CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ……………
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp giúp làm tốt công tác phổ cập giáo
dục Trung học cơ sở
2. Lĩnh vực áp dụng
Bài viết này thuộc lĩnh vực Phổ cập giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
- Công tác chống mù chữ (CMC), phổ cập giáo dục Tiểu học (PC GDTH),
phổ cập Trung học cơ sở (PC THCS) gọi chung là phổ cập giáo dục (PCGD) là
một nhiệm vụ quan trọng để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được xác định
rõ trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Quốc hội về việc thực hiện
PCGD trên phạm vi cả nước;
- Việc hoàn thành chỉ tiêu đạt chuẩn quốc gia công tác phổ cập giáo dục
Tiểu học, THCS đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối
kết hợp của các ban ngành, đoàn thể với trường học đặc biệt là sự hưởng ứng,
ủng hộ tích cực của nhân dân;
- Giáo viên chuyên trách phổ cập có vai trò hết sức quan trọng trong việc
tham mưu cho nhà trường, Ban chỉ đạo CMC&PCGD (BCĐ CMC&PCGD)
hoàn thành công tác này. Thực tế cho thấy, giáo viên chuyên trách nhiệt tình,
tích cực trong công tác, phát huy tốt vai trò tham mưu và nắm vững cách thiết
lập hồ sơ sổ sách thì việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục ở địa phương mới
đạt kết quả cao.
* Những ưu, khuyết điểm của giải pháp, đang được áp dụng tại cơ
quan, đơn vị
2
- Nguồn nhân lực chủ chốt sau đội ngũ giáo viên nhà trường là lực lượng
ở các ấp. Khi Ban chỉ đạo CMC&PCGD họp và giao nhiệm vụ xuống cơ sở rất
cụ thể, chặt chẽ. Sự hướng dẫn, kiểm tra, động viên khuyến khích và nhắc nhở
kịp thời nên việc thực hiện công tác PCGD luôn được duy trì, và tiến hành
thường xuyên.
b.2) Công tác điều tra, cập nhật số liệu
- Công tác điều tra, cập nhật số liệu thể hiện tốt sự phối hợp giữa nhà
trường và các ấp, tổ nhân dân tự quản (tổ NDTQ) dẫn đến số liệu trùng khớp,
chính xác. Cán bộ, giáo viên dưới sự hướng dẫn của từng ấp, tổ NDTQ, nên các
hộ ở các vùng giáp ranh giữa các ấp thường không bị bỏ sót, hoặc điều tra không
bị trùng lặp. Thêm vào đó từng xóm, ấp có sổ theo dõi tình hình nhân khẩu trên
địa bàn cũng là nguyên nhân chính dẫn đến công tác điều tra đạt kết quả cao;
- Trong quá trình điều tra có nhiều đối tượng thông cá nhân không phù
hợp. Hoặc các thông tin cá nhân của một đối tượng điều tra giữa các loại hồ sơ
có liên quan không trùng nhau. Ban chỉ đạo CMC&PCGD xã đã nắm bắt vấn đề
này và đã tham mưu với Ủy ban nhân dân (UBND) xã chỉ đạo các cơ quan, ban
ngành có liên quan phối hợp để điều chỉnh để mỗi đối tượng chỉ có một hồ sơ
thông tin cá nhân thống nhất.
b.3) Công tác giáo dục phổ thông
- Mặc dù ở địa phương, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng hiện
nay nguyên nhân chính các em bỏ học không phải do hoàn cảnh gia đình khó
khăn không có điều kiện cho các em đến trường, mà hầu hết là do ảnh hưởng
những mặc trái của xã hội, bị bạn bè xấu rủ rê làm ảnh hường trực tiếp đến nhận
thức của các em trong học tập; ham chơi, trốn học nhiều lần dẫn đến bỏ học;
- Để đạt được chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở điều kiện đầu tiên
là không có trẻ nào trong độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi bỏ học ở Tiểu học. Điều này
thật khó, bởi vì học sinh có thể bỏ học với nhiều lý do vì vậy nếu các trường
THCS làm Phó trưởng ban (trong đó Hiệu trưởng trường THCS làm Phó ban
trực), các thành viên còn lại là trưởng ấp, trưởng các hội, các đoàn thể của địa
phương và các thành viên trong nhà trường. Từng thành viên Ban chỉ đạo
CMC&PCGD xã có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Bên cạnh đó cũng
tham mưu cùng Đảng ủy phân công Chi bộ ấp nào phụ trách ấp đó;
4
- Đối với các Hội, Đoàn thể trong xã dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, nhà
trường chủ động xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động. Trong Quy chế quy
định rõ trách nhiệm của từng bên trong công tác vận động và duy trì sĩ số học
sinh trong nhà trường để cuối năm đưa kết quả công tác vào tiêu chuẩn đánh giá
xếp loại thi đua cho các hội, đoàn thể.
