời.
Để giúp đỡ những giáo viên khác không đi vào “vết xe đổ” như tôi ở bài
viết này tôi xin trình bày các giải pháp mà tôi đã sử dụng đối với em để các đồng
chí tham khảo và rút kinh nghiệm, bài viết này tôi đặt tiêu đề là: “Một số giải
pháp giáo dục hỗ trợ học sinh có biểu hiện “trầm cảm” ở lớp 10A Trường
THPT Ngọc Lặc”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Ở bài viết này tôi muốn giới thiệu đến các đồng nghiệp về một số giải
pháp giáo dục hỗ trợ học sinh có biểu hiện trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên để
các đồng chí tham khảo và áp dụng khi gặp phải đối tượng học sinh có biểu hiện
trần cảm để tránh trường hợp “đổ thêm dầu vào lửa” giống như tôi vài năm
trước.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Ở bài viết này bản thân tôi chỉ chuyên sâu nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra
giải pháp giáo dục hỗ trợ đối với một học sinh ở lứa tuổi vị thành niên – học
sinh Phạm Nhật Thanh lớp 10A Trường THPT Ngọc Lặc đang có biểu hiện trầm
cảm và đang điều trị bởi chuyên gia tâm lý mà thôi.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài viết này bản thân tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập
thông tin, khảo sát thực tế… và một số phương pháp nghiên cứu khác có liên
quan.
Trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên thường biểu hiện: Buồn vô vọng, cáu kỉnh,
tức giận, hận thù, bạo lực, mất hứng thú trong các hoạt động, thay đổi thói quen
ăn ngủ, dễ kích động, bất an, khó tập trung và có ý tưởng tự tử.
Nguyên nhân của bệnh trầm cảm: Hiện nay người ta chưa xác định rõ các
nguyên nhân gây ra căn bệnh trầm cảm, nhưng các yếu tố như di truyền, môi
trường, mất cân bằng nội tiết tố trong cơ thể (chẳng hạn tuổi vị thành niên, phụ
nữ sau khi sinh…) là những yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm.
Trầm cảm là căn bệnh có thể điều trị được. Hiện nay trầm cảm được điều trị
bằng hai phương pháp: Điều trị bằng thuốc chống trầm cảm và phương pháp tâm
lý trị liệu (đối thoại, nói chuyện với người bệnh), tỷ lệ ổn định lên đến 70 – 80%
nếu được điều trị sớm và đúng cách. Cả hai phương pháp điều trị nêu trên đòi
hỏi phải có các chuyên gia như bác sĩ, nhà tâm lý, nhà tâm thần hay chuyên viên
tư vấn những người có hiểu biết sâu sắc và kỹ năng hỗ trợ người trầm cảm (5),
nhưng để người bệnh nhanh chóng ổn định trở lại thì rất cần đến sự hỗ trợ
của gia đình, bạn bè, thầy cô và sự nổ lực của bản thân người bệnh. Đây là
cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để chúng ta có thể giáo dục hỗ trợ những
trẻ vị thành niên đang có biểu hiện trầm cảm ở các trường THPT.
Học sinh THPT là những trẻ em có độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi, lứa tuổi vị
thành niên, lứa tuổi có nhiều thay đổi về cơ thể và nhân cách, nhiều hoóc môn
mới trong cơ thể bắt đầu xuất hiện, “lứa tuổi khủng hoảng” hay là “thời kỳ quá
độ” chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, lứa tuổi với nhiều khó khăn, phức tạp
trong cuộc đời của mỗi con người, lứa tuổi học tập và trưởng thành, hoàn thiện
và phát triển. Ở giai đoạn này có rất nhiều sự thay đổi về thể chất và tinh thần
khiến cho nhận thức và thể trạng của các em khác hẳn (2). Hiểu được sự thay
đổi về đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi này sẽ là một cơ sở lí luận quan trọng để
chúng ta giáo dục trẻ một cách hiệu quả.
