SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY NHẰM GIÚP HỌC SINH
LỚP 7 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGA VĂN TIẾP NHẬN
TÁC PHẨM VĂN HỌC MỘT CÁCH HIỆU QUẢ TRONG GIỜ
ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Người thực hiện: Mai Xuân Hải
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường THCS Nga Văn
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2018
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới phương pháp giảng dạy
Ngữ văn nói riêng hiện nay đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ
dạy học. Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham thích môn
học. Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã chỉ rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [1]. Đây là
định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ
văn bản một cách hiệu quả trong giờ đọc - hiểu văn bản.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn7THCS.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh lớp 7A trong năm học 2016
- 2017 ở bộ môn Ngữ văn như sau:
GIỎI
Kết quả khảo sát
Sĩ
số
Kết quả khảo sát 30
đầu năm
SL
TL
KHÁ
SL
(%)
01
3.3
TB
TL
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập những thông tin lí luận của việc đổi mới phương pháp dạy học
Ngữ văn trong dạy học ở Trường Trung học cơ sở qua tài liệu; những kiến thức
về tâm lí dạy học, tài liệu bồi dưỡng giáo dục thường xuyên…
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát kết quả đạt được từ hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh thông qua các băng đĩa dạy mẫu.
- Phương pháp điều tra: Trò chuyện, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh về
hiệu quả của các phương pháp đổi mới dạy học phân môn tiếng Việt trong dạy
học Ngữ văn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Tham khảo những bản báo cáo, tổng kết về ứng dụng các phương pháp
dạy học trực quan, sử dụng giáo án điện tử vào dạy học.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong trường, trường bạn,
các bài viết, chuyên đề liên quan đến nội dung nghiên cứu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết TƯ 4 khóa VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ "đổi mới phương pháp
dạy học ở tất cả các cấp học bậc học" nghị quyết TƯ 2 khóa VII (12/1996) nhận
định: “phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được
tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học"[1].
3
Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có chỉ rõ
phương hướng đổi mới của ngành Giáo dục - Đào tạo, đó là: "Tập trung nâng
cao chất lượng dạy và học, trang bị đủ kiến thức cần thiết đối với học sinh tạo
ra năng lực tự học, sáng tạo của học sinh” [1]. Để đạt được điều đó, một trong
những phương pháp quan trọng là phải tạo khả năng tiếp nhận tác phẩm văn học
Vậy làm sao để học sinh có thể vừa được làm quen với những câu hỏi gợi mở,
những gợi ý cho một đề tài thảo luận, vừa có quyền nêu những nhận xét, những
4
cảm nhận cá nhân về đề tài, về nhân vật, về tác giả, vừa được cọ xát tư duy mà
vẫn kích thích được cảm xúc, kích thích được những khả năng, năng lực vốn có
của các em trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học? Đó là câu hỏi mà người giáo
viên dạy ngữ văn cần phải giải mã được.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Về phía giáo viên
Đa số giáo viên đã ý thức sâu sắc phương pháp dạy học mới. Hàng năm các
thầy cô được tập huấn về phương pháp dạy học, thảo luận ưu - nhược điểm của
các phương pháp, được dự các chuyên đề, chủ đề để càng ngày càng đáp ứng tốt
hơn mục tiêu của việc đổi mới, thực hiện đổi mới có hiệu quả hơn. Trong giảng
dạy, người thầy đã phát huy được tính cực chủ động trong việc dạy học, nhường
việc chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức cho người học. Học sinh được bày
tỏ ý kiến tình cảm, cách hiểu của mình về bộ môn, được thực hành giao tiếp
nhiều hơn, được trao đổi thảo luận nhiều hơn. Với tinh thần đổi mới, giờ Ngữ
văn không phải là giờ truyền thụ kiến thức, mà là giờ khơi gợi, khuyến khích
học sinh tìm ra con đường đi tới kiến thức, giáo viên cũng đã phân biệt được
phương pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn Ngữ văn. Giáo viên đã có nhiều cố
gắng trong việc thực hiện quan điểm tích hợp trong các tiết dạy: Tích hợp ngang
(của ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn) và Tích hợp dọc (giữa các
bài, các lớp trong cùng một phân môn) phát huy tính tích cực, tư duy và năng
lực của học sinh. Bên cạnh đó là việc tích hợp vấn đề môi trường tự nhiên và xã
hội một cách phù hợp trong từng tiết dạy. Việc tích hợp và lồng ghép với liên hệ
thực tế để giáo dục học sinh đã đem lại cho bộ môn Ngữ văn có những tín hiệu
khởi sắc. Đó là phương pháp dạy - học mới đang được tiếp cận một cách tích
chung đã có một không khí mới, hào hứng, sôi nổi. Học sinh được giao việc, tức
là được chủ động tham gia vào các hoạt động trong giờ học với tư cách là một
chủ thể tích cực. Học sinh làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, không khí
tiết học đôi khi ồn ào nhưng học sinh rất hào hứng đón nhận. Điều đó đã giảm
thái độ đối phó, miễn cưỡng bởi các em đã tìm được sự hứng thú cho mình.
Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu việc học của học sinh, chúng tôi nhận thấy,
nhiều học sinh vẫn có phần đối phó. Kiến thức về văn học của các em còn nghèo
nàn, phương pháp học tập còn lúng túng, nhiều học sinh còn hổng kiến thức,
nhiều học sinh tiếp nhận văn bản một cách thụ động. Đặc biệt, nhiều học sinh
còn coi việc học văn như một cực hình bởi các em chỉ quen với lối tư duy
nhanh, gọn trong thực tế mà không thích sự dài dòng với lối tư duy tưởng tượng,
vốn là một đặc trưng quan trọng của môn ngữ văn. Với vốn từ ngữ ít ỏi, nhiều
học sinh dùng từ ngữ trong giao tiếp vẫn còn thiếu chính xác, tùy tiện. Đặc biệt,
các bài Tập làm văn của các em thường mắc lỗi chính tả, câu văn viết chưa đúng
ngữ pháp, cách diễn đạt còn vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sách tham khảo.
Nghĩa là, các em chưa có tính sáng tạo trong việc tiếp nhận và tạo lập văn bản
theo yêu cầu.
Tiến hành điều tra học sinh theo những câu hỏi nhỏ sau chúng tôi thấy rõ
thực trạng học tập Ngữ văn và tâm trạng khi các em học văn:
+ Em có thích học Văn không?
+ Em có thấy môn Ngữ văn cần thiết cho cuộc sống và nghề nghiệp sau
này của mình không?
6
Kết quả điều tra rất đáng suy nghĩ, đáng để mỗi giáo viên dạy Ngữ văn trăn
trở, suy ngẫm về vị trí, tầm quan trọng của môn Văn và năng lực dạy Ngữ văn
của mình.
Chất lượng, không khí học tập trong các giờ dạy đọc hiểu văn bản ở nhiều
Nắm vững bài dạy, xác định kiến thức trọng tâm. Hình thành giáo án theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Tìm hiểu thực tế lớp dạy cụ thể
trong từng tiết học.
7
Giáo viên phải chú ý tạo tâm thế [2]. học tập tốt cho học sinh, giúp các em
nhận thức được lợi ích của bộ môn cũng như tạo sự phát triển trí tuệ, tư duy và
tâm hồn, tình cảm cho người học. Tác dụng này phải được giáo viên nhấn mạnh
trong những tình huống phù hợp. Khi chú ý đến điều này giáo viên sẽ khắc phục
được thái độ thờ ơ, lãnh đạm, thụ động của học sinh; dần dần học sinh sẽ tích
cực chủ động hơn trong việc chuẩn bị bài, lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thức
Ngữ văn trong học tập và đời sống.
Như vậy, việc chuẩn bị tâm thế [2] trong giờ học Ngữ văn rất quan trọng
đối với việc tạo hứng thú cho học sinh để các em có thể tiếp nhận văn bản một
cách hiệu quả. Nhưng khơi gợi hứng thú cho học sinh có thành công hay không
chủ yếu phụ thuộc vào các biện pháp giáo viên thực hiện lên lớp, trong giờ dạy
cụ thể.
Muốn vậy, giáo viên phải phối hợp nhiều biện pháp để tạo nên những giờ
học sinh động lôi cuốn học sinh. Cụ thể như:
+ Quy trình dạy học hợp lí với sự chủ động bình tĩnh, một giờ dạy lôi cuốn
học sinh trước hết ở nghệ thuật dẫn dắt, hướng dẫn học sinh. Trên cơ sở nắm
vững kiến thức trọng tâm của bài học, giáo viên chú ư đến tính vừa sức, điều tiết
thích hợp để tránh nhàm chán vì sự lặp lại hoặc chán nản vì kiến thức khó. Đối
với những bài mà các em đã học giáo viên phải huy động và củng cố kiến thức
cũ làm cơ sở hình thành kiến thức mới.
