MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
I.
PHẦN MỞ ĐẦU;
Như chúng ta đã biêt môi trường sống xung quanh có ảnh hưởng không nhỏ
đến cuộc sống, sức khỏe của con người ,việc bảo vệ môi trường sống không chỉ là
nhiêm vụ của mỗi cá nhân mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội và là vấn đề mang
tính toàn cầu hiện nay. Giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách, song cũng
cần được tồn tại lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, giáo dục ý thức cho con
người từ khi còn nhỏ. Vì vậy, ngành giáo dục nói chung và giáo viên mầm non nói
riệng cần có kiến thức nhất định về bảo vệ môi trường và nắm chắc nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường cho trẻ và có nhận thức cao về tầm quan trọng của việc giáo
dục và bảo vệ môi trường cho trẻ độ tuổi mầm non.
Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường là một vẫn đề không mới nhưng đang là
mối quan tâm lớn của nhân loại trước những hậu quả đau lòng của thiên tai, dịch
bệnh đang từng ngày đe dọa cuộc sống của con người, việc giáo dục bảo vệ môi
trường là nhiệm vụ của mỗi nhà giáo dục để tạo thành sức mạnh của ý thức cộng
đồng trong việc chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ hành tinh của con người ,kiến
thức và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ của mỗi giáo viên mầm
non là khác nhau đòi hỏi giáo viên sẽ phải biết vận dụng các phương pháp, sử dụng
có hiệu quả giáo trình Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động giáo
dục, hoạt động vui chơi và làm quen với môi trường xung quanh…Thông qua chế
độ sinh hoạt một ngày của trẻ ở trường, tận dụng mọi cơ hội và mọi lúc, mọi nơi để
giáo dục trẻ bảo vệ môi trường. kết hợp làm tôt công tác tuyên truyền bậc phụ
huynh về bảo vệ môi trường. Có như vậy trẻ sẽ có kiến thức và kỹ năng về bảo vệ
1
1993 và Đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc
dân” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc giáo dục bảo vệ môi trường
không những chỉ cho hôm nay mà cho cả ngày mai và đặc biệt là cần được giáo dục
ngay từ lứa tuổi mầm non.
Thực hiện nhiệm vụ năm học,được sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo,
Vụ Giáo dục mầm non cùng với sự hướng dẫn chỉ đạo của Phòng Giáo dục & Đào
tạo huyện Đông Triều thực hiện 5 đề tài lớn trong năm học, trong đó đề tài “ Xây
dựng trường học nông thôn xanh- sạch- đẹp và an toàn” các trường mầm non trong
toàn huyện đã đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ vào chương trình
chăm sóc, giáo dục trẻ .
Cùng với đó trong những năm học gần đây việc thực hiện chuyên đề giáo
dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non đã trở thành chuyên đề thường xuyên
của nhà trường, là một giáo viên dạy lớp mẫu giáo 4-5 tuôi tôi mạnh dạn nghiên
cứu đề tài “ Một số biện pháp nâng cao kĩ năng giáo dục bảo vệ môi trường cho
trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ.
- Tôi tiến hành ngiên cứu và đi đến hoàn thành đề tài này với mong muốn đề
ra nội dung, cách tổ chứ giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại
trường mầm non hưng đạo thông qua hoạt động khám phá khoa học.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non có thể thực hiện tất
cả các lĩnh vực và các chủ diểm, nhưng do điều kiện thời gian có hạn trong đề
tài này tôi chỉ nghiên cứu “ Một số biện pháp nâng cao kĩ năng giáo dục bảo vệ
môi trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ”
.
4. Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ, môi
trường của địa phương và đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giáo
giống với thực tế, có mầu sắc hấp dẫn, đồ chơi sạch sẽ để dạy trẻ, bởi chính mầu
4
sắc hình dạng và tính thẩm mỹ của đồ chơi đó là sự thu hút sự chú ý của trẻ khiến
trẻ tập trung chú ý quan sát khám phá về đồ vật đó.
+ Khi sử dụng tranh ảnh để dạy trẻ thì cô phải lựa chọn những tranh ảnh đẹp,
còn mới, có mầu sắc rõ ràng, có kích thước to để trẻ tri giác một cách rõ ràng.
+ Đối với tranh lô tô để cho trẻ sử dụng khi trẻ chơi các trò chơi thì cô phải
sử dụng những tranh ảnh còn mới đẹp, rõ ràng về mầu sắc.