“Nhân vô thập toàn”(4) con người không ai hoàn thiện, mỗi người có
những mặt mạnh và hạn chế riêng. Phát hiện, phát triển mặt mạnh, khắc phục,
bỏ đi những hạn chế, khuyết điểm trong mỗi con người là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của hoạt động giáo dục hiện đại. Trong quá trình hình
trẻ nhiệt tình.
Khó khăn: Đa số các em là người dân tộc thiểu số trình độ nhận thức còn gặp
nhiều hạn chế, nhà xa trường học không thể đi về trong ngày học sinh phải ở trọ,
điều kiện kinh tế phần lớn rất khó khăn chủ yếu là con em nông dân, số ít là con
em các gia đình buôn bán nhỏ. Lớp tương đối đông nên gặp khó khăn trong tổ
chức và học tập, một số học sinh có hộ khẩu ở thị trấn nhưng kết quả học tập
không cao lại thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế của trường lớp như em
Khánh, em Chiến, em Kiên, em Đức, em Thanh…; Cơ sở vật chất của trường
còn thiếu như khu hiệu bộ, nhà thi đấu, nhà đa năng và nhiều phòng ban khác.
Sau một tuần nhận lớp không thấy điều gì bất thường tôi tổ chức cho học
sinh tự quản. Nhưng đến tuần thứ hai bắt đầu xuất hiện một số học sinh có biểu
hiện bất hợp tác, thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế của trường, lớp như:
Đi học chậm, nghỉ học vô lý do, không học bài cũ, nói chuyện làm việc riêng
trong giờ học, không tham gia đồng phục theo quy định, mang điện thoại và sử
dụng điện thoại di động trong giờ học.v.v. Đó là những biểu hiện được xem là
bình thường ở trường miền núi như trường chúng tôi. Tuy nhiên sau chừng độ 3
tuần trong lớp có một học sinh có biểu hiện khác thường, đó là em Phạm Nhật
Thanh: Thanh là một học sinh bề ngoài rất ưa nhìn, được bạn bè quí mến, hiền
ngoan, lễ phép và hòa đồng với bạn bè, bỗng nhiên em trở thành một con người
khác hẳn chỉ trong vòng khoảng 2 tuần. Nhà ở gần trường học nhưng em luôn đi
học muộn, tính tình cáu bẳn hung hăng vô cớ, thậm chí còn hành hung với cả
bạn gái trong lớp vì những chuyện không đâu. Ra chơi em không chơi với các
bạn mà thường ngồi một mình buồn vô vọng, mệt mỏi, thiếu năng lượng và chán
chường, không tập trung nhiều lúc còn ngủ gục trên bàn. Trước những biểu hiện
5
bất ổn đó, là một giáo viên chủ nhiệm lớp và giảng dạy bộ môn GDCD của lớp
tôi mời em lên văn phòng Đoàn nói chuyện để tìm hiểu, để giáo dục.
Câu hỏi đầu tiên tôi dành cho em là: “Sao ra chơi không cùng các bạn đá cầu,
2.3 Giải pháp:
2.3.1 Giải pháp thứ nhất:
Thấu hiểu từng học sinh và phân loại học sinh theo nhóm, chú ý đặc
biệt những học sinh có biểu hiện “khó dạy” từ đó đưa ra các giải pháp phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Muốn giáo dục con người phải hiểu một con
người, đó là một trong những nguyên tắc giáo dục hiện đại đầu tiên mà tôi sử
dụng.
