Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Phòng GD và ĐT Phù Cừ
Trường THCS Tam Đa
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Tên đề tài:
“Hướng Tiếp nhận tác phẩm văn học cổ trong chương trình
THCS”
Người thực hiện :Nguyễn Thúy Hoa
Chức vụ :Giáo viên
Đơn vị công tác :Trường THCS Tam Đa
Năm học 2013-2014
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
1
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Phần B :Nội dung đề tài sang kiến kinh nghiệm
I/Mở đầu
a/Đặt vấn đề:
Thực trạng của việc học tập và nghiờn cứu các tác phẩm văn học trung đại của
cái đẹp của văn chương không giống như việc tiếp nhận cái đẹp do các
ngành nghệ thuật khác sáng tạo ra .Đó là bản chất đặc thù bất biến của
việc tiếp nhận văn học .
Cụ thể , Văn học cổ ở lớp 9 chỉ là một bộ phận , một mảng văn
học trong tổng thể nền văn học Việt Nam .Nó mang đặc trưng chung
của tác phẩm văn học nghệ thuật như mọi tác phẩm văn học khác , đồng
thời nó cũng có những nét riêng , đặc trưng riêng ,mang dấu ấn, màu sắc
của thời đại, quan điểm thẩm mĩ , tư tưởng , ý thức hệ thời phong
kiến....Văn học cổ - văn thơ cổ là tên gọi chung cho các tác phẩm văn
chương được sáng tác trong 10 thế kỉ đầu của văn học dân tộc từ thế kỉ
X đến thế kỉ XIX, kể cả một số tác phẩm xuất hiện vào đầu thế kỉ XX
nhưng được sáng tác theo quan điểm thẩm mĩ, theo đặc điểm đề tài, đặc
điểm ngôn ngữ của các nhà thơ xưa như những bài thơ của Nguyễn
Khuyến , Trần Tế Xương ... sau này (trong chương trình cũ). Đấy là bộ
phận quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc gồm các tác phẩm ưu tú
của các nhà thơ,nhà văn lớn như Truyện Kiều của Nguyễn Du, truyện
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu , Truyền kì mạn lục của Nguyễn
Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của dòng họ Ngô gia văn phái....Các tác
phẩm đó đã vượt qua những biến cố của lịch sử , qua thử thách khắc
nghiệt của thời gian đến với chúng ta và hôm nay vẫn còn nguyên giá trị
. Với nội dung nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc , văn thơ cổ cho học
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
3
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
học sinh lớp 9 vẫn là những tiếng nói và cách nói rất xa lạ . Đó là những
tiếng nói , cách nói của những người từng sống cách ta hàng mấy trăm
năm ,có cách cảm ,cách nghĩ , cách sinh hoạt, quan điểm thẩm mĩ , cách
trình bày diễn đạt khác hẳn ta...
Khó khăn thứ hai mà học sinh gặp phải khi tiếp cận tác
phẩm văn chương cổ , đó là hàng rào ngôn ngữ . Ngôn ngữ trong tác
phẩm văn chương cổ với nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng , cách dùng
điển cố , từ ngữ Hán Việt , thuật ngữ xưa , từ cổ ...Đi vào từng tác phẩm
cụ thể thì ngôn ngữ của thơ, phú văn chính luận ...lại có những điểm
riêng mà học sinh ngày nay nếu không được hướng dẫn , giải thích thì
khó mà hiểu , cảm nổi .Đặc biệt hơn ,ngày nay lớp trẻ mang
sẵn tư tưởng dựa dẫm ,ít chịu đào sâu suy nghĩ , thích cái mới , đơn
giản , hời hợt,... vì thế việc hiểu và tiếp nhận một tác phẩm văn học cổ
là một vấn đề không còn đơn giản.
Trước những vấn đề đó , là một giáo viên trẻ , tôi mạnh dạn đưa
ra những suy nghĩ , những hiểu biết của mình , những kiến thức từ thực
tiễn giảng dạy , học hỏi ....để làm cơ sở cho việc giảng dạy của bản thân
và quá trình tiếp nhận ,học tập của học sinh. Đây chính là lí do mà tôi
chọn đề tài này.
*Phương pháp nghiên cứu.
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
5
THCS Tam Đa
6
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Thực tế , học sinh đã được học các tác tác phẩm văn học cổ từ các
khối lớp 7,8. Nên ít nhiều các em cũng được trang bị cách thức ,
phương pháp tiếp nhận. Thế nhưng thực tế học sinh khối lớp 9 qua điều
tra thì phần lớn các em ít có sự phân biệt rõ rệt ranh giới của các tác
phẩm văn học . Các em cảm nhận tất cả các tác phẩm văn học như nhau.