c.3) Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác PCGD
Để thực hiện công tác PCGD có hiệu quả, việc xây dựng kế hoạch hoạt
động rất cần thiết. Trên cơ sở kết quả điều tra trình độ học vấn và nắm bắt các
đối tượng, nhà trường tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã, xây dựng kế hoạch
thực hiện với những giải pháp trước mắt và lâu dài. Sau đó đưa ra thảo luận
trong Ban chỉ đạo CMC&PCGD và Hội đồng giáo viên nhà trường, khi đã thống
nhất hoàn toàn sẽ bắt tay vào triển khai thực hiện.
c.4) Nắm chắc đối tượng PCGD
- Muốn tiến hành phổ cập trước hết phải nắm chắc đối tượng mới thực
hiện công việc có hiệu quả. Cho nên khi thực hiện công tác PCGD, phải tiến
hành điều tra trình độ học vấn trên địa bàn xã, phân loại đối tượng theo hình
thức bỏ học, nguyên nhân bỏ học. Sau khi điều tra xong cập nhật vào sổ, theo
dõi và nắm thật chắc đối tượng làm cơ sở cho việc thực hiện PCGD;
- Phối hợp với địa phương (Trưởng ấp) để nắm chắc số hộ trong ấp mình
được phân công điều tra. Để công tác điều tra được thuận lợi (không bỏ sót hộ,
không trùng lặp, tốn ít thời gian…), trước khi tiến hành điều tra, cần họp BCĐ,
c.6) Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng học tập
Nhà trường luôn ý thức nâng cao chất lượng giáo dục. Hưởng ứng thực
hiện cuộc vân động “Hai không” với 4 nội dung, “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” do ngành giáo dục phát động, không ngừng thực hiện
cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trường
tổ chức dạy đủ các môn học, nâng cao chất lượng giảng dạy ở các môn bằng
cách:
- Đưa cán bộ, giáo viên dự đầy đủ các lớp tập huấn về chuyên môn và
tham gia tốt các họat động chuyên môn cụm do Phòng Giáo dục và Đào tạo
hướng dẫn và thực hiện;
6
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm,
có đồ dùng dạy học trực quan, tăng cường các tiết thực hành, khắc phục tình
trạng đọc chép;
- Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn tránh nội dung chung chung và thống
kê hình thức mà đi vào xây dựng tiết khó, tiết ôn tập, kiểm tra, thực hành, góp ý
chân thành cho đồng nghiệp về các vấn đề khó trong giảng dạy và chủ nhiệm;
- Đảm bảo thực hiện dạy học tự chọn có hiệu quả và tăng cường dạy phụ
đạo cho học sinh yếu kém;
- Động viên đội ngũ giáo viên trong việc học nâng chuẩn về trình độ
chuyên môn và tin học, ngoại ngữ thông qua chương trình bồi dưỡng thường
xuyên hàng năm;
- Việc giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông có tác động rất
lớn đến công tác phổ cập. Vì vậy, song song với việc thực hiện nhiệm vụ phổ
cập, hội đồng sư phạm nhà trường quán triệt và đề ra nhiều giải pháp nâng cao
chất lượng giảng dạy và học tập, phấn đấu xây dựng nhà trường ngày càng phát
triển hơn nữa, làm sao để trong suy nghĩ và nhận thức của mọi người dân, nhà
các em lại với nhau, sẻ chia và thông cảm, đùm bọc và thương yêu để các em
phấn khởi, tin tưởng, yêu mến, gần gũi, tự hào gắn bó với mái trường thân yêu
nơi cả thời thơ ấu được học tập và vui chơi.