Sau một thời gian tìm hiểu đối tượng học sinh dựa trên cơ sở sơ yếu lý
lịch cụ thể, học bạ, trao đổi với giáo viên ở cấp THCS, bạn bè, gia đình và mọi
người xung quanh… Tôi được biết Thanh là một học sinh xuất thân từ một gia
đình bố là viên chức nhà nước, mẹ buôn bán nhỏ, có anh trai đang học trường
6
Công an nhân dân, Thanh hiện sống cùng bố mẹ tại số nhà 57 phố Lê Thánh
Tông thị trấn Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Ở cấp THCS em là
học sinh khá của Trường THCS Lê Đình Chinh - một trong những trường có uy
tín ở huyện. Lớp 6, 7, 8 em đều đạt học sinh tiên tiến cả năm nhưng đến học kỳ
II lớp 9 sức học sa sút, phải rất cố gắng em mới đậu vào trường THPT Ngọc Lặc
với số điểm không cao và sau đó được xếp vào lớp 10A một “lớp đại trà” do tôi
chủ nhiệm.
Trong bản lí lịch em ghi: “Sau khi tốt nghiệp THPT thích trở thành cầu thủ bóng
đá, nhưng cha mẹ lại muốn em học ngành công an vì có việc làm ngay”. Đây là
một mâu thuẫn rất phổ biến trong việc định hướng và lựa chọn nghề nghiệp giữa
con trẻ và phụ huynh trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tôi sẽ không để ý nếu như
sau 3 tuần nhận lớp em không có những hành động lệch chuẩn, không muốn nói
là ngỗ ngược khác thường như trên đã trình bày.
Tôi đến thăm gia đình em vào một buổi chiều thu cuối tháng 9 sau khi em nghỉ
học vô lý do 3 ngày. Hôm đó, cả bố mẹ em đều ở nhà, sau một vài câu nói trao
đổi về tình hình học tập của Thanh thời gian qua, đặc biệt những biểu hiện khác
lao động và hoạt động Công đoàn nhà trường do vậy rất ít thời gian để quản lý
các em, không những thế việc thành lập mạng lưới tự quản trong lớp còn tạo
điều kiện để các em có cơ hội làm quen và thực hiện kỹ năng quản lý, một trong
những kỹ năng quan trọng dẫn đến sự thành công của các em sau này.
Tổng số lớp có 45 học sinh, trên cơ sở tín nhiệm của lớp, sự tự tin của cá nhân
học sinh và sự quan sát của bản thân, tôi tổ chức cho tập thể bầu các chức danh
như: Lớp trưởng, lớp phó học tập, lớp phó văn thể, lớp phó đời sống, lớp phó lao
động, thủ quỹ và tôi chia lớp làm 5 tổ, mỗi tổ có 9 học sinh, trong đó 1 tổ
trưởng, một tổ phó, đồng thời kiện toàn tạm thời tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh trong chi Đoàn.
Tổ chức bầu và kiện toàn tổ chức bộ máy tự quản của lớp xong tôi họp lại và
quy định rõ chức năng, nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng loại cán bộ tự quản.
Trước buổi sinh hoạt hàng tuần bộ máy cán sự lớp có trách nhiệm họp trước để
thống nhất các nhận xét tuần qua và đưa ra kế hoạch hoạt động cho tuần kế tiếp
sau đó báo cáo trực tiếp với giáo viên chủ nhiệm để xin ý kiến chỉ đạo. Hiện nay,
ở trường THPT Ngọc Lặc giáo viên chủ nhiệm thường bỏ qua cuộc họp trước
của ban cán sự lớp mà trực tiếp sinh hoạt, do vậy chất lượng, hiệu quả của công
tác tự quản chưa cao và không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của tập thể
và của từng cá nhân học sinh. Hơn thế giáo viên chủ nhiệm lại rất vất vả và ôm
đồm. Người chủ nhiệm giỏi là người quản lý và đào tạo được những người quản
lý giỏi hơn mình.