Có em học sinh đã đưa ra tình huống rất hiện đại là “ Tại sao Vũ
Nương không ra toà cắt đứt với Trương Sinh mà phải nhảy xuống sông
tự tử cho phí đời” ?
Hoặc cũng có những trường hợp học sinh không hiểu hết những từ ngữ
như : “ một hai nghiêng nước nghiêng thành” và “ nét ngài” trong đoạn
trích Chị em Thuý Kiều , hoặc “ mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây
che kín lối thì nỗi buồn góc bể chân trời ....” trong Chuyện người con
gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, ... .Hoăc có em đọc được câu thơ “
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” đã vội hiểu ( tạc dạ) là ghi lòng tạc dạ...
Phần lớn các em có sự hiểu biết đúng đắn song cũng không ít học sinh
khiến cho người đọc phải cười ra nước mắt vì cách suy diễn thiếu cơ sở
của các em...Vì vậy, trước một tác phẩm cụ thể vĩnh hằng bất biến trước
thời gian thì sự khác nhau về tâm lí, trình độ , năng lực , sở thích, thói
quen.... của người tiếp nhận sẽ tạo ra kết quả tiếp nhận khác nhau .
Trước tình hình đó chúng ta cần làm thế nào?
3/Giải pháp của đề tài:
Trong chương trình Ngữ văn 9 , chúng ta sẽ gặp một số tác phẩm tự sự
còn phần lớn người ta lấy cuộc đời thực , con người thực trong hiện tại
để viết thành truyện . Phần lớn các truyện này đều mượn sự tích đời xưa
hay sự tích nước ngoài để nói về cuộc sống hiện tại hay gửi gắm tâm sự
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
8
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
của mình . Người con gái Nam Xương, Truyện Kiều , Lục Vân Tiên ,...
đều nằm trong trường hợp này.
Nhân vật chính trong tác phẩm có tầm quan trọng đặc biệt, câu
chuyện trong truyện là chuyện của nhân vật nên người xưa thường lấy
tên của nhân vật chính đặt tên cho tác phẩm như: Người con gái Nam
Xương , Lục Vân Tiên , Truyện Kiều ....
Truyện cổ nói chung do nhu cầu tâm lí và tâm lí của người xưa
nên thường được kết cấu hoàn chỉnh , phần kết thúc bao giờ cũng thoả
mãn được tâm lí người đọc người nghe, không bỏ lửng câu chuyện .
*Các bước cần thực hiện khi tiếp nhận tác phẩm văn học cổ.
Bước1 - Đọc tác phẩm.
Bước 2 - Nắm vững cốt truyện .
Bước 3 - Phân tích nhân vật .
Bước 4 - Phân tích ngôn ngữ .
Bước 5 – Cảm nhận chung.(Đánh giá sơ bộ về nội dung)
* Cụ thể:
Bước1 - Đọc tác phẩm.
Văn xuôi cổ được viết theo lối biền văn , âm hưởng của biền văn
“ Kiều// càng sắc sảo // mặn mà
So bề tài sắc // lại là phần hơn
Làn thu thuỷ // nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm// liễu hờn kém xanh”
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
10
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Như vậy, việc đầu tiên của quá trình tiếp nhận là phải đọc cho đúng ngữ
điệu , đúng nhịp, ngắt nghỉ đúng chỗ để cảm nhận chung.
Bước 2/ Nắm vững cốt truyện.
Cốt truyện của tác phẩm văn học cổ chưa phức tạp lắt léo như tác
phẩm văn chương hiện đại . Nhưng không vì thế mà coi thường việc
hướng dẫn học sinh tóm tắt cốt truyện và phân tích cốt truyện , các
chặng phát triển của tình tiết và đặc biệt là kết thúc có hậu của truyện
phải được kể lại với niềm hân hoan , thoả mãn...
Bước 3/ Phân tích nhân vật
*Điểm giống nhau giữa tác phẩm hiện đại và tác phẩm văn học cổ khi
phân tích ở chỗ từ các chi tiết mà làm sáng tỏ tính cách nhân vật .
* Điểm khác nhau cơ bản là ở tác phẩm văn học cổ ,phân tích nhân vật
phải đặt nhân vật vào hoàn cảnh lịch sử mà phân tích,đánh giá . Không
thể và không nên lấy tiêu chuẩn trong hiện tại , cách nhìn hiện tại ,
quan điểm xã hội đương đại mà nhận xét ,bình giá nhân vật trong tác
phẩm văn học cổ vì như vậy là thiếu công bằng, thiếu toàn diện .
như mặt trăng tròn ; nét ngài là nét lông mày , ý nói lông mày hơi đậm ,
cốt tả đôi mắt đẹp – nét ngài còn có ý kiến cho rằng
đó là nét người( đọc chệch âm ngài và người ) . Màu mây được ví với
màu tóc của ThuýVân – màu tóc còn đẹp hơn màu mây; da của nàng
còn trắng hơn tuyết.
Thuý Kiều được miêu tả với vẻ đẹp khiến cho hoa ghen , liễu
hờn, vẻ đẹp nghiêng nước ,nghiêng thành :
“Làn thu thuỷ , nét xuân sơn
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
12
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước , nghiêng thành
Sắc đành đòi một , tài đành hoạ hai”
ở đây làn thu thuỷ được hiểu là làn nước mùa thu ; nét xuân sơn là
nét núi mùa xuân . Cả câu thơ ý nói mắt đẹp , trong sáng như nước mùa
thu , lông mày đẹp , thanh thoát như nét núi mùa xuân .
Cụm từ “nghiêng nước”, “nghiêng thành” lấy ý ở một câu chữ hán
Nhất cố khuynh nhãn thành
………………….
Ở đây chỉ sắc đẹp phi thường , sắc đẹp tuyệt vời của người phụ nữ có
thể làm cho người ta mê đắm đến nỗi mất thành , mất nước .
Nguyễn Du đã khắc hoạ vẻ đẹp toàn thiện , toàn mĩ trong cốt cách và
trong phẩm cách hai chị em ngoài hình tượng phong cách tu từ ẩn dụ ,
của con trẻ mà người chồng đã vội tin và trút hết oan khiên lên đầu vợ ,
và sau này cũng chỉ một câu nói ngây thơ của con mà tất cả những oan
khiên cũng được làm sáng tỏ . Lại còn chuyện Vũ Nương ở thuỷ cung
và trở lại cõi đời trong giây lát rồi quay về thuỷ cung . Nếu lấy con mắt
hiện đại mà suy xét, đánh giá thì không thể chấp nhận được . Đến như
việc Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ( trong truyện Lục Vân Tiên) lúc
nước sôi lửa bỏng ấy màVân Tiên còn nói :
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ,ta là phận trai”
Nếu không được lí giải theo quan điểm lễ giáo phong kiến thì học sinh
THCS ngày nay sao có thể hiểu và đồng tình được .
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
14
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Tất cả những điều trên chỉ được giải quyết khi đặt nhân vật vào hoàn
cảnh lịch sử , có sự đồng cảm với nhân vật .
Bước 4/ Phân tích ngôn ngữ .
Ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự cổ với những biện pháp diễn đạt
như ước lệ , tượng trưng , điển cố,.... phải được giảng giải nhưng phải
tuỳ từng trường hợp , giảng ước lệ , tượng trưng phải hiểu đây là
những sáng tạo nghệ thuật của mĩ học phong kiến ; Nó có giá trị thẩm
mĩ nhất định . Giảng ước lệ, tượng trưng phải đặt nó vào trong văn
cảnh , gắn nó với câu văn , câu thơ hay cụm từ cùng đi với nó tạo
thành hình tượng hoàn chỉnh . Giảng điển cố phải hiểu được điển cố
Như vậy, bản chất của văn học là như nhau, cùng phản ánh hiện
thực khách quan (Xã hội, thời đại, con người trong thời đại ấy...),
cùng hướng đến ca ngợi cuộc sống, ca ngợi cái cao cả, vị tha, biểu
dương cái mẫu mực.... Đồng thời lên án , phê phán cái thấp hèn, cái xấu
xa...Tất cả nhằm phát huy , duy trì cái tốt đẹp, cái chuẩn mực, khắc
phục, cải tạo cái lệch chuẩn cho đúng chuẩn mực, đúng tư tưởng thời
đại.
Có thể nói rằng, Văn học thời kì nào đi nữa dù là văn học cổ hay
văn học hiện đại thì bản chất như nhau đều phản ánh cuộc sống con
người và vì cuộc sống con người mà phản ánh. Có khác chăng chỉ
khác ở hình thức thể hiện . Hình thức thể hiện mang dấu ấn thời đại,
đó là quan niệm nghệ thuật các phạm trù mĩ học mà mỗi thời đại khác
nhau sẽ có một hình thức thể hiện khác nhau.
Có 4 câu hỏi mà bất kì người tiếp nhận văn học ( độc giả- học sinh- giáo
viên) đều phải trả lời được thì mới nắm được nội dung văn bản cụ thể
là:
? 1- Văn bản trên viết về vấn đề nào? Con người , xã hội thời nào?
