MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU...............................................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................2
2. Mục đích của đề tài............................................................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.........................................................................3
4. Bố cục đề tài......................................................................................................3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH KARAOKE VÀGIỚI THIỆU VỀ THỊ XÃ PHÚC YÊN .....4
1.1.Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh karaoke ................4
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hoá.....................................................4
1.1.2.Các văn bản quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh karaoke.......................4
1.2.Giới thiệu về thị xã Phúc Yên..........................................................................8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ
KARAOKE TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN (2014 – 2015 ).............10
2.1.Hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn thị xã Phúc Yên...........10
2.2.Công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa
bàn thị xã Phúc Yên.............................................................................................15
2.3.Một số kết quả của công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch
vụ karaoke trên địa bàn thị xã Phúc Yên.............................................................17
2.4. Những tồn tại và hạn chế..............................................................................17
2.5.Nguyên nhân..................................................................................................19
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH DỊCH VỤ KARAOKE TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN....21
KẾT LUẬN .......................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................24
1
karaoke là một trong các lĩnh vực thuộc quản lý của ngành văn hóa thông tin.
2
Thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn thị xã Phúc Yên
trong những năm gần đây đang diễn ra rất phức tạp có ảnh hưởng nhiều mặt về
kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, mà công tác quản lí hành chính Nhà
nước còn nhiều điều bất cập, cần phải được xem xét, phân tích, giải quyết và rút
ra bài học kinh nghiệm về mặt quản lý nhà nước, nhằm tạo nên trật tự, sự cân
bằng trong kinnh doanh nói chung và hạn chế những tiêu cực về mặt xã hội, góp
phần quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, đồng thời
góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa”.
3.Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Phân tích, so sánh, tổng hợp.
4. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khải thì đề tài gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận quản lí nhà nước về hoạt động kinh doanh
karaoke. Giới thiệu về thị xã phúc yên
Chương 2: Thực trạng về hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên
địa bàn thị xã phúc yên.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước trong hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn thị xã
Phúc Yên.
3
+Nghị định số 59/2002/ NĐ – CP ngày 04/6/2002 của Chính phủ về việc
bãi bỏ một số giấy phép và thay thế một số giấy phép bằng phương thức quản lý
khác .
+ Nghị định số 11/2006/NĐ – CP ngày 18/01/2006 của chính phủ về việc
ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
+ Nghị định số 56 /2006/NĐ – CP ngày 06/06/2006 của chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thông tin.
+ Nghị định số 103/2009/NĐ – CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính
phủ ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng.
+ Thông tư số 02/2001/TT – BCA ngày 04/5/2001 của Bộ Công An hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ – CP ngày 22/02/2001 của Chính phủ
quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số nghành, nghề, kinh doanh
có điều kiện.
+ Thông tư số 54/2006/TT – BVHTT ngày 24/5/2006 của Bộ văn hóa
thông tin hướng dẫn quy hoạch nhà hàng karaoke,vũ trường.
+ Thông tư số 69 /2006/TT- BVHTT ngày 28/8/2006 của Bộ văn hóa
thông tin hướng dẫn thực hiện một số quy định về kinh doanh karaoke, vũ trang,
trò chơi điện tử tại quy chế ban hành kèm theo theo Nghị định 11/ 2006/ NĐ –
CP
+ Thông tư số 12/2007/ TT – BVHTT 29/5/2007 của Bộ văn hóa thông tin
hướng dẫn thực hiện Nghị định 56/2006/ NĐ – CP về xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động văn hóa thông tin.
Căn cứ vào các văn bản pháp quy của nhà nước về điều kiện kinh doanh,
thủ tục kinh doanh, nội dung kinh doanh, những điều cấm cũng như mức độ xử
phạt các vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ karaoke có thể tóm tắt
những nội dung cơ bản sau:
*Điều 30. Điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke trong quy chế hoạt
động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ( Ban hành kèm
- Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh karaoke trong đó ghi rõ địa điểm
kinh doanh, số phòng, diện tích từng phòng;
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có giá trị pháp lý;
- ý kiến bằng văn bản của các hộ liền kề.
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân cấp có trách
nhiệm cấp giấy phép kinh doanh; trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời
bằng văn bản, nêu rõ lí do.