+ Đối với những kiến thức hoàn toàn mới, giáo viên hướng dẫn học sinh từ
dễ đến khó, mạnh dạn tinh giản kiến thức[2], tránh ôm đồm quá tải làm học sinh
không hứng thú vì cảm thấy bài dài và khó.
cần đạt. Người viết xin trình bày một số phương pháp đã áp dụng khi hướng dẫn
học sinh tiếp xúc với văn bản như sau:
2.3.2.1. Phương pháp đưa lời giới thiệu vào bài
Đây là phần mà giáo viên ít đầu tư hoặc giả thiết có thì cũng chỉ qua loa mà
thôi. Trong phương pháp giảng dạy mới vấn đề này cũng không được đề cập tới.
Tôi thấy cần phải có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này. Không thể nào chấp nhận
được những cách vào bài như thế này: “Tiết trước chúng ta đã học bài…của tác
giả..., hôm chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp tác giả…với bài…”, hoặc có những giáo
viên bỏ qua công đoạn này mà ghi ngay tên bài dạy lên bảng và tiến hành học
bài mới. Tôi thiết nghĩ lời vào bài phải giới thiệu đựợc đôi nét về tác giả, tác
phẩm cũng như văn phong của nhà văn. Nếu dạy thơ thì phải giới thiệu cho các
em những bài thơ, hoặc những câu thơ tiêu biểu của tác giả đó. Đồng thời phải
đặt bài dạy trong mối liên hệ với các bài trước đó, hoặc đặt trong hoàn cảnh lịch
sử ra đời của tác phẩm đó…Nói chung là làm sao gợi được sự tò mò, thích thú
ban đầu của các em đối với tác phẩm, truyền đạt được những thông tin cần thiết
về tác giả, tác phẩm. Đôi khi không nhất thiết cứ là lời giới thiệu của giáo viên,
cũng có thể tạo nên những tình huống có vấn đề, kích thích học sinh phải giải
quyết vấn đề …Giáo viên thay lời vào bài bằng cách cho học sinh xem bức tranh
vẽ, ảnh. Hoặc ra nhiều câu hỏi có vấn đề, gợi sự tò mò cho học sinh trước khi
học bài mới, làm cho hứng thú học tập của học sinh sẽ tăng lên.
Người dạy phải tạo được không khí hào hứng cho cả lớp. Không khí đó
không chỉ được khơi dậy ở cuối tiết học mà phải được “làm nóng” ngay từ
những lời giảng đầu tiên. Cụ thể là cách dẫn dắt vào bài phải gây ấn tượng, lời
giới thiệu nội dung mới lạ sẽ tăng thêm sức hút từ phía học sinh. Nhiều khi GV
phải biết tùy cơ ứng biến chứ không thể đi theo một “kịch bản” có sẵn trong
9
giáo án. “Dạy học cũng giống như biểu diễn trên sân khấu, kịch bản tốt chưa hẳn
phát huy được những điểm mạnh của nó.
Thứ nhất, việc giảng dạy theo nhóm thỏa mãn nhu cầu học tập cá nhân, phù
hợp với việc học tập hướng tới người học, khuyến khích sự độc lập tự chủ,
người học có thể đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề nào đó.
Nếu trong phương pháp thuyết trình, người học chỉ có thể trao đổi với nhau
10
được rất ít thì trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa
ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác nó nâng cao được tính
tương tác giữa các thành viên, nhằm tác động tích cực đến người học như: Tăng
cường động cơ học tập, nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp,
chia sẻ tư tưởng và cáh giải quyết vấn đề, khích lệ mọi thành viên tham gia học
hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển được các mối quan hệ và quan tâm đến
nhau.
Thứ hai, các thành viên trong nhóm biết được sự phụ thuộc lẫn nhau.
Làm việc theo nhóm là cách học cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải
quyết một cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được giảng viên dẫn dắt
trực tiếp mà chỉ nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ và sự phân công công việc trong
nhóm, vì vậy mỗi thành viên trong nhóm tự ý thức được phải cố gắng hết mình
không phải chỉ vì thành tích cá nhân mà còn vì thành công của cả nhóm.
Thứ ba, Giảng dạy dựa trên phương pháp làm việc theo nhóm nâng cao
được tính trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm. Do mỗi thành viên trong
nhóm được phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và trách
nhiệm cụ thể. Các thành viên trong nhóm không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc
dựa vào công việc của người khác. Trách nhiệm của mỗi thành viên là yếu tố
quyết định việc thành công hay thất bại của nhóm. Hay nói cách khác, việc tổ
chức dạy học theo nhóm không phải là hình thức nhằm thay thế học tập cá nhân
mà là để giúp cá nhân thực hiện nhiệm vụ học tập của mình thông qua trao đổi,
Ví dụ: Bài thơ Sáu mươi tuổi, Tức cảnh Pác Bó…, câu chuyện Đôi dép cao
su của Bác …
Ví dụ: Lớp 7: Tiết 97: Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh.