Trong quá trình sử dụng đồ chơi đồ dùng tranh ảnh để cho trẻ quan sát hoặc
chơi các trò chơi, cô không nên chỉ sử dụng một loại đồ chơi cho các tiết học mà
cần phải thay đổi đồ dùng thường xuyên để trẻ khỏi nhàm chán. Ví dụ: khi tổ chức
cho trẻ chơi “thi xem ai chọn nhanh” thì có tiết có thể sử dụng tranh lô tô, có tiết
cô cho trẻ sử dụng đồ chơi làm bằng bìa hoặc có tiết sử dụng đồ chơi bằng nhựa.
- Với việc lựa chọn những đồ dùng, đồ chơi tranh ảnh đẹp có mầu sắc hấp
dẫn và luôn thay đổi trong các tiết học sẽ giúp trẻ tiếp xúc với nhiều đồ dùng, đồ
chơi đa dạng phong phú về chủng loại, chất liệu hình dạng từ đó luôn gây được sự
chú ý của trẻ, kích thích trẻ tham gia vào hoạt động tìm tòi, khám phá ra những
kiến thức về các sự vật hiện tượng xung quanh.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Khi nói đến môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất
nhân tạo, chúng có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người và nó có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên, vì
thế nếu môi trường bị ô nhiễm thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến đời sống con người, nó
sẽ gây hại đến sức khoẻ của con người và sự phát triển của các sinh vật nên chúng
ta cần phải bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường trong lành, làm cho môi trường
sạch đẹp. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi nhà, mọi địa
phương, trường học cũng như các doanh nghiệp và của toàn xã hội.
viên.
6
- Bản thân là giáo viên sở tại luôn luôn nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ không
ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn và học hỏi bạn đồng nghiệp. Đặt biệt
tôi tận dụng nghuyên liệu thải bỏ để có thể biến chúng thành những đồ dùng, đồ
chơi đơn giản giúp trẻ được khám phá môi trường xung quanh.
- Về trẻ tổng số 15 trẻ trong đó có 7 trẻ nữ, 8 trẻ nam.
- Một số trẻ được gia đình quan tâm chăm sóc, tạo điều kiện cho trẻ hoạt
động tiếp xúc với môi trường xung quanh.
- Nhận thức của trẻ về môi trường xung quanh.
- Số trẻ có khả năng củng cố hiện tượng cũ, hình thành biểu tượng mới và
phát triển ngôn ngữ mạch lạc là 10/15 trẻ đạt ,,,%.
- Số trẻ có sự cảm nhận và rung động về cái đẹp, mong muốn tạo nên cái đẹp
là 11/15 trẻ đạt %.
- Số trẻ có thói quen vệ sinh- nếp sống văn hóa và hành vi văn minh là 12/15
trẻ đạt %.
Về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ.
* Khó khăn
- Do ảnh hưởng trẻ trong độ tuổi là lớp ghép nên nhiều trẻ còn nhỏ chưa có ý
thức bảo vệ môi trường nhiều trẻ còn vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định. Đồ
dùng đồ chơi chưa biết sắp xếp gọn gàng ngăn lắp.
- Môi trường tự nhiên ngoài lớp học còn chật hẹp như góc thiên nhiên chưa
phong phú, vườn trường hẹp, ít cây cối.
- Đồ dùng đồ chơi còn hạn chế, chưa nhiều, chưa phong phú và đa dạng.
- Chất lượng đồ chơi chưa cao, một số đồ chơi tự tạo chưa bền, mức độ thẩm
mĩ thấp.
* Về môi trường tự nhiên:
8
- Đưa trẻ vào hoạt động khám phá môi trường xung quanh hàng ngày thông
qua các hoạt động dạo chơi thăm quan
3.2. Nội dung cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Biện pháp 1.
- Bồi dưỡng kĩ năng giáo dục BVMT và nâng cao nhận thức cho trẻ về
tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường
Giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở quan trọng
đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việt Nam. Giai
đoạn từ 0 – 6 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Trong
giai đoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất, nhận thức, tình cảm. Các mối
quan hệ xã hội, những nét tính cách, phẩm chất và các năng lực chung,… nếu
không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này, thì khó có cơ hội hình thành ở lứa
tuổi sau.
Giáo viên là đội ngũ đóng vai trò chính trong việc giáo dục BVMT vì giáo viên là
người trực tiếp giảng dạy và đưa kiến thức giáo dục BVMT đến với trẻ. Kĩ năng sư
phạm là yếu tố quyết định đến kết quả giáo dục trẻ và vậy đòi hỏi mỗi cô giáo cần
có kiến thức rộng rãi, có nội dung, phương pháp giáo dục, thái độ bảo vệ môi
trường đúng đắn. Đây là vấn đề hết sức quan
*. Điều kiện thực hiện các giải pháp.