Với tổ tự quản hiệu quả trong tay, mặc dù không ở lớp nhưng tôi luôn nắm được
một cách chính xác các hoạt động tích cực, tiêu cực đã, đang và sẽ diễn ra của
các thành viên học sinh trong lớp một cách trung thực và kịp thời. Chẳng hạn
như trường hợp của em Thanh hôm 25 tháng 9 năm 2013, tôi đang dạy trên lớp
10B, bỗng lớp trưởng lên tìm theo yêu cầu của cô Hương giáo viên dạy môn Địa
lý của lớp. Trong thời gian rất ngắn thông qua lớp trưởng tôi đã nắm sơ qua sự
việc vừa diễn ra tại lớp: Đó là tiết kiểm tra, Hòa một bạn ngồi bàn trên Thanh, vì
không ghi bài nên giờ kiểm tra không nhớ kiến thức mới mượn sách giáo khoa
mới nhẹ nhàng hỏi: “Em cảm thấy không khỏe phải không?”. Em không nói gì
mà chỉ cúi xuống rồi trầm tư buồn vô vọng, sau đó lí nhí: “Không sao!” Em trả
lời một cách vô cảm.
Đối với những học sinh khác tôi sẽ hỏi rõ lý do vì sao và một bài thuyết giáo sẽ
làm các em nhanh chóng nhận ra lỗi lầm của mình nhưng đối với Thanh tôi
không làm thế bởi tôi biết rằng em đang gặp vấn đề về tâm bệnh, những câu hỏi
thẩm tra, phán xét chỉ làm em có hành động tiêu cực, chống đối mà thôi. Do vậy
tôi lại nhẹ nhàng hỏi: “Em cần thầy giúp đỡ gì không?” Rồi tôi nhìn em với ánh
mắt đầy sự thông cảm và chia sẻ. Em trả lời: “Không!” rồi nhìn vô vọng ra phía
ngoài cửa sổ. Tôi nói “Nhưng lần sau em cố gắng kìm chế đừng bao giờ đánh
bạn vì bản thân em chắc cũng không bao giờ muốn bị đánh nhỉ!’ Rồi cho em trở
lại lớp coi như không có chuyện gì xảy ra.
Sáng hôm sau em bình tĩnh lại vào giờ thể dục tất cả các bạn hoan hỉ cùng nhau
nô đùa ngoài sân bóng nhưng riêng em một mình ngồi tư lự nơi cuối sân, thấy
vậy tôi lại gần và nói: “Thanh à dạo này em có nhận thấy bản thân mình có
những cách hành xử khác với em trước đây không? Thầy nhận thấy điều đó
trong thời gian vừa qua?” Em vẫn chối cãi, không thừa nhận rằng mình đang bị
“tha hóa” đang có những thay đổi tiêu cực, nhưng tôi không rút lui mà tiếp lời:
“Đầu năm học thầy nhận thấy em là một học sinh điềm đạm, bình tĩnh, chan hòa
với bạn bè nhưng thời gian gần đây thầy nhận thấy em rất khác, một sự khác
biệt rất rõ rệt theo chiều hướng tiêu cực, thầy thấy em hay buồn một mình, cáu
kỉnh, tức giận và hận thù vô cớ, mệt mỏi thiếu năng lượng trong các giờ học,
nhiều lúc còn không tập trung. Em nhận thấy điều đó không? và thầy sợ cứ theo
chiều hướng này thì em không còn là em nữa. Bố mẹ em sẽ rất buồn, thầy và
các bạn cũng thế và ước mơ của em sẽ không bao giờ thành sự thật. Em đang
còn rất trẻ và cuộc đời phía trước đang chờ đợi em chinh phục”. Vẫn với ánh
mắt thương cảm và trìu mến, không phát xét, muốn chia sẻ nhìn em, em nhìn lại
tôi một hồi rồi từ từ và rất thận trọng em nói: “Em cũng thấy thế, nhiều lúc em
không hiểu mình nữa, em nhận thấy mình đang khác dần bản thân mình, nhiều
lúc em đã cố gắng kìm chế để không nóng nảy và bạo lực nhưng khi em bắt gặp
là không có niềm tin vào người khác, họ muốn gim tất cả ở trong lòng. Do đó
khơi gợi để em nói về suy nghĩ của em đó là cả một sự thành công lớn đối với
người tư vấn tâm lý
.