6
*Điều 32: Trách nhiệm của chủ cơ sở kinh doanh karaoke
Khi hoạt động kinh doanh karaoke, chủ cơ sở kinh doanh phải tuân theo
các quy định sau đây:
1. Đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 Lux tương đương 01 bóng đèn
sợi đốt 40W cho 20m2;
2. Đảm bảo âm thanh vang ra phòng karaoke không vượt quá quy định
của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép;
3. Chỉ được sử dụng bài hát đã được phép phổ biến; băng, đĩa đã dán nhãn
kiểm soát theo quy định;
4. Không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng
karaoke;
5. Đảm bảo các điều kiện về an ninh, trật tự quy đinh tại Nghị định số
72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ
6. Mỗi phòng karaoke chỉ được sử dụng một nhân viên phục vụ từ 18 tuổi
trở lên; nếu nhân viên phục vụ là người làm thuê thì phải có hợp động lao động
và được quản lý theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động;
7. Không được hoạt động sau 12h đêm đến 8h sáng, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 37 Quy chế này
Các điểm karaoke hoạt động ở vùng dân cư không tập trung không phải
10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: Xuân Hòa, Đồng
Xuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương,Phúc Thắng và các xã: Cao
Minh, Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh.
c. Lịch sử
Thị xã Phúc Yên được thành lập ngày 31 tháng 10 năm 1905, là tỉnh
lị tỉnh Phúc Yên. Trong kháng chiến chống Pháp, chuyển thành thị trấn rồi được
tái lập làm thị xã ngày 1 tháng 2 năm 1955.
Ngày 26 tháng 6 năm 1976, một lần nữa Phúc Yên chuyển thành thị trấn
thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phú. Khi huyện Yên Lãng hợp nhất với
huyện Bình Xuyên thành huyện Mê Linh, thì thị trấn Phúc Yên là huyện lị của
huyện Mê Linh. Từ năm 1978 đến năm 1991 thị trấn Phúc Yên cùng với huyện
Mê Linh chuyển về Hà Nội. Sau đó thị trấn Phúc Yên lại trở về tỉnh Vĩnh Phú,
rồi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (từ năm 1996).
8
Thị xã Phúc Yên được tái lập theo Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 9 tháng
12 năm 2003 của Chính phủ trên cơ sở tách 2 thị trấn Phúc Yên, Xuân Hòa và 5
xã: Ngọc Thanh, Cao Minh, Nam Viêm, Phúc Thắng, Tiền Châu thuộc
huyện Mê Linh và chính thức ra mắt hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 2004.
Ngày 4 tháng 4 năm 2008, chia phường Xuân Hòa thành 2 phường: Xuân
Hòa và Đồng Xuân.
Ngày 21 tháng 1 năm 2013, Bộ Xây dựng đã ra Quyết định số 93/QĐBXD về việc công nhận thị xã Phúc Yên là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Vĩnh
Phúc.
9
CHƯƠNG 2
Nhờ có sự cố gắng của ngành VH-TT thị xã cùng với sự phối kết hợp với các ban, ngành chức năng trên địa
bàn nên hoạt động của dịch vụ văn hóa trong lĩnh vực karaoke phát triển theo đúng quy định của nhà nước đáp ứng
nhu cầu về hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần tích cực vào sự ổn định chính trị, xã hội của Thị xã Phúc Yên
*Hiện nay trên địa bàn thị xã Phúc Yên có 29 hộ kinh doanh karaoke được cấp phép bao gồm nhưng hộ kinh
doanh sau đây :
STT
Hộ kinh doanh
Địa chỉ
Tên,biển hiệu
Hình thức
Số
Số GP
Ngày cấp
cấp
phòng
ĐKKD
ĐKKD
Phòng VH-
06/1/2014
Long
Karaoke
Hà
x
03
06-2014
6/1/2014
x
06
20-2014
14/1/2014
05
10-2014
8/1/2014
Phan Văn Liệu
SN2,Tổ 5, Đồng Xuân Bạch Đàn quán
Hoàng Văn Mạnh
T1,Trưng Nhị
New style 2
Phạm Thị Thu Hằng SN 38, Xuân Thủy,Cây Sung
x
x
x
02
03
03
11-2014
26-2014
23-2014
10/1/2014
14/1/2014
14/1/2014
9
10
Trưng Trắc
Cty TNHH Sơn LongK5 ,Tiền Châu
Hoa Cau
Nguyễn Thị Hảo
x
10
16/2014
12/1/2014
x
x
x
6
4
2
7/2014
3-2014
9-2014
07/1/20114
6/1/2014
7/1/2014
Châu
x
3
Nguyễn Văn Hòa
14
Nhị
Cty CPDVTM TrangKhu đô thị Đồng Sơn
15
16
17
Đạt
Dương Thị Lệ Hằng Số 4, ngõ 2, Trưng Trắc Karaoke Hằng 2
Đỗ Văn Bằng
Khu đô thị Đồng Sơn Karaoke 468
Nguyễn Ngọc Sơn SN 01,Tổ 3, HùngKaraoke Việt
18
Hà Minh Khang
Số 6, tổ 5,Đường TrưngHương Trang
Vương
SN 105, Nguyễn VănMinh
Linh, Xuân Hòa
19
Nguyễn Tiến Vượng SN7,ngõ
24,TrườngKaraoke
SN
x
2
12-2014
12/1/2014
x
5
24-2014
14/1/2014
x
x
7
5
21-2014
14-2014
karaoke
84,Trường Online café
24
Cao Thị Hương
Chinh,Đồng Xuân
Moon
Xuân Hòa I, Cao Minh Karaoke 69
25
Lê Văn Măng
Tổ 4, Nguyễn Văn Linh, Châm
26
Nguyễn Thị Hạnh
27
Chinh,XH
khai
Nguyễn Thị ThanhSN 19,T3,Hùng Vương Café Ngân Hà
x
31/2014
18/1/2014
29
SN6,ngõ5,Trường
club
Karaoke
The
Linh, XH
13
Bình
Bên cạnh đó,một số hộ kinh doanh dịch vụ vẫn chưa được cấp phép do
không đủ điều kiện kinh doanh quy định tại Điều 30 của Quy chế hoạt động
kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng
2.2. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke
trên địa bàn thị xã Phúc Yên.