c.8) Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên
Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng
học tập và xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, nhà trường rất chú trọng
đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Các nội dung bồi dưỡng của giáo viên thực
hiện theo văn bản hướng dẫn của cấp trên (cử giáo viên tham gia các lớp tập
huấn, thao giảng cụm…). Hầu hết giáo viên tham gia đầy đủ, trên cơ sở đó nhà
trường tạo mọi điều kiện để giáo viên hoàn thành nhiệm vụ;
Lãnh đạo nhà trường tổ chức xây dựng kế hoạch và chỉ đạo bồi dưỡng
giáo viên cụ thể dưới nhiều hình thức (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, bồi dưỡng
thường xuyên, tự rèn luyện, tự bồi dưỡng) với nhiều hoạt động như: lên kế
hoạch cụ thể việc cử, chọn giáo viên được ưu tiên tham gia các lớp nâng chuẩn,
tập huấn (xét trên nhu cầu, tinh thần phấn đấu của từng giáo viên, năng lực …)
để có kế hoạch hỗ trợ, tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập, bồi dưỡng; chỉ đạo cho các tổ chuyên môn hoạt động tích cực; lên kế hoạch
8
cụ thể và công khai các hoạt động chuyên môn đến tất cả giáo viên trong toàn
trường để giáo viên chủ động xây dựng kế hoạch cá nhân; không chú trọng
nhiều đến số lượng giờ giáo viên dự giờ lẫn nhau mà quan tâm nhiều đến việc
rút kinh nghiệm sau mỗi lần dự giờ; lãnh đạo nhà trường thường xuyên theo sát
và tham gia vào các hoạt động chuyên môn cùng giáo viên để nắm chắc chất
lượng, năng lực giảng dạy của từng giáo viên để có sự đánh giá, nhận xét khách
quan, chính xác từ đó có những ý kiến tư vấn, thúc đẩy kịp thời, hiệu quả; gắn
các nhiệm vụ giáo dục vào các tiêu chí thi đua giữa các giáo viên (kể cả nhiệm
vụ phổ cập giáo dục); khuyến khích giáo viên phát huy tinh thần tự học, tự rèn,
tự bồi dưỡng.
(Những tiêu chuẩn cần đạt, số trẻ trong độ tuổi, số trẻ có hoàn cảnh gia đình khó
khăn có nguy cơ bỏ học; ....) cùng với nhà trường huy động trẻ ra lớp, nhất là
đối với những trẻ có nguy cơ bỏ học vì hoàn cảnh gia đình; khắc phục tình trạng
trẻ bỏ học để kiếm sống;
- Bên cạnh đó, các trường tranh thủ vận động sự giúp đỡ của các nhà hảo
tâm, của con em địa phương đã trưởng thành đóng góp đầu tư cho giáo dục địa
phương, hiệu quả nhất là vận động khen thưởng cho học sinh và giáo viên có
nhiều thành tích ở các đơn vị trường hằng năm nhằm khuyến khích, tạo động lực
thi đua trong dạy và học.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Bài viết “Một số giải pháp giúp làm tốt công tác phổ cập giáo dục
Trung học cơ sở” đang trình bày, không nặng tính lí luận mà chủ yếu đi vào
thực tế công việc. Do đó, mọi giáo viên làm công tác phổ cập giáo dục hầu như
đều có thể áp dụng ngay trong công việc của bản thân tại bất kì đơn vị nào, hoặc
có thể áp dụng trong đó một vài điểm mà mình tâm đắc để thực hiện. Trong quá
trình thực hiện công tác PCGD, qua từng lúc, từng năm, trên địa bàn công tác,
giáo viên rút ra những kinh nghiệm thực tế của mình, có thể khái quát thành
những vấn đề mang tính ứng dụng cao hơn, cụ thể hơn để thực hiện.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp
Qua quá trình thực hiện công tác PCGD theo những kinh nghiệm nêu trên,
bản thân tôi đã thu được một số kết quả tích cực như sau:
10
- Công tác Chống mù chữ, số người đạt chuẩn biết chữ tăng dần theo từng
năm;
Duy trì và từng bước nâng chuẩn công tác PCGD Tiểu học, phổ cập
THCS từ khi công nhận cho đến nay;
Tăng 0,30%
Tăng 0,09%
+ Tỉ lệ học sinh lưu ban giảm dần
Năm học
2012-2013
2013-2014
2014-2015
Số học sinh
lưu ban
1 học sinh
1 học sinh
0 học sinh
Tỉ lệ
1/480 = 0,2%
1/490 = 0,2%
0/504 = 00%
Tăng (giảm) so
với năm trước
Giảm 0,20%
Giảm 00%
Giảm 0,20%