10
Hình ảnh mang tính chất minh họa
2.3.4 Giải pháp thứ tư:
Công nhận cảm xúc, tuyệt đối không tranh luận với học sinh đang mắc
bệnh trầm cảm. Đây là nguyên tắc cơ bản khi giao tiếp với trẻ vị thành niên
đang điều trị bệnh trầm cảm.
Thật sai lầm khi ta cứ cố gắng tranh luận với trẻ vị thành niên đang mắc
bệnh trầm cảm về sự đúng sai của vấn đề. Hãy im lặng, lắng nghe và thấu hiểu
đồng thời công nhận cảm xúc từ các em, thậm chí đó có thể là lí lẽ ngốc nghếch
đối với bạn. Hãy cố gắng chia sẻ động viên các em nói lên mọi suy nghĩ của
mình. Người mắc chứng trầm cảm không hề muốn giao tiếp hoặc nói chuyện với
người khác mà họ thích một mình, hoặc giao tiếp thụ động. Do đó giáo viên hãy
đóng vai là “phương tiện” nghe, nhìn để học sinh có thể chia sẻ những vấn đề
mà các em đang gặp phải, đừng lấy sự tra khảo hay thuyết giáo làm mục đích
khi giao tiếp với trẻ đang bị bệnh trầm cảm vì nếu làm như vậy các em sẽ không
tin tưởng chúng ta và dễ dàng quay lưng lại với chúng ta khi đó bệnh tật của các
em sẽ phát lộ rõ ràng nhanh chóng và hoạt động giáo dục của chúng ta coi như
thất bại.
Chẳng hạn, đối với em Thanh có lần em sử dụng điện thoại di động để chơi điện
tử trong giờ học bị giáo viên bắt và thu điện thoại. Theo quy định của Ban nề
nếp trong nhà trường em sẽ bị cảnh cáo trước cột cờ, đồng thời trừ 500 điểm thi
đua của lớp và như vậy lớp thường xếp cuối. Cả lớp phải đi lao động. Tiết sinh
Các đồng chí sẽ tự nhủ làm như vậy các bạn trong lớp ghen tỵ vì thế tập
thể sẽ thiếu sự đoàn kết. Đúng vậy, trước khi sử dụng các phương pháp giáo dục
đặc thù giành riêng cho Thanh, học sinh “khó dạy” tôi đã phải thông qua với lớp
và rất mong lớp sẽ ủng hộ bởi bạn của các em đang gặp khó khăn trong vấn đề
tâm lý, nếu không giúp bạn thì chúng ta sẽ mất bạn mãi mãi. Vì thế các em đã
hiểu ra và tin vào giải pháp hữu hiệu của thầy mà không phàn nàn hay oán trách
về sự bất bình đẳng thể hiện qua tình thương thầy dành cho Thanh trong tập thể
lớp.
2.3.5 Giải pháp thứ năm:
Khuyến khích trẻ có biểu hiện trầm cảm tham gia các hoạt động thể
dục thể thao(5).
