BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Kim Ánh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
TP.HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Kim Ánh
Đề tài: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT
LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.1 Các nghiên cứu có liên quan……………………………………………………...6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài………………………………………………….6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước………………………………………………….8
1.2 Khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu cho luận văn………………….….14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT…………………………………….……….......15
2.1 Chất lượng thông tin kế toán………………………………….…………………15
2.1.1 Khái niệm thông tin……………………………….…………………………..15
2.1.2 Khái niệm chất lượng…………………………………………………….…...15
2.1.3 Khái niệm về chất lượng thông tin…………………………………………...16
2.1.4 Khái niệm chất lượng thông tin kế toán………………………………….….16
2.1.4.1Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB…………..….17
2.1.4.2Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB...19
2.1.4.3Quan điểm hội tụ IASB – FASB………………………………………….….20
2.2 Tổng quan về hệ thống kế toán áp dụng cho đơn vị HCSN…………….….…..21
2.2.1 Đặc điểm hoạt động của đơn vị HCSN……………………………………...21
2.2.1.1Khái niệm đơn vị HCSN………………………………………….………….21
2.2.2 Đặc điểm hệ thống kế toán áp dụng cho các đơn vị HCSN…………....…..22
2.2.2.1Đặc điểm về pháp lý………………………………………………………….22
2.2.2.2Về đối tượng kế toán…………………………………………………………24
2.2.2.3Về nguyên tắc kế toán………………………………………………………..25
2.2.2.4Đặc điểm đối tượng sử dụng……………………………………………....…26
2.2.3 Tổng kết các lý thuyết có liên quan……………………………………….....26
2.3 Các lý thuyết nền có liên quan………………………………………………..….27
2.3.1 Lý thuyết hành động hợp lý và lý thuyết hành vi dự định……………........27
2.3.2 Kinh tế học thể chế………………………………………………………..…..28
2.4 Đánh giá khái quát về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT tại các
đơn vị SNYT công lập trên địa bàn TP.HCM…………………………….…....29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………..…….…....33
4.5.3 Kiểm tra giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (đa cộng
tuyến)……..…………………………………………………………………….60
4.6 Mô hình hồi quy.……………..……………………………………………………61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………..………………….63
5.1 Kết luận…………….……………………………………………………………...63
5.2 Giải pháp…………………………………………….…………………………….64
5.2.1 Hoàn thiện nhân tố môi trường pháp lý…………………………………......64
5.2.2 Hoàn thiện nhân tố môi trường chính trị……………………...….…………65
5.2.3 Hoàn thiện nhân tố môi trường kinh tế…………………………….………..66
5.2.4 Hoàn thiện nhân tố môi trường giáo dục…………………….………………67
5.2.5 Hoàn thiện nhân tố môi trường văn hóa……………….…………………….68
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo………………………………………....68
5.3.1 Hạn chế của luận văn…………………………….………………………..…..68
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo………………………….……………………….69
KẾT LUẬN……………………………….…………………………………………...70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCTC: Báo cáo tài chính
BTC: Bộ tài chính
DN: Doanh nghiệp
HCSN: Hành chính sự nghiệp
NN: Nhà Nước
NSNN: Ngân sách Nhà Nước
QĐ: Quyết định
SNYT: Sự nghiệp y tế
DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU ĐỒ
Danh mục hình ảnh
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu……………………………………………….…43
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng TTKT tại
các đơn vị SNYT công lập trên địa bàn TP.HCM………………………….……44
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy…….…58
Biểu đồ 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa………………………59
Biểu đồ 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa…………………….60
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Song hành cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì các đơn vị hành chính sự
nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước cũng đã từng bước được kiện toàn, góp phần
không nhỏ vào công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội. Các đơn vị HCSN chính là
những đơn vị quản lý như y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, khoa học công nghệ,
kinh tế… hoạt động bằng nguồn kinh phí của nhà nước cấp hoặc từ các nguồn kinh
phí khác như thu sự nghiệp, phí, lệ phí, hoạt động kinh doanh hay viện trợ không
hoàn lại. Do đó, để quản lý và chủ động trong các khoản chi tiêu của mình, hàng
năm các đơn vị HCSN phải lập dự toán cho từng khoản chi tiêu này. Dựa vào bản
dự toán, ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị. Chính vì vậy, kế toán
không chỉ quan trọng đối với bản thân đơn vị mà còn quan trọng đối với NSNN.
Chính vì vậy, công việc của kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập là phải tổ
chức hệ thống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình
hình sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình quản lý và sử dụng các tài sản
công…Bên cạnh đó, kế toán hành chính sự nghiệp với chức năng thông tin mọi hoạt
động kinh tế phát sinh trong quá trình sử dụng NSNN; qua đó, góp phần vào việc
tâm văn hóa, giáo dục, y tế quan trọng của cả nước. Hệ thống các đơn vị sự nghiệp
y tế công lập tại thành phố Hồ Chí Minh có 32 đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc sở,
12 trung tâm không giường bệnh, 23 bệnh viện quận huyện và 24 trung tâm y tế dự
phòng quận huyện; là nơi khám chữa bệnh, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho mọi
tầng lớp nhân dân trên địa bàn TP.HCM (Sở Y Tế, 2016). Chính vì vậy mà nhu cầu
nâng cao chất lượng TTKT tại các đơn vị SNYT công lập trên địa bàn TP.HCM trờ
thành nhu cầu cấp thiết để người dân có thể biết được tình trạng hoạt động và quy
mô đơn vị y tế khi lựa chọn nơi chăm sóc sức khỏe cho mình tốt nhất. Câu hỏi được
đặt ra là chất lượng TTKT tại các đơn vị SNYT này cung cấp như thế nào và các
nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng TTKT đó?
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin kế toán tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh” được lựa chọn để nghiên cứu.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khái quát cơ sở lý luận, những quy định trong lĩnh vực kế toán công ở Việt
Nam nói chung và kế toán áp dụng cho các đơn vị HCSN công lập nói riêng.
Từ đó đưa ra những hạn chế và tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo.
Khảo sát thực trạng các đối tượng sử dụng, trình bày TTKT tại các đơn vị sự
nghiệp y tế công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nhận diện và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT tại các đơn
vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng TTKT tại các
đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đánh giá thực trạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng
TTKT tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố, phân tích tương quan, kiểm định độ
phù hợp của mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả định mô hình hồi quy bội.
Chương 5: Kiến nghị và kết luận
Đưa ra kết luận về nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao
chất lượng TTKT tại các đơn vị SNYT công lập trên địa bàn TP.HCM.
Bên cạnh đó, luận văn còn có các phụ lục được đính kèm.
4
lượng TTKT được công bố trên BCTC tại các đơn vị SNYT công lập (bao gồm
08 bệnh viện công lập) trên địa bàn TP.HCM.
Thời gian nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu và khảo sát được tiến hành từ tháng
08/2016 đến tháng 10/2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng
theo mục tiêu nghiên cứu, trong đó nghiên cứu định lượng đóng vai trò chủ đạo. Cụ
thể:
Phương pháp định tính: nhằm tập trung tìm hiểu các khái niệm được sự dụng
trong mô hình nghiên cứu, hiệu chỉnh và bổ sung biến quan sát cho các thang
đo. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua tìm hiểu các lý thuyết và
nghiên cứu liên quan, thảo luận nhóm về các câu hỏi và thang đo.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: nhằm xác định và đánh giá mức độ của
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT, sự phù hợp của mô hình nghiên
cứu với dữ liệu thực tế. Nghiên cứu định lượng được thiết kế với dữ liệu thu
thập thông qua khảo sát và được sử dụng để kiểm định lại mô hình và các giả
thuyết theo phương pháp thống kê mô tả phần mềm phân tích thống kê SPSS.
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thông qua kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các đơn vị SNYT công lập trên địa
bàn TP.HCM xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT. Từ
khu vực công của Nhật coi trọng việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của
các cán bộ, lãnh đạo và các đối tượng liên quan khác nhiều hơn là công chúng.
Yasuhiro Yamada đã có kết luận rằng tại Nhật Bản cần đưa mục tiêu cung cấp
thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình là mục tiêu cơ bản của BCTC khu vực
công của Nhật trong giai đoạn sau này, đồng thời phải có những biện pháp ràng
buộc về pháp lý mạnh để BCTC khu vực công của Nhật cung cấp thông tin đánh giá
trách nhiệm giải trình.
Harun Harun và Haryono Kamase (2012), đã thực hiện nghiện cứu tại Malaysia,
một nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, nhóm tác giả đã cho rằng
năng lực thể chế thấp của khu vực công là trở ngại lớn nhất cho các quốc gia đang
phát triển trong việc theo đuổi cải cách hệ thống kế toán. Tác giả cũng nêu ra định
nghĩa về năng lực thể chế trong khu vực công là khả năng của tổ chức để xác định
7
vấn đề, phát triển và đánh giá chính sách lựa chọn thay thế, đồng thời để vận hành
các chương trình của chính phủ. Năng lực thể chế thấp đã khiến các nước đang phát
triển bị rơi vào tình trạng quan liêu, làm việc không hiệu quả dẫn đến thông tin
thiếu minh bạch. Bên cạnh đó, sự tham nhũng làm cản trở việc cung cấp thông tin
kế toán minh bạch và làm cho hệ thống kế toán khu vực ông chậm đổi mới. Ngoài
ra, sự hạn chế quyền hành của công chúng trong việc tham gia vào chính sách khu
vực ông, sự hạn chế quyền hành của công chúng trong việc tham gia vào chính sách
khu vực công và sử dụng thông tin BCTC cũng làm ảnh hưởng đến việc cung cấp
thông tin kế toán minh bạch. Từ đó, bộ tài chính Malaysia cho rằng có bốn lý do
làm cho việc cải cách kế toán Malaysia theo cơ sở dồn tích là: (1) thiếu nguồn nhân
lực có tay nghề cao, đặc biệt la trong lĩnh vực kế toán, (2) quan chức cấp cao trong
Chính phủ đã quen thuộc với hệ thống kế toán cũ, (3) thiếu sự hỗ trợ của chính trị,
(4) không có chuẩn mực kế toán mà có thể được sử dụng như một công cụ thống
nhất cho việc ghi nhận các giao dịch và tiêu chuẩn của các BCTC khu vực công.
thống kế toán NN thống nhất, phương pháp và nguyên tắc kế toán chưa tuân thủ
hoàn toàn thông lệ quốc tế; (2) số liệu kế toán tại các đơn vị kế toán NN chưa đồng
bộ; (3) kho bạc NN chưa triển khai và vận hành một cách chỉnh hệ thống thông tin
kế toán tập trung; (4) khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ và chưa theo kịp với sự phát
triển của kinh tế thị trường; (5) năng lực, trình độ của cán bộ còn bị giới hạn; (6) lộ
trình cải cách chậm và nguồn lực tài chính dành cho cải cách kế toán chưa đáp ứng
được yêu cầu.
Bài báo khoa học của Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga (2014) “Tiêu chí đánh giá
và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán”.
Trong bài nghiên cứu của mình, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga đã nêu ra những
quan điểm, các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng TTKT, cụ thể:
Nghiên cứu của Ahmad AI – Hiyari and Ctg (2013) đã công bố về các nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trong công trình nghiên cứu của minh. Các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT:
Nhân sự
Cam kết quản lý ( cam kết quản lý được hiểu là một cam kết tổng thể mà theo
đó không chỉ có sự tham gia của nhà quản lý và nhân viên trao quyền mà còn
9
để làm việc theo nhóm, trong nội bộ nhóm và nối giữa các nhóm, nhằm thực
hiện thông tin liên lạc thông suốt trong toàn bộ tổ chức).
Hệ thống thông tin
Chất lượng dữ liệu
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố chất lượng dữ liệu không có ảnh hưởng
đáng kể đến chất lượng TTKT.
Nghiên cứu của Rapina (2014) đã kết luận các yếu tố cam kết, văn hóa tổ chức
và cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng TTKT.
Sau quá trình phân tích, nghiên cứu để cuối cùng chạy mô hình hồi quy, tác giả
đã chứng minh và đi đến kết luận rằng: có 02 nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến chất
lượng TTKT của DN ở VN là nhân sự kế toán và các nhà quản lý, hệ thống văn bản
pháp luật.
Nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt (2014) “Xác định và đo lường mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài
chính của các công ty niểm yết ở Việt Nam”
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng TTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết ở VN. Đó là các
nhân tố sau:
Nhân tố nhà quản trị công ty: được thể hiện thông qua: (1) nhà quản trị của các
công ty niêm yết có hiểu biết nhất định về lĩnh vực tài chính – kế toán, (2) nhà
quản trị công ty của các công ty niêm yết có khoảng thời gian gắn bó với công ty
lâu dài và cuối cùng là (3) nhà quản trị của các công ty niêm yết xây dựng được
giá trị cốt lõi cho công ty.
Nhân tố lợi ích và chi phí khi lập BCTC: được thể hiện thông qua: (1) chi phí và
lợi ích khi lập BCTC của các công ty niêm yết phụ thuộc vào các chính sách kế
toán của Bộ tài chính, (2) chi phí và lợi ích khi lập BCTC của các công ty niêm
yết phụ thuộc vào quy trình kế toán của công ty và cuối cùng là (3) chi phí lập
BCTC của các công ty niêm yết thường được cân nhắc trong mối quan hệ với lợi
ích đạt được của công ty.
Nhân tố việc lập và trình bày BCTC: được thể hiện qua: (1) TTKT trình bày trên
BCTC của công ty niêm yết được công khai đúng thời hạn quy định, (2) TTKT
11
trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết có thể kiểm chứng được bởi kiểm
toán độc lập, (3) TTKT trình bày trên BCTC của công ty niêm yết được trình
bày đầy đủ và rõ ràng, (4) TTKT trình bày trên BCTC của công ty niêm yết
toán theo yêu cầu của nhà quản trị công ty, cuối cùng là (3) kiểm toán viên kiểm
toán BCTC của các công ty niêm yết không phát hiện hết các sai sót trong việc
lập và trình bày BCTC.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 5 nhân tố tác động đến chất lượng TTKT
được trình bày trên BCTC: rủi ro kiểm toán đối với công ty niêm yết, nhà quản trị
công ty, việc lập và trình bày BCTC, chi phí và lợi ích khi lập BCTC và thuế được
thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến tính sau:
Chất lượng TTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết =
0.448 x Rủi ro kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán đối với các công ty
niêm yết + 0.387 x Nhà quản trị công ty + 0.178 x Việc lập và trình bày BCTC +
0.166 x Chi phí và lợi ích khi lập BCTC + 0.104 x Thuế
Kết quả của bải nghiên cứu này đã xây dựng thành công mô hình đánh giá chất
lượng TTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết, qua đó cho thấy được
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT. Mặc dù nội dung và kết quả bài
nghiên cứu không liên quan trực tiếp đến luận văn mà tôi đang trình bày, nhưng đây
là tiền đề, là cơ sở để tôi lựa chọn, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
TTKT tại các đơn vị SNYT công lập trên địa bàn TP.HCM.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2014) “Hoàn thiện báo cáo tài chính khu
vực công - nghiên cứu cho các đơn vị hành chính sự nghiệp tại Việt Nam.
Kế thừa nghiên cứu của Choi và Mueller (1984), trong luận án tiến sĩ kinh tế về
Hoàn thiện BCTC khu vực công – nghiên cứu cho các đơn vị hành chính sự nghiệp
tại Việt Nam của mình, tác giả đã đề cập đến các nhân tố tác động đến chất lượng
TTKT trên BCTC khu vực công cần được kiểm định bao gồm:
Môi trường pháp lý: gồm có: (1) luật Ngân sách và các chính sách quản lý tài
chính khu vực công, (2) Chuẩn mực, chế độ kế toán khu vực công, (3) cơ quan
ban hành chuẩn mực, chế độ kế toán khu vực công, (4) mục tiêu báo cáo tài
chính rõ ràng.
Môi trường chính trị: gồm có: (1) sự dân chủ, (2) sự giám sát chặt chẽ của cơ
quan, đơn vị giám sát, (3) áp lực từ việc bắt buộc phải cung cấp thông tin BCTC
cơ sở kế toán thống nhất theo điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với định
hướng của quốc tế trong bộ chuẩn mực kế toán công.