Khi tìm hiểu nhiệm vụ của văn chương giáo viên cho học sinh thảo luận
nhóm để tìm dẫn chứng các tác phẩm đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 6
và Ngữ văn lớp 7:
- Nhiệm vụ 1: Văn chương hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng:
hình ảnh đất nước quê hương Việt Nam tươi đẹp qua bài “Cây tre Việt Nam”,
“Sông nước Cà Mau”, cuộc sống của người nông dân vất vả cần cù qua những
câu chuyện cổ tích.
- Nhiệm vụ 2: Văn chương còn sáng tạo ra sự sống: Đó là thế giới loài vật
trong “Dế Mèn phiêu kí” của Tô Hoài, thế giới loài chim trong bài Lao xao của
Duy Khán. (Giáo viên cho 2 nhóm một nội dung để khích lệ nhóm nào tìm được
nhiều hơn)
2.3.2.3. Phương pháp bình giảng
Môn Ngữ văn trong nhà trường là môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa
mang tính khoa học. Nó là chìa khoá để học sinh tiến vào mọi lĩnh vực khoa
học, mọi hoạt động xã hội. Nó có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm
hồn và trí tuệ của các em. Là tiếng nói, là hình thức nhuẫn nhị của tư tưởng, văn
học là: “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực” [3] tác động sâu sắc, mạnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm cảm xúc của con người.
Nội dung phong phú của tri thức văn học với tính chất là một môn nghệ
thuật ngôn từ, đòi hỏi phải có những phương pháp đặc thù, đa dạng để học sinh
lĩnh hội tri thức một cách vững chắc đáp ứng sự phát triển về thẩm mĩ, đạo đức,
trí tuệ. Để cảm thụ sâu sắc một tác phẩm văn chương, để giờ văn mang đậm chất
văn chương thì giáo viên không chỉ nêu câu hỏi, không chỉ đàm thoại, mở vấn
đề mà còn phải hướng dẫn học sinh biết cách nhận xét, đánh giá bình phẩm tác
12
khuya” của Bác, thấy thơ Bác - thơ của một người chiến sĩ cách mạng, sao thấy
thiên nhiên thơ Bác thơ mộng quá, yêu kiều quá. Kỷ niệm đó đối với tôi thật
sâu sắc và mỗi lần đọc bài thơ này tôi thấy xúc động bồi hồi trước tâm hồn nghệ
sĩ rất đẹp của Người.
Cách bình trên tạo cho học sinh sự hứng thú muốn tìm hiểu cái hay cái đẹp
của tác phẩm. Nhưng lời tâm sự, chuyện riêng tư phải có ý nghĩa tiêu biểu, tích
cực.
13
*Bình theo cách đối chiếu so sánh:
Giáo viên khi bình văn thơ phải có nhiều vốn liếng về sự hiểu biết rộng các
tác phẩm thơ văn để tạo cho lời bình của mình có sức nặng hơn. Đọc nhiều biết
rộng giúp cho người bình đối chiếu được dễ dàng mà sâu sắc.
Ví dụ: Khi bình về trăng trong thơ Bác qua bài thơ “Ngắm trăng”,“Cảnh
khuya”, giáo viên so sánh trăng trong thơ Bác và trăng trong thơ Nguyễn Du,
Nguyễn Khuyến để thấy được vẻ đẹp độc đáo của vầng trăng trong thơ Người.
Cách so sánh như vậy làm giá trị bài thơ thêm nổi bật.
Phạm vi so sánh đối chiếu các bài văn, bài thơ không chỉ hạn chế trong mối
quan hệ những bài văn bài thơ, những câu văn câu thơ tương đồng có khi liên hệ
đối chiếu với thực tế cuộc sống hoặc tâm trạng cuộc đời của tác giả để làm lời
bình câu thơ thêm tăng sức thuyết phục.
Chẳng hạn, khi bình câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu “Làm ơn há dễ trông
người trả ơn”, ta đối chiếu ý nghĩa câu thơ với cuộc đời thực, với tư tưởng nhân
nghĩa của Đồ Chiểu thì lời bình càng có sức nặng đặc biệt làm cho người đọc tin
tưởng ở tiếng nói của nhà phê bình.