- cấp duyệt và kiểm tra các giấy phép theo quy định
Nghị định 87/CP của chính phủ ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động
văn hóa, dịch vụ văn hóa phát triển, qua nhiều năm triển khai nghị định hoạt
động văn hóa từng bước ổn định, công tác cấp duyệt và kiểm tra quản lý cấp
với những hướng dẫn và quy định khá cụ thể trong thông tư
69/2006/TT-BVHTT nêu ra đã giải quyết một số ý kiến thắc mắc cũng như
những bức xúc của dân, do vậy trong thời gian tới công tác tổ chức, triển khai
quản lý, cấp đổi giấy phép hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke của các cấp
chính quyền và cơ quan chuyên môn văn hóa chắc chắn sẽ có chuyển biến
thuận lợi hơn
- Công tác thanh tra – kiểm tra
UBND thị xã phúc yên đã ban hành quyết định thành lập đoàn kiểm tra
liên ngành văn hóa xã hội bao gồm phòng văn hóa thông tin, phòng lao động
thương binh xã hội, phòng kinh tế và một số cơ quan, phòng ban có liên quan
được quy định cụ thể trong quyết định
Các đội thanh, kiểm tra chuyên ngành do công an quản lý như: Đội an
ninh văn hóa, đội cảnh sát phòng chống tệ nạn xã hội và ma túy mại dâm, đội
cảnh sát hình sự và đội quản lý thị trường cũng có chức năng kiểm tra về lĩnh
vực hoạt động văn hóa, một năm hoạt động với trăm lượt kiểm tra các cơ sở
kinh doanh dịch vụ văn hóa đã xử phạt nhiều trường hợp vi phạm hành chính,
tịch thu nhiều phương tiện, tang vật vi phạm, theo thống kê trong năm 2014 –
2015 lực lượng liên ngành văn hóa – xã hội trên địa bàn thị xã đã xử lý, thu
nộp vào ngân sách thị xã kinh phí gần 3 tỷ đồng
15
2.3. Một số kết quả của công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh
doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn thị xã Phúc Yên
Những năm qua sự nghiệp VH-TT trên địa bàn thị xã đã đạt được
nhiều thành tích quan trọng góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội
của thị xã đã đề ra. Tính đến năm 2015, riêng hoạt động kinh doanh karaoke
trên địa bàn có tới 32 cơ sở,trong đó có 29 hộ kinh doanh được cấp giấy phép
hoạt động , 3 cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép hoạt động do không
chưa dứt điểm, một số nhà hàng karaoke chưa có giấy phép vẫn hoạt động
hoặc có giấy phép vẫn vi phạm nội dung kinh doanh.
Là địa bàn có nhiều nhà máy, khu công nghiệp, trường Đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp nên việc tổ chức kinh doanh dịch vụ văn hóa
là lĩnh vực nhạy cảm, dễ để các tệ nạn xâm nhập: ma túy, mại dâm…
*Về quản lý nhà nước
- năng lực cán bộ
Với sự phức tạp và quy mô hoạt động lan rộng của dịch vụ karaoke,
thêm đó là yêu cầu về mặt tổ chức biên chế cán bộ nhà nước nên đa số cán bộ
phụ trách đều là kiêm nhiệm, kinh nghiệm thực tế còn yếu, trình độ chuyên
môn còn hạn chế ở nhiều mặt nên thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm còn
gặp nhiều khó khăn.Việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ còn
hạn chế, hoặc nếu có chỉ mang tính hình thức, phát tài liệu. chưa có chiều sâu
và phổ biến kinh nghiệm thực tiễn.
Do hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nên công tác quản lý
nhà nước chủ yếu là hướng dẫn các hộ kinh doanh về thủ tục kinh doanh mà
chưa kiểm tra và xử lý vi phạm triệt để.
- tổ chức hoạt động quản lý và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi
phạm
Đối với công tác thanh tra, kiểm tra hiện chưa có trang thiết bị kiểm
tra,đo chất lượng dịch vụ: độ ồn, ánh sáng …nên công tác này còn sơ sài, hầu
17
hết là kiểm tra các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.Mặt khác, do còn
yếu và thiếu cán bộ có năng lực, thêm đó là thiếu các phương tiện kiểm tra
nên việc thanh tra, kiểm tra hầu như chỉ mang tính chất thủ tục và nhắc nhở.
Đối với mặt thanh tra,kiểm tra của các cơ quan chức năng thì mặt xử lý
còn yếu, đa số là tịch thu và nhắc nhở, hướng dẫn các hộ kinh doanh thực hiện
Nghị định 31/CP làm tờ trình xin ý kiến để chủ tịch UBND Thị xã ra quyết
định.Đây là vấn đề văn bản nhà nước chưa phù hợp với tình hình thực tế, làm
rườm rà, kéo dài thời gian xử lý các vi phạm.
Nguyên nhân cơ bản nhất về sự buông lỏng về công tác quản lý nhà
nước trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ karaoke là sự phối hợp giữa các
nghành chức năng chưa thường xuyên liên tục, việc kiểm tra, xử lý của các cơ
quan chức năng thiếu kiên quyết,chưa triệt để và không thường xuyên .Mặt
khác, một số cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước về lĩnh vực văn hóa
thông tin chưa thông thạo chuyên môn nghiệp vụ, chưa nắm chắc các văn bản
quy định của nhà nước mà mình đang phụ trách dẫn tới sự lúng túng trong
việc xử lý các vi phạm hành chính.
Một nguyên nhân nữa cần kể đến là do nhu cầu việc làm, nhu cầu mưu
sinh của tổ chức, cá nhân, khi tham gia hoạt động kinh doanh nhưng chưa
hiểu biết hoặc cố tình vi phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực kinh
doanh dịch vụ karaoke
19
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DỊCH VỤ KARAOKE
1. Thúc đẩy sự phối hợp giữa cơ quan chức năng và người dân.
Phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động
kinh doanh dịch vụ karaoke, tiến hành kí cam kết không vi phạm các điều
cấm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, từ đó nâng cao nhận thức
về pháp luật cho họ để họ tự điều chỉnh những hành vi sai phạm để tiến tới
xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân,do dân và vì dân.
2. Tăng cường và nâng cao hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra
Phòng VH-TT là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBND thị xã về việc
triển khai báo cáo kết quả việc thực hiện chỉ thị chấn chỉnh các hoạt động
kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn thị xã Phúc Yên theo thời gian quy
định.
21
KẾT LUẬN
Qua thực tế chúng ta thấy rằng dịch vụ karaoke cũng đáp ứng được một
số nhu cầu nào đó về giải trí cho con người. Nhưng hiện nay cơ sở kinh doanh
lành mạnh thì ít , số lợi dụng cơ sở kinh doanh để làm mục đích khác thì rất
nhiều. Trước đây khi Bộ Văn hóa đưa ra đề xuất cấm kinh doanh Karaoke ,
những ý kiến phản bác cho rằng ,ai sai xử lý người đó không thể cấm tràn
lan . Nhưng vấn đề ở đây bắt được một ổ trá hình đang hoạt động thì vô cùng
khó khăn. Và thực tế ai cũng biết, từ khi các dịch vụ này ra đời thì các tiêu
cực nhiều hơn tích cực. Vậy trong 2 sự lựa chọn, nếu cấm kinh doanh karaoke
thì sẽ có lợi nhiều hơn, không nên coi đây là một nghề kinh doanh kiếm lời
nhằm ngăn ngừa sự lợi dụng biến tướng.Nếu các câu lạc bộ , cơ quan đơn vị
mở karaoke phục vụ miễm phí thì không những không cấm mà mà còn được
hoan nghênh .Trên thế giới không phải nước nào cũng có hoạt động kinh
doanh karaoke , nhiều nước chỉ có karaoke phục vụ miễn phí. Tuy nhiên dư
luận còn có ý kiến trái chiều nên trước mắt Bộ VHTT đề nghị không nên
khuyến khích kinh doanh lĩnh vực này. Với những nơi đã được cấp phép thì
phải tăng cường công tác thanh tra, quản lý , xử lý nghiêm những trường hợp
vi phạm.Một điều chúng ta thấy rằng ,để xóa bỏ các dịch vụ này là vô cùng
khó .
Hiện nay các dịch vụ này rất nhiều và mang tính chất tràn lan việc quản
lý nó cũng là một điều rất khó khăn, mức độ vi phạm của các dịch vụ này rất
nghiêm trọng. Tuy nhiên số vụ bị bắt so với vụ vi phạm lọt lưới chỉ chỉ chiếm