- Lớp học đã có khuôn viên vườn rau, cây xanh để trẻ được quan sát trực tiếp qua
những bài học giáo viên dã giáo dục trẻ biết được ý nghĩa của việc giáo dục bảo vệ
môi trường qua những buổi dạo chơi quan sát xung quanh trường, qua những buổi
lao động nhặt lá rụng, nhổ cỏ bắt sâu….
Biện pháp 2.
Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức.
9
10
Tổ chức cho trẻ đi dạo nhằm thỏa mãn nhu cầu vận động, hít thở không khí
trong lành, nhằm củng cố mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh.
Ví dụ: trong chủ đề “Gia đình” cho trẻ đi dạo quan sát vườn rau ở vườn
trường. Trẻ biết được tên, đặc điểm các loại rau và lợi ích của rau với sức khỏe con
người.
Giáo dục trẻ:
- Biết bảo vệ chăm sóc vườn rau.
- Biết ăn rau xanh có lợi cho sức khỏe.
- Biết ơn những người trồng rau.
Biện pháp 3.
- Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào kế hoạch chăm sóc giáo dục
trẻ.
*. Nội dung.
Căn cứ vào các lĩnh vực giáo dục như Con người và môi trường, con người
và thế giới động, thực vật, con người và hiện tượng thiên nhiên, con người và tài
nguyên … tôi triển khai cho giáo viên và yêu cầu giáo viên đưa các nội dung giáo
dục trên vào chương trình giáo dục trẻ hàng ngày tại các nhóm lớp, tạo cơ hội giúp
trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh gắn liền với cuộc sống của con người cúng như
các hoạt động hàng ngày của trẻ tại lớp như: Trường, lớp, gia đình, làng xóm. Phân
biệt được môi trường sạch, môi trường bẩn. Từ đó trẻ có ý thức phải giữ gìn cho
môi trường sạch sẽ.
Các con vật người cày bừa, vận chuyển, là nguồn thực phẩm quý giá. Từ đó
trẻ có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây cối, chăm sóc vật nuôi. Cô giáo giải thích cho
trẻ về lợi ích và tác hại của gió, nắng, mưa và các biện pháp tránh nắng, tránh gió,
tránh mưa. Trẻ cần phải được giáo dục và hiểu được con người, cây cối, con vật
11
qua đó giáo viên một lần nữa rút được kinh nghiệm trong phương pháp giáo dục
của mình và có sự điều chỉnh hành vi cho trẻ nhanh nhât và có hiệu quả nhất.
Biện pháp 5.
- Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động đó là lời nói
của cô trong bài dạy.
*. Nội dung.
Vì trẻ mẫu giáo bé rất thích tình cảm, ưa nhẹ nhàng nên trong giờ dạy có phải
có lời nói nhẹ nhàng, tình cảm, cô luôn thể hiện sự dịu dàng gần gũi trẻ, quan tâm
tới từng trẻ, khi dạy trẻ cô phải nói với giọng vừa phải, không nói quá to hoặc quá
nhỏ, nếu nói nhỏ trẻ không đủ nghe, nói quá to trẻ có cảm giác cô mắng trẻ, nên trẻ
sợ hãi.
- Khi nói cô phải thể hiện được tình cảm điệu bộ kết hợp với cử chỉ, nét mặt,
ánh mắt để thể hiện được đúng nội dung câu nói, đúng hoàn cảnh, nói phải có ngữ
điệu, ngắt nghỉ đúng chỗ.
Ví dụ: Khi sử dụng lời nói trong phần trò chơi, cô phải nói giọng vui tươi hấp
dẫn, sôi nổi, thể hiện sự sôi nổi của trò chơi tạo không khí trong quá trình chơi của
trẻ.
- Hoặc khi kể một câu chuyện trong phần giới thiệu bài, cô phải kể diễn cảm
thể hiện được tính cách của nhân vật qua lời nói, giọng kể phải chậm, rõ ràng, để
trẻ cảm nhận được nội dung của câu chuyện đó.
- Trong quá trình dạy cô cần phải đưa ra những tình huống có vấn đề lôi cuốn
trẻ tìm tòi, khám phá, lúc đó lới nói của cô phải thể hiện như là động cơ để biết
“các con hãy thể hiện giúp bạn hoặc chúng mình sẽ cùng nhau thi đua xem ai giỏi
hơn, ai nhanh hơn, ai thông minh hơn, ai khéo hơn,... để giúp trẻ cố gắng thi đua”.