( Hiên thực được phản ánh là gì? )
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
16
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
? 2- Hiện thực đó được phản ánh bằng phương thức nghệ thuật nào?
? 3- Mục đích của việc phản ánh là gì? ( Giá trị ? )
? 4- Suy nghĩ của em về vấn đề đó?
còn hiện tượng nhầm lẫn đáng buồn, các em biết giải thích từ ngữ , biết
tìm hiểu thời đại , biết được quan điểm lễ giáo phong kiến như “ Tam
cương, ngũ thường”, “Tam tòng tứ đức,”, “ Công, dung, ngôn ,
hạnh”...hoặc “ Nam nữ thụ thụ bất thân”....
Đúc rút kinh nghiệm
Vì thế, dựa theo đặc điểm bài văn để chọn cách tiếp nhận là một điều
nên làm . Chẳng hạn : Nếu theo đặc điểm thể tài ,các tác phẩm văn
chương cổ có thơ Đường luật , có văn chính luận , có truyện ( truyện thơ
và truyện văn xuôi ) , nếu theo đặc điểm ngôn ngữ nói chung thì tác
phẩm văn thơ cổ đều có ước lệ, tượng trưng, điển tích, điển cố, từ
cổ , từ Hán Việt...
Mỗi thể tài ,mỗi đặc điểm ngôn ngữ khác nhau sẽ có cách tiếp nhận
khác nhau.
Vì vậy , khi giảng dạy tác phẩm văn thơ cổ việc cần làm đầu tiên
là phải phá vỡ hàng rào ngôn ngữ . Muốn cho học sinh hiểu và cảm
thụ thơ văn một cách có hiệu quả thì trước hết phải tạo điều kiện cho
học sinh tiếp cận tác phẩm . Đứng trước một bài thơ , bài văn mà học
sinh không hiểu nghĩa câu văn , câu thơ thì làm sao có thể hiểu được
bài văn, bài thơ . Những điển tích, những từ Hán Việt, những cách nói ,
ước lệ tượng trưng trong tác phẩm văn chương cổ đã tạo thành hàng rào
ngăn cách mà học sinh THCS ngày nay rất khó vượt qua . Nếu học sinh
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
18
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
Để dạy – học tốt phần này, giáo viên phải có một vốn hiểu biết
rộng rãi , vốn sống , vốn ngoại ngữ , vốn văn học cổ và nhất là tấm lòng
say mê, đồng cảm vói tiếng nói của cha ông .
Trong giai đoạn hiện nay, cả xã hội , cả ngành giáo dục đã và đang phát
động đổi mới phương pháp dạy hoc... phổ biến nhất là
“ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” . Đây là quan điểm mới.
Nhưng dù thế nào thì người dạy cũng phải linh hoạt, tuỳ cơ ứng biến.
Không có một phương pháp nào là phương pháp cố định bất biến... vì
trình độ nhận thức của học sinh là đa dạng cho nên, yếu tố quyết định
vẫn là thầy . Chỉ có người thầy quyết định phương pháp chứ không có
phương pháp nào quy định người thầy. Vì thế, trong phạm vi nhỏ hẹp
của đề tài này tôi mạnh dạn đưa ra suy nghĩ, ý kiến của mình trên cơ sở
thực tiễn giảng dạy , học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm của các thầy
cô giáo , các bạn đồng nghiệp ... ,để góp một tiếng nói chung vào quá
trình giảng dạy văn học trong nhà trường thực sự có chất lượng và hiệu
quả.
Vẫn biết rằng Mĩ trung bất túc, nhân vô thập toàn, ý tưởng lớn hơn
rất nhiều so với khả năng ... , cho nên đề tài này không tránh khỏi
những thiếu sót... Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện hơn.
* Những vấn đề bỏ ngỏ.
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
20
21
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
- Duy trì tốt các buổi sinh hoạt chuyên đề để chúng tôi có dịp trao đổi,
giao lưu , học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau...
Đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi,không sao chép của người
khác.
Tam Đa : 18/3/2014
Người viết: Ngyễn Thúy Hoa
Tài liệu tham khảo.
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
22
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
1/ Giảng văn Truyện Kiều -
- Đặng Thanh Lê.
2/Phương pháp giảng dạy văn học - Nguyễn Thị Thanh Hương
3/ Từ điển Tiếng Viêt-
Hiệu trưởng:
Xác nhận của hội đồng khoa học
Phòng GD và ĐT Phù Cừ:
Tổng điểm……………xếp loại :……………….
TM.Hội đồng khoa học phòng:
Nguyễn Thúy Hoa –
THCS Tam Đa
24