Một trí tuệ thông minh chỉ có được ở một cơ thể cường tráng. Đối với học
sinh mắc bệnh trầm cảm thì hoạt động thể dục thể thao như đi bộ, chạy bộ, bơi
lội, đá bóng, leo núi, đến phòng tập…là những hoạt động quan trọng không thể
thiếu, giúp các em giải tỏa bớt những căng thẳng trong suy nghĩ, bệnh sẽ nhanh
chóng tiến triển theo chiều hướng tích cực. Biết được điều đó tôi đã đến tận nhà
để tư vấn cho em và gia đình, gia đình rất tạo điều kiện cho em tập luyện thể
thao, đặc biệt là môn thể thao mà em yêu thích – bóng đá. Sáng sớm tôi thường
qua nhà em cùng em chạy bộ vì nhà em cách nhà tôi không bao xa, chủ nhật
thầy trò được nghỉ tôi đưa em leo núi và dạy em cách ngồi thiền – một môn thể
thao rất mới ở Việt Nam và nó thật sự tốt trong việc kìm chế sự nóng nảy và
căng thẳng. Buổi chiều gia đình cho em tham gia đội bóng tại phố đồng thời
không còn có tư tưởng ép em học các môn ghi nhớ nhiều để thực hiện ước mơ
dang dở của bố, vả lại gia đình cho phép em tự do lựa chọn lĩnh vực mình yêu
thích để phát triển. Vì thế tinh thần em nhanh chóng được phục hồi, bệnh lý từ
đó cũng thiên giảm rất nhiều.
Năm đó, Đoàn trường THPT Ngọc Lặc tổ chức giải bóng đá nam cho học
sinh khối 10 và khối 11 để chào mừng ngày 26 tháng 3 – ngày thành lập Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh. Thanh rất đam mê và thích thú vậy nên tôi đã mạnh dạn
giao quyền đội trưởng đội bóng của lớp cho em và em có trách nhiệm hình thành
Tạo điều kiện để các em tham gia hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt
động từ thiện nhân đạo.
“ Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”(4).
Nhân nghĩa là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam, hãy cho đi tình yêu thương để nhận lại gấp trăm ngàn sự yêu thương đó.
Đó là tính nhân văn trong mối quan hệ giữa con người với con người. Hãy tổ
chức để các em tham gia nhiều các hoạt động xã hội, giúp đỡ mọi người trong
xã hội để các em nhận thấy mình thật giá trị và cuộc sống thật sự ý nghĩa.
Người thành công không phải là người đứng trên đôi vai người khác để
phát triển mà người thành công là người nâng đỡ người khác trên đôi vai của
chính mình. Thật vậy, khi một người không thực sự cảm nhận được giá trị của
mình trong cuộc sống thì hãy giúp họ tham gia các hoạt động xã hội, hãy giúp
đỡ những người khác khó khăn hơn mình, tôi nghĩ sẽ có tác động tích cực.
Trường THPT Ngọc Lặc đóng bên cạnh bệnh viện ĐKKV Ngọc Lặc - một bệnh
viện lớn của khu vực niềm núi Thanh Hóa. Ở đây có rất nhiều hoàn cảnh đáng
thương, đặc biệt là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Nhà họ hầu hết rất
nghèo và túng đói nhưng dù vậy nhưng họ vẫn khát khao sống. Đưa Thanh đi
cùng và gặp gỡ những con người như vậy quả là một giải pháp giáo dục thực tế
13
tốt hơn bất cứ cuốn sách lý luận về đạo đức hay lý tưởng sống nào có trên trai
đất. Sau vài lần đi giúp đỡ các bệnh nhân hiểm nghèo tại bệnh viện tôi nhận thấy
bản thân em không còn buồn vô vọng nữa, thậm chí em còn mong tôi sẽ cho em
tham gia các hoạt động khác khi có thể. Tôi đồng ý và hướng dẫn em thành lập
tổ chức giúp đỡ trẻ em nghèo trong huyện với những chiếc áo mà các em không
dùng. Em rất vui vẻ và tích cực tham gia, tổ chức do các em lập ra đã mang
niềm vui đến cho rất nhiều em nhỏ trong vùng. Mặc dù làm công tác xã hội,
công tác nhân đạo rất mệt nhưng các em thật vui và thấy cuộc sống của mình
thể hiện mình như những học sinh cùng trang lứa. Từ đó bản thân tôi nhận thấy
mình đã sử dụng phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh đang có biểu hiện
trầm cảm từ đó góp vào sổ tay kinh nghiệm của mình một mốc son mới trong
cuộc đời làm giáo dục của bản thân.