14
1.2 Khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu cho luận văn
Các nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đã phần nào cho thấy tầm quan trọng
của chất lượng thông tin kế toán trên BCTC trong việc hỗ trợ ra quyết định và quản
trị công ty của nhà quản lý. Từ đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải nhận diện được
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT hiện nay. Kết quả tổng kết các nghiên
cứu phát hiện ra được các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng TTKT như là: nhân
sự, cam kết quản lý, hệ thống thông tin, chất lượng dữ liệu, văn hóa tổ chức và cơ
cấu, quyết định của nhà quản lý, cơ chế quản lý bên trong và bên ngoài, các quy
định về BCTC, hệ thống pháp luật...
Trong nước, các luận văn cũng đã có những nghiên cứu nhất định về chất lượng
thông tin kế toán trên BCTC khu vực công. Từ đây, câu hỏi đặt ra là các nhân tố
nào sẽ ảnh hưởng đến chất lượng TTKT khu vực công hiện nay? Các nghiên cứu
nước ngoài và trong nước đã phát hiện ra được các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng TTKT tại các doanh nghiệp nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu trong nước vẫn
chưa có nghiên cứu trong trường hợp kiểm định tại các đơn vị sự nghiệp y tế công
lập nói riêng.
Từ tầm quan trọng của vấn đề, từ chỗ số lượng nghiên cứu thực nghiệm về vấn
đề này không nhiều và cần được bổ sung hoàn thiện trong nghiên cứu tại môi
trường Việt Nam. Do đó, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu đã công bố, tác giả
đã xác định hướng nghiên cứu trong luận văn này là xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng TTKT tại các đơn vị SNYT công lập tại TP.HCM. Kết quả
nghiên cứu sẽ giúp nhận diện và xác định về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
TTKT, từ đó có thể tìm ra các giải pháp hữu ích góp phần nâng cao chất lượng
TTKT cho các đơn vị SNYT công lập tại TP.HCM.
Như vậy, chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng hay người sử dụng sản phẩm dịch vụ. Đánh giá chất lượng cao hay thấp
phải đứng trên quan điểm người sử dụng. Đối với TTKT được tạo ra từ các báo cáo
16
kế toán thì thông tin này có chất lượng khi nó đáp ứng được nhu cầu ra quyết định
của người sử dụng thông tin.
2.1.3 Khái niệm về chất lượng thông tin
Theo Wang và cộng sự thì chất lượng thông tin có thể được hiểu là thông tin phù
hợp với mong đợi của người sử dụng thông tin đó (Wang & cộng sự, 1998). Bên
cạnh đó thì Kahn và cộng sự là nêu lên chất lượng thông tin là đặc tính của thông
tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin
(Kahn & cộng sự, 1999). Việc đo lường chất lượng thông tin phụ thuộc vô cảm tính
cá nhân nên cần thiết có những đặc điểm chung về chất lượng thông tin làm tiêu
chuẩn đo lường, các tiêu chuẩn về chất lượng thông tin được tác giả tổng hợp từ các
nghiên cứu như sau:
Tính kịp thời: nhấn mạnh đến tính cung cấp thông tin một cách nhanh chóng
hoặc thông tin được cập nhật đúng thời điểm theo yêu cầu của người sử dụng.
Tính có thể truy cập: nhằm đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng và ổn định
mang lại các giá trị cho người sử dụng.
Tính khách quan: đảm bảo thông tin phản ánh thực tế một cách khách quan.
Tính thích hợp: thông tin phải thích hợp cho các quyết định của người sử dụng.
Chính xác: đây là tiêu chuẩn đòi hỏi tính rõ rang và chắc chắn của thông tin.
Nhất quán: đây là tiêu chuẩn đòi hỏi thông tin không mâu thuẫn, nhất quán về
hình thức và nội dung.
Đầy đủ: thông tin phải đảm bảo các yêu cầu nhằm phản ánh đúng thực tế
Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin, mỗi quan
điểm của những tiêu chuẩn khác nhau. Tuy nhiên, tác giả đưa ra nhận xét là thông