- Trong khi dạy trẻ cô phải khéo léo xử lý đúng, vì trẻ mẫu giáo bé hay sợ
sệt, nhút nhát nên cô phải thường xuyên khen ngợi động viên trẻ, khuyến khích trẻ
khi trẻ trả lời đúng cô phải khen ngợi, tuyên dương trẻ ngay để trẻ thích thú, còn
* Cho trẻ chơi hái quả
14
- Chia trẻ làm hai nhóm chơi hái quả theo yêu cầu của cô, khi cô đã giới thiệu
luật chơi, cách chơi.
- .Biện pháp 6.
- Cho trẻ tiếp xúc với vật thật.
* Nội dung.
- Vì trẻ mẫu giáo chưa có kỹ năng quan sát tốt, tư duy chưa phát triển nhiều
và kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên khi cô cho trẻ làm quen với các sự vật, khi
trẻ được tiếp xúc với sự vật thật là đối tượng cụ thể chính xác nhất giúp trẻ nắm bắt
kiến thức một cách dễ dàng, đầy đủ và toàn diện hơn.
- Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với một số loại rau, tôi đã tận dụng những sản
phẩm sẵn có của địa phương là có nhiều rau, tôi chuẩn bị những loại rau thật như
rau bắp cải, cà chua, xu hào, rau muống,.... Với những loại rau này sẽ hấp dẫn đối
với trẻ, thu hút sự chú ý tập trung của trẻ bởi mầu sắc, hình dạng, cấu tạo của các
loại rau, trẻ nhìn thấy một cách rõ dàng, toàn diện, trẻ được ngắm nhìn xung quanh
rau một cách kỹ lưỡng. Mặt khác trẻ còn được cầm nắm, sờ mó vào các loại rau
một cách thoải mái để khám phá ra đặc điểm của rau một cách dễ dàng, chính xác.
- Hoặc khi cho trẻ làm quen với một số vật nuôi gia đình, cô nên chuẩn bị
những con vật quen thuộc và dễ tìm như con gà, con mèo, con chó,.... để cho trẻ
quan sát. Khi trẻ được quan sát những con vật thì trẻ sẽ thấy nó sinh động, đang
yêu, vì đó là đối tượng quan sát “động” chứ không phải là “Tĩnh” như tranh. Trẻ
nhìn thấy nó đi lại, chạy, vểnh tai, nghiêng đầu kêu,... cho nên với tính chất “Động”
của đối tượng quan sát sẽ lôi cuốn trẻ, thu hút sự tập trung chú ý của trẻ vào việc
quan sát, khám phá đối tượng.
- Mặt khác, khi trẻ được quan sát vật thật thì trẻ được quan sát một cách đầy
đủ, toàn diện hơn so với tranh.
Ví dụ: với tranh con gà, trẻ nhìn thấy một bên con gà, trẻ nhìn thấy gà có một
16
Biện pháp 8.
Tham mưu xây dựng cơ sở vật chất tạo môi trường hoạt động cho trẻ.
*. Nội dung.
Cùng với BGH nhà trường tham mưu và đề xuất với địa phương giải quyết
việc phân cách khuôn viên riêng cho các điểm trường lẻ, đẩy nhanh lộ trình xây
dựng trường lớp và khuôn viên nhà trường để đảm bảo cho môi trường hoạt động
của trẻ.
Đề nghị với ban giám hiệu nhà trường xây dựng sân chơi tại điểm lẻ La
Dương để tạo điều kiện cho các lớp học tại đây thực hiện nhiệm vụ chăn sóc giáo
dục trẻ đảm bảo hơn.
Tranh thủ sự ủng hộ của các tập thể, các nhân, các doanh nghiệp đóng trên địa
bàn và hội cha mẹ học sinh để quy hoạch sân chơi, vườn rau cho các điểm trường
và từng bước cải thiện các công trình bếp ăn, nhà vệ sinh, nguồn nước sạch.
.
3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp.
Để trẻ có nhu cầu cho trẻ hứng thú về môi trường xung quanh trong trường
mầm non có thể thực hiện tất cả các lĩnh vực và các chủ diểm, nhưng do điều kiện
thời gian có hạn trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu “ Một số biện pháp nâng cao kĩ
năng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động khám phá
MTXQ”
Trước hết chúng ta phải giúp trẻ sống trong môi trường xã hội, phải khơi dậy
hứng thú của trẻ với môi trường xung quanh.
Khi dạy trẻ 4-5 tuổi …………………………………………
17
nâng lên. 100% giáo viên hiểu rõ được tàm quan trọng, sự cần thiết của việc giáo
dục trẻ bảo vệ môi trường.
100% giáo viên xác định được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
mầm non. Đồng thời bản thân nắm chắc nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho
trẻ
100% giáo viên đã có kĩ năng tốt, biết lựa chọn hình thức, sử dụng phương
pháp linh hoạt và tạo điều kiện, tận dụng mọi cơ hội ở mọi lúc mọi nơi để giáo dục
trẻ bảo vệ môi trường.
Hầu hết đồ dùng, đồ chơi của cô và trẻ đều được tận dụng từ các nguyên
liệu phế thải và được xử lý qua đôi tay khéo léo và óc sáng tạo của cô giáo.
Mỗi giáo viên đã là một tuyên truyền viên tích cực đến các bậc cha mẹ học
sinh và cộng đồng về kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.
*Về phía trẻ:
Thông qua giáo dục bảo vệ môi trường, trẻ biết chăm sóc, giữ gìn sức khoẻ
cho bản thân, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học, biết cất đồ dùng, đồ
chơi cho ngăn nắp, gọn gàng, đúng chỗ. Trẻ biết cùng cô chăm sóc cây cảnh, góc
thiên nhiên của lớp, biết tiết kiệm nước, bỏ rác vào thùng, biết tiết kiệm thức ăn, ăn
hết suất, không rơi vãi.
Như vậy so với cùng kỳ năm trước đã có kết quả đáng khích lệ, rõ rệt, được
thể hiện qua bảng đánh giá sau:
Bảng đánh giá giáo viên: Số học sinh được đánh giá: 15
Tiêu chí đánh giá
Trước
dụng
19
khi
chung. Biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành
mạnh về cơ thể và trí tuệ.
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái. Như vậy, tất yếu phải giáo dục con người bảo vệ
môi trường. Giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình giáo dục có mục đích, nhằm
làm cho con người trong cộng đồng quan tâm đến các vấn đề của môi trường, có
sự hiểu biết về môi trường, có thái độ, kỹ năng và hành vi tốt trong việc bảo vệ
môi trường.
Trường mầm non là cơ quan chuyên trách chăm sóc, giáo dục trẻ, là nơi có
trách nhiệm giáo dục bảo vệ môi trường đầu tiên của trẻ. Cô giáo mầm non là
người trực tiếp giáo dục trẻ theo mục tiêu của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường
nên nếu nhà trường mầm non có kế hoạch chỉ đạo tốt, giáo viên thực sự coi trọng
vấn đề này thì sẽ giúp trẻ có kiến thức, kỹ năng, hành vi tốt trong việc bảo vệ môi
trường ở lớp cũng như ở nhà.
Việc giáo viêncó kĩ năng tốt, biết linh hoạt, sáng tạo trong quá trình giáo dục
trẻ bảo vệ môi trường như sự khéo léo, thích hợp nội dung giáo dục cho trẻ thông
20
qua các hoạt động như: hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động,
hoạt động chăm sóc và hoạt động lễ hội … Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ còn
được diễn ra vào các thời điểm trong ngày từ đón trẻ đến trả trẻ, qua các hoạt động
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ.
Giáo viên Mầm non đều được đào tạo trong các trường sư phạm của chế độ
XHCN nên họ có phẩm chất đạo đức tốt,cùng với việc chỉ đạo học tập và làm theo
tấm gương đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh của cơ sở Đảng, kết hợp với việc
áp dụng các giải pháp được đưa ra ở đề tài này nên vấn đề giáo dục bảo vệ môi
trường cho trẻ trong trường Mầm non Việt Dân đã có kết quả cao, xây dựng nhà
trường trở thành “Trường học nông thôn xanh-sạch-đẹp và an toàn”, thực hiện tốt
phong trào xây dựng “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hưng Đạo, ngày 10 tháng 03 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA BGH
Người viết
HIỆU TRƯỞNG
Trần Thị Hiến
Lê Thị Hường
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài học về dân số và môi trường trong chương trình bồi dưỡng lớp quản lí
bậc học Mầm non.
2. Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường
Mầm non.
3. Một số vấn đề quản lí giáo dục Mầm non.
4.Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên Mầm non hè 2012
22
5. Giáo dục mầm non tập 1+ 2 (Tác giả : Đào Thanh Ân)
-6. Tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non ( Tác giả: Nguyễn ánh Nguyệt)
-7.Chương trình giáo dục mầm non và hướng dẫn thực hiện 4 - 5 tuổi
8. Phương pháp hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với MTXQ (Trung tâm
nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng giáo viên, tác giả: Trần Thị Thanh)
VII. Mục lục