Đối với đồng nghiệp: Từ bài học của bản thân lần đầu và sự thành công
về sau tôi đã giúp cho một số đồng nghiệp trong trường trong công tác chủ
nhiệm khi gặp đối tượng học sinh có biểu hiện trầm cảm và họ cũng đã thành
công như đồng chí Hương, đồng chí Hoàng, đồng chí Nhung…và được mọi
người tâm đắc giới thiệu cho các đồng nghiệp khác cùng tham khảo.
Đối với giáo dục huyện nhà: Với những giải pháp đặc thù và kinh nghiệm
giáo dục hỗ trợ học sinh có biểu hiện trầm cảm của tôi, đặc biệt sự thành công
ngoài mong đợi trong giáo dục học sinh Phạm Nhật Thanh đã giúp cho số lượng
học sinh trong trường bỏ học giữa chừng giảm đi phần nào, tình trạng học sinh
đánh nhau, học sinh có ý định bỏ nhà đi hoặc tự ty, thu mình trước tập thể hạ
thấp, hơn thế sự “khó chịu” của các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
cũng giảm bớt vì thông qua bài viết của tôi họ hiểu rằng những biểu hiện “khó
dạy”, bất trị ngỗ ngược ở học sinh vị thành niên chỉ là một giai đoạn ngắn xuất
hiện trong cuộc đời của một con người còn xu hướng vận động của mọi sự vật,
hiện tượng trên thế giới này vẫn là cái mới tốt đẹp hơn sẽ ra đời thay thế cái cũ
lỗi thời lạc hậu.
III. Kết luận, kiến nghị
3.1 Kết luận:
Trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên không phải căn bệnh nan y không có
phương pháp điều trị mà đó là một căn bệnh tâm lý dễ mắc phải khi các em bị
sức ép về tinh thần quá lớn trong khi bản lĩnh văn hóa của các em chưa thực sự
vững vàng hay sự thay đổi về hoóc môn tâm sinh lý trong cơ thể của mỗi con
người dẫn đến biểu hiện buồn vô vọng, bất an, dễ kích động, thu mình, hay cáu
kỉnh…tất cả những biểu hiện đó nó sẽ mất đi nếu chúng ta phát hiện và có giải
giáo viên phải biết về vấn đề trẻ vị thành niên, nhận diện được vấn đề. Do đó
cần đọc, tìm hiểu thông tin về trầm cảm trên internet và các tài liệu có liên quan
để chính mình trở thành “chuyên gia”. Càng biết nhiều bạn càng có thể tư vấn,
hỗ trợ hiệu quả cho các em. Giúp các em hiểu được rằng các em không đơn độc
và khuyến khích các em sẵn sàng đi gặp các nhà chuyên môn.
Kiến nghị cuối cùng đó là việc lưu giữ, phổ biến và thực hiện các sáng
kiến, đặc biệt là sáng kiến chủ nhiệm, sáng kiến có tính khoa học và hiệu quả
cao bởi bản thân tôi nghĩ để có một sáng kiến hiệu quả thì nó đã được thẩm định
qua thực tế nhiều lần, do đó ta cần công bố để mọi người học tập tránh trường
hợp sáng kiến hay, đạt giải cao lại để trong tủ của cơ quan quản lý thì nó chẳng
có giá trị gì ngoài giá trị là căn cứ để xét thi đua của các cá nhân giáo viên mà
thôi. Tôi thiết nghĩ hiện nay việc đưa sáng kiến lên mạng internet phổ biến cho
tất cả mọi người, đặc biệt là giáo viên không hề khó. Kính mong các cấp có
thẩm quyền xem xét và thực hiện để những giáo viên miền núi “xa ánh sáng văn
minh” như chúng tôi có thêm một kênh tri thức thực tiễn để học tập, để tham
khảo.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh hóa, ngày 17 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
tôi viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Lê Văn Nam
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO