SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY NHẰM GIÚP HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ TIẾP NHẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC MỘT
CÁCH HIỆU QUẢ TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hà
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác:Trường THCS Minh Khai
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Ngữ văn
Thanh Hóa, tháng 4 năm 2017
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới phương pháp giảng
dạy Ngữ văn nói riêng hiện nay đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả
giờ dạy học. Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham thích môn
học. Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã chỉ rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đây là định
hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn
Ngữ văn.
Đã từ lâu, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn
THCS.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập những thông tin lí luận của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
văn trong dạy học ở Trung học phổ thông, Trung học cơ sở qua tài liệu; những
kiến thức về tâm lí dạy học, tài liệu bồi dưỡng giáo dục thường xuyên…
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Quan sát kết quả đạt được từ hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học
của học sinh thông qua các băng đĩa dạy mẫu.
- Phương pháp điều tra
Trò chuyện, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh về hiệu quả của các phương
pháp đổi mới dạy học phân môn tiếng Việt trong dạy học Ngữ văn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tham khảo những bản báo cáo, tổng kết về ứng dụng các phương pháp dạy
học trực quan, sử dụng giáo án điện tử vào dạy học.
Tham khảo kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong trường, trường bạn, các
bài viết, chuyên đề liên quan đến nội dung nghiên cứu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Nghị quyết TƯ 4 khóa VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ "đổi mới phương pháp dạy
học ở tất cả các cấp học bậc học " nghị quyết TƯ 2 khóa VII ( 12/1996) nhận
định: “phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được
tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học".
Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có chỉ rõ
phương hướng đổi mới của ngành Giáo dục - Đào tạo, đó là: "Tập trung nâng cao
chất lượng dạy và học, trang bị đủ kiến thức cần thiết đối với học sinh tạo ra
năng lực tự học, sáng tạo của học sinh". Để đạt được điều đó, một trong những
phương pháp quan trọng là phải tạo khả năng tiếp nhận tác phẩm văn học cho học
những khó khăn trong việc tìm hiểu, phân tích... nhiều khi đã khiến cho người
giáo viên ít chú trọng đến những lời giảng bình say sưa trong giờ đọc hiểu văn
bản, từ đó, làm cho giờ đọc hiểu văn bản dễ bị sa vào nhàm chán, khô khan. Vậy,
làm sao để học sinh có thể vừa được làm quen với những câu hỏi gợi mở, những
gợi ý cho một đề tài thảo luận, vừa có quyền nêu những nhận xét, những cảm
nhận cá nhân về đề tài, về nhân vật, về tác giả, vừa được cọ sát tư duy mà vẫn
kích thích được cảm xúc, kích thích được những khả năng, năng lực vốn có của
các em trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học? Đó là câu hỏi mà người giáo viên
dạy ngữ văn cần phải giải mã được.
2.2 Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Về phía giáo viên:
Hầu hết giáo viên đã ý thức sâu sắc phương pháp dạy học mới. Hàng năm
các thầy cô được tập huấn về phương pháp dạy học, thảo luận ưu - nhược điểm
của các phương pháp, được dự các chuyên đề, chủ đề để càng ngày càng đáp ứng
tốt hơn mục tiêu của việc đổi mới, thực hiện đổi mới có hiệu quả hơn. Trong
giảng dạy, người thầy đã phát huy được tính cực chủ động trong việc dạy học,
nhường việc chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức cho người học. Học sinh
được bày tỏ ý kiến tình cảm, cách hiểu của mình về bộ môn, được thực hành giao
4
tiếp nhiều hơn, được trao đổi thảo luận nhiều hơn. Với tinh thần đổi mới, giờ Ngữ
văn không phải là giờ truyền thụ kiến thức, mà là giờ khơi gợi, khuyến khích học
sinh tìm ra con đường đi tới kiến thức, giáo viên cũng đã phân biệt được phương
pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn Ngữ văn (Tiếng Việt – Văn – Tập làm văn).
Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện quan điểm tích hợp trong các
tiết dạy: Tích hợp ngang (Tích hợp của ba phân môn Văn - Tiếng Việt – Tập làm
văn) và Tích hợp dọc (Tích hợp giữa các bài, các lớp trong cùng một phân môn)
phát huy tính tích cực, tư duy và năng lực của học sinh. Bên cạnh đó là việc tích
hợp vấn đề môi trường tự nhiên và xã hội một cách phù hợp trong từng tiết dạy.
chủ thể tích cực. Học sinh làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, không khí
5
tiết học đôi khi ồn ào nhưng học sinh rất hào hứng đón nhận. Điều đó đã giảm
thái độ đối phó, miễn cưỡng bởi các em đã tìm được sự hứng thú cho mình.
Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu việc học của học sinh, chúng tôi nhận thấy,
nhiều học sinh vẫn có phần đối phó. Kiến thức về văn học của các em còn nghèo
nàn, phương pháp học tập còn lúng túng, nhiều học sinh còn hổng kiến thức,
nhiều học sinh tiếp nhận văn bản một cách thụ động. Đặc biệt, nhiều học sinh còn
coi việc học văn như một cực hình bởi các em chỉ quen với lối tư duy nhanh, gọn
trong thực tế mà không thích sự dài dòng với lối tư duy tưởng tượng, vốn là một
đặc trưng quan trọng của môn ngữ văn. Với vốn từ ngữ ít ỏi, nhiều học sinh dùng
từ ngữ trong giao tiếp vẫn còn thiếu chính xác, tùy tiện. Đặc biệt, các bài Tập làm
văn của các em thường mắc lỗi chính tả, câu văn viết chưa đúng ngữ pháp, cách
diễn đạt còn vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sách tham khảo. Nghĩa là, các em
chưa có tính sáng tạo trong việc tiếp nhận và tạo lập văn bản theo yêu cầu.
Tiến hành điều tra học sinh theo những câu hỏi nhỏ sau chúng tôi thấy rõ
thực trạng học tập Ngữ văn và tâm trạng khi các em học văn:
+ Em có thấy môn Ngữ văn cần thiết cho cuộc sống và nghề nghiệp sau
này của mình không?
+ Em có thích học Văn không?
Kết quả điều tra rất đáng suy nghĩ, đáng để mỗi giáo viên dạy Ngữ văn
trăn trở, suy ngẫm về vị trí, tầm quan trọng của môn Văn và năng lực dạy Ngữ
văn của mình.
Chất lượng, không khí học tập trong các giờ dạy đọc hiểu văn bản ở nhiều
tiết dạy học vẫn còn tẻ nhạt, thiếu hấp dẫn do các nguyên nhân sau:
- Người thầy chưa có năng khiếu truyền cảm hứng cho học sinh, chưa tìm
ra được những hướng đi mới để dẫn đắt học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn học.
Trong một số tiết dạy bình thường giáo viên lại quay về phương pháp cũ, tức là
thể trong từng tiết học.
Giáo viên phải chú ý tạo tâm thế học tập tốt cho học sinh, giúp các em
nhận thức được lợi ích của bộ môn cũng như tạo sự phát triển trí tuệ, tư duy và
tâm hồn, tình cảm cho người học. Tác dụng này phải được giáo viên nhấn mạnh
trong những tình huống phù hợp. Khi chú ý đến điều này giáo viên sẽ khắc phục
được thái độ thờ ơ, lãnh đạm, thụ động của học sinh; dần dần học sinh sẽ tích cực
chủ động hơn trong việc chuẩn bị bài, lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thức Ngữ
văn trong học tập và đời sống.
Như vậy, việc chuẩn bị tâm thế trong giờ học Ngữ văn rất quan trọng đối
với việc tạo hứng thú cho học sinh để các em có thể tiếp nhận văn bản một cách
hiệu quả. Nhưng khơi gợi hứng thú cho học sinh có thành công hay không chủ
yếu phụ thuộc vào các biện pháp giáo viên thực hiện lên lớp, trong giờ dạy cụ thể.
Muốn vậy, giáo viên phải phối hợp nhiều biện pháp để tạo nên những giờ
học sinh động lôi cuốn học sinh. Cụ thể như:
+ Quy trình dạy học hợp lí với sự chủ động bình tĩnh, một giờ dạy lôi
cuốn học sinh trước hết ở nghệ thuật dẫn dắt, hướng dẫn học sinh. Trên cơ sở nắm
vững kiến thức trọng tâm của bài học, giáo viên chú ý đến tính vừa sức, điều tiết
thích hợp để tránh nhàm chán vì sự lặp lại hoặc chán nản vì kiến thức khó. Đối
với những bài mà các em đã học giáo viên phải huy động và củng cố kiến thức cũ
làm cơ sở hình thành kiến thức mới.
+ Đối với những kiến thức hoàn toàn mới, giáo viên hướng dẫn học sinh
từ dễ đến khó, mạnh dạn tinh giản kiến thức, tránh ôm đồm quá tải làm học sinh
không hứng thú vì cảm thấy bài dài và khó.
+ Tăng cường giao tiếp trong giờ học là một biện pháp cơ bản để khơi gợi
hứng thú học tập. Thông qua giao tiếp học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức, giờ
học trở nên sinh động hơn. Để đạt điều này, giáo viên phải tạo những tình huống
có vấn đề để gợi mở suy nghĩ của học sinh, học sinh sẽ cố gắng khám phá tìm
7
viên bỏ qua công đoạn này mà ghi ngay tên bài dạy lên bảng và tiến hành học bài
mới. Tôi thiết nghĩ lời vào bài phải giới thiệu đựợc đôi nét về tác giả, tác phẩm
cũng như văn phong của nhà văn. Nếu dạy thơ thì phải giới thiệu cho các em
những bài thơ, hoặc những câu thơ tiêu biểu của tác giả đó. Đồng thời phải đặt bài
dạy trong mối liên hệ với các bài trước đó, hoặc đặt trong hoàn cảnh lịch sử ra đời
của tác phẩm đó…Nói chung là làm sao gợi được sự tò mò, thích thú ban đầu của
các em đối với tác phẩm, truyền đạt được những thông tin cần thiết về tác giả, tác
phẩm. Đôi khi không nhất thiết cứ là lời giới thiệu của giáo viên, cũng có thể tạo
nên những tình huống có vấn đề, kích thích học sinh phải giải quyết vấn đề …
Giáo viên thay lời vào bài bằng cách cho học sinh xem bức tranh vẽ, ảnh. Hoặc ra
8
nhiều câu hỏi có vấn đề, gợi sự tò mò cho học sinh trước khi học bài mới, làm
cho hứng thú học tập của học sinh sẽ tăng lên.
Người dạy phải tạo được không khí hào hứng cho cả lớp. Không khí đó
không chỉ được khơi dậy ở cuối tiết học mà phải được “làm nóng” ngay từ những
lời giảng đầu tiên. Cụ thể là cách dẫn dắt vào bài phải gây ấn tượng, lời giới thiệu
nội dung mới lạ sẽ tăng thêm sức hút từ phía học sinh. Nhiều khi GV phải biết tùy
cơ ứng biến chứ không thể đi theo một “kịch bản” có sẵn trong giáo án. “Dạy học
cũng giống như biểu diễn trên sân khấu, kịch bản tốt chưa hẳn đã đem đến thành
công cho vở diễn mà điều quan trọng hơn là cách diễn ngẫu hứng của người nghệ
sĩ và bản lĩnh vững vàng của một đạo diễn có nghề”.
Dẫn vào bài mới có nhiều cách như:
Ví dụ: Lớp 7: Tiết 93: Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng.
Giáo viên đưa ảnh Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đang ngồi bên nhau trò chuyện trong vườn hoa Phủ Chủ tịch lên máy chiếu sau đó
giới thiệu: Trong thời gian làm việc bên cạnh Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã viết nhiều bài và sách về Chủ Tịch Hồ Chí Minh bằng sự hiểu biết tường
tận và tình cảm yêu kính chân thành, thắm thiết của mình. Văn bản: “ Đức tính
Nếu trong phương pháp thuyết trình, người học chỉ có thể trao đổi với nhau được
rất ít thì trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan
điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác nó nâng cao được tính tương
tác giữa các thành viên, nhằm tác động tích cực đến người học như: Tăng cường
động cơ học tập, nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư
tưởng và cáh giải quyết vấn đề, khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau, phát triển được các mối quan hệ và quan tâm đến nhau.
Thứ hai, các thành viên trong nhóm biết được sự phụ thuộc lẫn nhau.
Làm việc theo nhóm là cách học cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải
quyết một cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được giảng viên dẫn dắt
trực tiếp mà chỉ nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ và sự phân công công việc trong
nhóm, vì vậy mỗi thành viên trong nhóm tự ý thức được phải cố gắng hết mình
không phải chỉ vì thành tích cá nhân mà còn vì thành công của cả nhóm.
Thứ ba, Giảng dạy dựa trên phương pháp làm việc theo nhóm nâng cao được tính
trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm. Do mỗi thành viên trong nhóm được
phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm cụ thể.
Các thành viên trong nhóm không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc dựa vào công
việc của người khác. Trách nhiệm của mỗi thành viên là yếu tố quyết định việc
thành công hay thất bại của nhóm. Hay nói cách khác, việc tổ chức dạy học theo
nhóm không phải là hình thức nhằm thay thế học tập cá nhân mà là để giúp cá
nhân thực hiện nhiệm vụ học tập của mình thông qua trao đổi, thảo luận với các
thành viên cùng học. Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy thì những ưu
10
điểm cơ bản trên sẽ phần nào nhấn mạnh được vai trò quan trọng của phương
pháp giảng dạy theo nhóm. Vai trò của người dạy là điều khiển hoạt động của
người học, còn người học là trung tâm của hoạt động đó. Kết quả của hoạt động
này là những yêu cầu cụ thể và nhiệm vụ của bài học.
Trên đây là những
- Nhiệm vụ 2: Văn chương còn sáng tạo ra sự sống: Đó là thế giới loài vật trong
“Dế Mèn phiêu kí” của Tô Hoài, thế giới loài chim trong bài Lao xao của Duy
Khán.
( Giáo viên cho 2 nhóm một nội dung để khích lệ nhóm nào tìm được nhiều hơn)
2.3.4. Phương pháp bình giảng:
11
Môn Ngữ văn trong nhà trường là môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa
mang tính khoa học. Nó là chìa khoá để học sinh tiến vào mọi lĩnh vực khoa học,
mọi hoạt động xã hội. Nó có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và
trí tuệ của các em. Là tiếng nói, là hình thức nhuẫn nhị của tư tưởng, văn học là:
“một thứ khí giới thanh cao và đắc lực” tác động sâu sắc, mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm cảm xúc của con người .
Nội dung phong phú của tri thức văn học với tính chất là một môn nghệ
thuật ngôn từ, đòi hỏi phải có những phương pháp đặc thù, đa dạng để học sinh
lĩnh hội tri thức một cách vững chắc đáp ứng sự phát triển về thẩm mĩ, đạo đức,
trí tuệ. Để cảm thụ sâu sắc một tác phẩm văn chương, để giờ văn mang đậm chất
văn chương thì giáo viên không chỉ nêu câu hỏi, không chỉ đàm thoại, mở vấn
đề mà còn phải hướng dẫn học sinh biết cách nhận xét, đánh giá bình phẩm tác
phẩm văn học. Có nghĩa là giáo viên phải chú ý tới phương pháp giảng bình trong
giờ văn.
Giảng bình là một phương pháp giảng dạy quen thuộc trong hệ thống
phương pháp dạy học văn chương truyền thống . Truyền thống giảng bình trong
đời sống văn hoá dân tộc ta đã trở thành một truyền thống tốt đẹp. Thời xưa các
cụ vẫn thường bình theo lối xướng hoạ, các sĩ tử tập trung lại các Văn Miếu để
bình. Dạy văn chú ý tới giảng bình là để tiếp tục phát huy truyền thống bình văn
của ông cha ta từ xưa. Mặt khác, có giảng bình thì mới làm cho học sinh có tâm
hồn trong sáng hơn, nuôi dưỡng tâm hồn nhuần nhị để học sinh có hứng thú tao
nhã đó.
Giáo viên khi bình văn thơ phải có nhiều vốn liếng về sự hiểu biết rộng các
tác phẩm thơ văn để tạo cho lời bình của mình có sức nặng hơn. Đọc nhiều biết
rộng giúp cho người bình đối chiếu được dễ dàng mà sâu sắc.
Ví dụ: Khi bình về trăng trong thơ Bác qua bài thơ “Ngắm trăng”,“Cảnh
khuya”, giáo viên so sánh trăng trong thơ Bác và trăng trong thơ Nguyễn Du,
Nguyễn Khuyến để thấy được vẻ đẹp độc đáo của vầng trăng trong thơ Người.
Cách so sánh như vậy làm giá trị bài thơ thêm nổi bật.
Phạm vi so sánh đối chiếu các bài văn, bài thơ không chỉ hạn chế trong mối
quan hệ những bài văn bài thơ, những câu văn câu thơ tương đồng có khi liên hệ
đối chiếu với thực tế cuộc sống hoặc tâm trạng cuộc đời của tác giả để làm lời
bình câu thơ thêm tăng sức thuyết phục.
Chẳng hạn, khi bình câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu “Làm ơn há dễ trông
nguời trả ơn”, ta đối chiếu ý nghĩa câu thơ với cuộc đời thực, với tư tưởng nhân
nghĩa của Đồ Chiểu thì lời bình càng có sức nặng đặc biệt làm cho người đọc tin
tưởng ở tiếng nói của nhà phê bình.
Cần nói thêm trong bình giảng chỉ khi cần thiết cũng phải chê nhưng mỗi
tác phẩm văn chương khi được chọn vào sách giáo khoa để giảng dậy thường
đáng tin cậy, có giá trị nên khi chê không nên làm tổn hại đến tình cảm của học
sinh đối với tác giả.
Người dạy văn khi bình giảng phải có thái độ trân trọng và tế nhị. Phũ
phàng hay khinh bạc trong văn chương là chẳng có lợi cho giáo dục.
Sau đây là việc vận dụng phương pháp giảng bình vào tác phẩm ‘Lão Hạc”
của Nam Cao (Ngữ văn 8- tập 1).Với thời gian hai tiết, giáo viên giúp học sinh
hiểu được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm một cách nhanh nhất. Thông qua
việc đọc, việc phân tích, bình giảng giáo viên làm cho học sinh hiểu được phẩm
chất và cuộc đời Lão Hạc. Một lão nông dân nghèo khốn khổ nhưng tần tảo làm
ăn, giàu tình cảm, giàu lòng tự trọng. Từ đó học sinh hiểu được số phận cuộc đời
của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và có thái độ thông
cảm với họ.
Lão Hạc là một câu chuyện cảm động về đời sống của những người nông
Sau khi học sinh có ý kiến giáo viên có thể giảng bình một cách khái quát như
sau:
Chỉ có 5 câu văn với những từ ngữ được chọn lọc gợi tả, tác giả đã cực tả
được cái chết dữ dội của lão Hạc. Trên đời này có muôn vàn cái chết, lão Hạc đã
chọn cái chết cho mình cái chết đau đớn, bằng cách ăn bả chó mà lão xin của
Bình Tư.
Tại sao cùng cái chết mà lão Hạc không chết một cách khác cho thanh thản?
Tại sao lại không thắt cổ như Lang Rận, không tự đâm chết mình như Chí Phèo
hoặc nhịn đói dài ngày để rồi ốm rồi chết mà lại ăn bả chó để hai mắt của lão long
lên sòng sọc? Lão tru tréo vật vã hai tiếng đồng hồ mới chết? Phải chăng lão Hạc
chết như vậy để tự trừng phạt mình một cách ghê gớm, tự trừng phạt trước người
bạn yêu quí của mình là cậu Vàng ? Có như vậy lão với nhẹ lòng chăng? Quả
đúng như vậy, lão chết như là một lời thanh minh với cậu Vàng. Lão đã sống
xứng đáng ngay cả với con chó. Nhưng lão Hạc đâu chỉ chết vì con chó mà cái
14
chết của lão còn là vì đứa con yêu dấu của mình, lão chết để trọn bổn phận làm
cha của lão đối với con. Cái chết dữ dội ấy lại là cái chết của người cha thương
con rất mực, thương con đến nỗi thà chết chứ không chịu ăn tiêu vào tài sản của
con. Lão Hạc chết là để dành phần cho con sống. Quả là một người cha tuyệt vời
Cái chết của lão Hạc được đưa ra hết sức bất ngờ, vừa ai oán, vừa giống như một
sự tất yếu. Và cái chết của lão là cái mốc giải mà những băn khoăn về nhân cách
và tình cảm của lão .“ Chết trong còn hơn sống đục”. Cái chết dữ dội, của người
nông dân lương thiện ấy có ý nghĩa tố cáo sự tàn ác của chế độ phong kiến đã đẩy
người nông dân tới bước đường cùng, muốn giữ nhân cách họ chỉ có con đường
chết. Cái chết của lão như là lời kêu cứu, khẩn thiết đồng thời cũng là lời kết án
của tác giả đối với xã hội đương thời . Hoặc giáo viên cũng có thể bình bằng việc
mượn lời bình của người khác. Chẳng hạn:
“Phải đến khi truyện lão Hạc khép lại, ta mới thấy ớn lạnh .Thì ra toàn bộ câu
giảm học sinh yếu.
Kết quả cụ thể của học sinh lớp 7I trong năm học 2015 - 2016 ở bộ môn
Ngữ văn so với đầu năm như sau :
GIỎI
Kết quả khảo sát
Sĩ
SL
TL
KHÁ
SL
TL
TB
SL
YẾU, KÉM
TL
SL
TL
số
Kết quả khảo sát 55
(%)
cuối năm
3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
* Kết luận :
18
Sau một năm học áp dung phương pháp dạy học trên cho học sinh tôi thấy kết
quả bước đầu khá khả quan.
Qua điều tra thì thấy tỷ lệ 80% học sinh đều khẳng định là thích học môn
văn.
Các giờ học trên lớp các em đều tham gia sôi nổi thú vị và nghiêm túc.
Chất lượng thể hiện qua các đợt kiểm tra số học sinh đạt giỏi, khá của môn văn
tăng, giảm học sinh yếu.
Như vậy trong quá trình giảng dạy áp dụng những kinh nghiệm trên tôi
thấy bài giảng có sức thuyết phục với học sinh và học sinh không còn tư tưởng
ngại học môn Văn nữa. Bằng kết quả thực tế tôi thấy việc áp dụng phương pháp
này trong việc bồi dưỡng học sinh là có hiệu quả.
* Đề xuất và Kiến nghị
Trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn đều không có phương pháp nào
là độc tôn mà tuỳ vào đối tượng học sinh người dạy xử lý linh hoạt các phương
pháp phù hợp. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn tổ chức, còn học sinh là chủ thể
của việc học nghĩa là hướng học sinh vào trung tâm. Người giáo viên dạy Văn
phải xem mục đích cuối cùng của việc dạy là xây dựng cho các em một tâm hồn
giàu cảm xúc, lòng nhân ái và lối sống lành mạnh. Muốn như vậy thì bản thân
chúng ta phải sống thực với tác phẩm đắm mình trong chính hoàn cảnh của tác
phẩm, phải biết khơi dậy cảm xúc từ chính hình ảnh ngôn từ.
7. “Tài liệu giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh THCS” –
Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Đinh Thị Kim Thoa; Đặng Hoàng Minh – Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. “ Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ Văn Trung học cơ sở- quyển 3 ” – Đỗ Ngọc
Thống chủ biên- Nguyễn Thị Hải Hậu – Nhà xuất bản Giáo dục.
III. DANH MỤC SKKN đã được xếp loại các cấp
Năm học Xếp loại,Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận SKKN; cơ
20
cấp quan ban hành quyết định
Loại A (QĐ số 59QĐ-SGDĐT ngày 24 /02/2006 của Giám đốc Sở
2004-2005 cấp tỉnh GD&ĐT Thanh Hóa.
Tên đề tài:“Một vài kinh nghiệm về cách tổ chức giờ dạy học
Tiếng Việt lớp 7 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.”
Loại C (QĐ số 932/QĐ-SGD ngày 11/9/2008 của giám đốc Sở
2007-2008 cấp tỉnh GD&ĐT Thanh Hóa )
Tên đề tài: “Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận về tác
phẩm văn học.”
Loại B (QĐ số 539/QĐ-SGD ngày 18/10/2011 của giám đốc Sở
2010-2011 cấp tỉnh GD&ĐT Thanh Hóa
Tên đề tài: “ Luyện kỹ năng viết bài văn thuyết minh cho học
sinh lớp 8.”
2013-2014 Loại B (QĐ số 753/QĐ-SGD, ngày 5/11/2014 của giám đốc Sở
cấp tỉnh GD&ĐT Thanh Hóa)
Tên đề tài “ Dạy học thể văn cổ (Hịch, Cáo) theo đặc trưng
thể loại nhằm giúp học sinh lớp 8 tiếp nhận văn bản một cách
tích cực, hiệu quả.”
2014-2015 Loại B QĐ Số 3220/ QĐ – HĐKHSK ngày 24/ 8/2015 của Chủ tịch