Cũng cần nói thêm rằng trong bình giảng chỉ khi cần thiết cũng phải chê
nhưng mỗi tác phẩm văn chương khi được chọn vào sách giáo khoa để giảng
dạy có giá trị nên khi chê không nên làm tổn hại đến tình cảm của học sinh đối
với tác giả. Người dạy văn khi bình giảng phải có thái độ trân trọng và tế nhị.
dụng BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô
khan.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua điều tra thì thấy tỷ lệ 60% học sinh đều khẳng định là thích học môn
Ngữ văn.
Các giờ học trên lớp các em đều tham gia sôi nổi, thú vị và nghiêm túc.
Chất lượng thể hiện qua các đợt kiểm tra số học sinh đạt giỏi, khá của môn văn
tăng, giảm học sinh yếu.
Kết quả cụ thể của học sinh lớp 7A trong năm học 2016 - 2017 ở bộ môn
Ngữ văn cuối năm như sau:
Kết quả khảo sát
GIỎI
Sĩ
số
Kết quả khảo sát 30
SL
TL
KHÁ
SL
(%)
06
cuối năm
3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Sau một năm học áp dung phương pháp dạy học trên cho học sinh tôi thấy
kết quả bước đầu khá khả quan.
Qua điều tra thì thấy tỷ lệ 60% học sinh đều khẳng định là thích học môn
văn.
Các giờ học trên lớp các em đều tham gia sôi nổi thú vị và nghiêm túc.
Chất lượng thể hiện qua các đợt kiểm tra số học sinh đạt giỏi, khá của môn văn
tăng, giảm học sinh yếu.
15
Như vậy trong quá trình giảng dạy áp dụng những kinh nghiệm trên tôi
thấy bài giảng có sức thuyết phục với học sinh và học sinh không còn tư tưởng
ngại học môn Ngữ văn nữa. Bằng kết quả thực tế tôi thấy việc áp dụng phương
pháp này trong việc bồi dưỡng học sinh là có hiệu quả.
3.2. Kiến nghị
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn đều không có phương pháp nào là
độc tôn mà tuỳ vào đối tượng học sinh người dạy xử lý linh hoạt các phương
pháp phù hợp. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn tổ chức, còn học sinh là chủ thể
của việc học. Nghĩa là hướng học sinh vào trung tâm. Người giáo viên dạy Văn
phải xem mục đích cuối cùng của việc dạy là xây dựng cho các em một tâm hồn
giàu cảm xúc, lòng nhân ái và lối sống lành mạnh. Muốn như vậy thì bản thân
chúng ta phải sống thực với tác phẩm, đắm mình trong chính hoàn cảnh của tác
phẩm, phải biết khơi dậy cảm xúc từ chính hình ảnh ngôn từ.
Trên đây là vài kinh nghiệm của bản thân trong việc giúp học sinh yêu
thích môn Văn. Tôi thiết nghĩ với kinh nghiệm nhỏ này sẽ giúp bản thân tôi nói
xuất bản Giáo dục.
7.“Tài liệu giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh THCS” - Nguyễn
Thị Mỹ Lộc; Đinh Thị Kim Thoa; Đặng Hoàng Minh - Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội.
8.“Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ Văn Trung học cơ sở- quyển 3 ” - Đỗ Ngọc
Thống chủ biên - Nguyễn Thị Hải Hậu - Nhà xuất bản Giáo dục.
17
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Mai Xuân Hải
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THCS Nga Văn
Xếp loại, Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận SKKN; cơ
cấp
quan ban hành quyết định
Loại C (QĐ số 12QĐ-SGDĐT ngày 06 /01/2009 của Giám đốc Sở
2008-2009 cấp Tỉnh GD&ĐT Thanh Hóa.
Tên đề tài:“Một số phương pháp đổi mới về lỗi dung từ ở
Trường THCS Trung Lý”.
Loại C (QĐ số 114/QĐ-PGD ngày 25/7/2011 của Trưởng phòng
2010-2011
cấp GD&ĐT Huyện Nga Sơn)
Tên đề tài: “ Một số kỹ năng về chữa lỗi dùng từ của học
Huyện sinh Trường THCS Nga Thiện”.
Năm học
MUC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2.Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Sự chuẩn bị của giáo viên
2.3.2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.3.2.1. Phương pháp đưa lời giới thiệu vào bài
2.3.2.2. Phương pháp chia nhóm thảo luận
2.3.2.3. Phương pháp bình giảng
2.3.2.4. Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
TRANG
1
1
1
2
2