PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện. Hơn 80 năm hình thành và phát triển, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh đã không ngường lớn mạnh về chính trị, tư tưởng, lực lượng và
phong trào. Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định được vai trò,
nhiệm vụ hết sức quan trọng trong cách mạng Việt Nam ở mọi thời kỳ. Đoàn
thanh niên thực sự đã trở thành đội quân dự bị đáng tin cậy của Đảng, là lực
lượng xung kích trong các phong trào cách mạng của dân tộc và cũng là môi
trường để thanh niên Việt Nam rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị, xã
hội. Với vị trí và địa vị quan trọng của mình thì tổ chức Đoàn thanh niên luôn
phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức và quản lý hiệu quả
nguồn nhân lực ấy vì đặc trưng của lực lượng trong tổ chức đó là những người
trong độ tuổi còn trẻ khi công tác trong tổ chức. Chính vì điều đó dẫn đến sự bất
ổn về nhân sự trong tổ chức, mặc dù đây là một cơ quan trong hệ thống nhà
nước. Do đó, công tác quản lý nguồn nhân lực để có thể phát triển bền vững đối
với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là điều rất quan trọng. Trong thực tế hiện
nay, việc quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn thanh niên như việc: Khi
tuyển dụng nhân lực cho tổ chức Đoàn thì không cần chuyên môn cụ thể nào,
chỉ yêu cầu về cấp bậc nhưng khi hết tuổi Đoàn thì các vị trí sắp xếp cho cán bộ
Đoàn lại phụ thuộc vào chuyên môn hay cùng với đó là việc quản lý chưa được
tốt dẫn đến việc nhiều thanh niên có năng lực không có động lực để gắn bó với
tổ chức lâu dài... Chính những điều này dẫn đến một số tình trạng như thừa và
thiếu cán bộ, trình độ cán bộ, công tác lựa chọn và sử dụng cán bộ còn chưa hợp
lý, chưa phát huy được những yêu cầu và đặc trưng của người cán bộ Đoàn, việc
sử dụng cán bộ còn nặng về tình cảm, nhìn nhận cán bộ còn phiến diện,... Những
hạn chế, khiếm khuyết đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút thanh niên
Văn Uýnh
(Nguồn: />cuukhahocvethanhnien)
2
Đề tài “Thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong các doang nghiệp nhà
nước”.
Nguồn: />
Bài viết “Những vấn đề cơ bản về công tác thanh niên và quản lý nhà
nước về công tác thanh niên”.
(Nguồn: />Dựa trên những nghiên cứu trước đó làm cơ sở để tôi tham khảo, vận
dụng và bổ sung thêm những điều mới về vấn đề quản lý nguồn nhân lực trong
tổ chức Đoàn thanh niên, những điểm mới trong nghiên cứu của tôi đó là:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác
quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng ưu, nhược điểm của công tác quy hoạch đội ngũ cán
bộ Đoàn cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội hiện nay và các nguyên
nhân.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội.
3.
3.1.
Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Trong quá trình nghiên cứu tác giả tiến hành vận dụng các lý
Tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Huyện Sóc
Sơn
4.3.
Phạm vi nghiên cứu
4.3.1. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Huyện đoàn huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội.
4.3.2. Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2015 đến hết tháng 3/2015
4.3.3. Phạm vi nội dung
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tuyển chọn và quản lý nguồn nhân lực trong tổ
chức Đoàn thanh niên của Huyện đoàn Sóc Sơn hiện nay.
- Những yếu tố tác động đến việc tuyển chọn cán bộ và quản lý cán bộ,
Đoàn viên thanh niên của Huyện đoàn Sóc Sơn. Nhu cầu nguyện vọng của
Huyện đoàn trong việc sử dụng và quản lý cán bộ Đoàn hiện nay.
4
5.
Mục đích nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu
5.1.
Mục đích nghiên cứu
Nêu ra vấn đề có tính chất lý luận, khoa học về quản lý nguồn nhân
lực trong tổ chức Đoàn thanh niên Huyện Sóc Sơn. Đưa ra được một số ý kiến,
Lý thuyết vận dụng
Vận dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng của T. Passons để làm cơ sở
nghiên cứu đề tài: “Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên
huyện Sóc Sơn”. Các chủ thể của cấu trúc – chức năng nhấn mạnh tính liên kết
chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi một bộ phận đều
có một chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của một chỉnh thể đó
với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững. Từ lý thuyết hệ thống
xã hội này, vận dụng vào việc phân tích thực trạng, tình hình quản lý nguồn
nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn
với những nội dung sau:
Passons (1902 – 1979) là đại diện chính của lý thuyết chức năng. Nhưng
ông không tự coi mình là như vậy, đối với ông thuyết chức năng cấu trúc chỉ là
giai đoạn xây dựng lý thuyết dù cho ông đã đưa ra những yếu tố nhất định của
thuyết này vào những công trình cuối của mình.
Theo ông thuyết chức năng cấu trúc thỏa mãn các yêu cầu của một phạm
trù, nhưng vì tri thức khoa học xã hội về các quy luật là mơ hồ và chưa hoàn
chỉnh nên ông coi rằng các lý thuyết cũng hầu như chưa đạt tới.
Passons sử dụng khái niệm cấu trúc và khái niệm hệ thống gần như tương
đương nhau với nghĩa là hệ thống có cấu trúc và cả hai đều có chung thành phần
nhất định. Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh yếu tố tạo nên khuôn mẫu định hình
hệ thống một cách tương đối ổn định. Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập
hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là vừa được định hình
và độc lập liên tục qua lại trao đổi với hệ thống môi trường xung quanh. Passons
xem xét hệ thống trong một trục tọa độ ba chiều như sau: thứ nhất kiểu hệ thống
có cấu trúc của nó, thứ hai là chiều chức năng – hệ thống luôn nằm trong trạng
thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường, thứ ba là chiều kiểm sát –
hệ thống có hệ thống điều khiển và tự điều khiển.
6
lý thuyết xã hội của Passons không chỉ giải thích trật tự xã hội và còn giải thích
các biến đổi xã hội. Điều này càng minh chứng rằng cần xây dựng một tiếp cận
hệ thống hoàn chỉnh, trong đó cấu trúc luận, chức năng luận, hành vi luận và tiến
hóa luận chỉ là những bộ phận hợp thành một lý thuyết hệ thống tổng quát.
1.2.
1.2.1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên
Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá
nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người
bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở
đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật
chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo tổ chức lao động quốc tế thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là
toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Qua đó có
thể hiểu nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:
-
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động
cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó,
nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
-
khái niệm tổ chức.
-
Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà
nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý
thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều
mục tiêu chung (của tổ chức). Quan niệm của những người làm công tác tổ chức
nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó
nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một
cách có ý thức). Điểm mới quan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý
nói về phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ
thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ
chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức.
9
Khái niệm Đoàn thanh niên
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
1.2.3.
thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên; tổ chức,
hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội Thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh.
1.2.4. Khái niệm Thanh niên
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quán
triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí,vai trò của thanh niên, Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết về tăng
cán bộ không chuyên trách, cán bộ làm công tác Hội LHTN Việt Nam, Hội Sinh
viên Việt Nam và Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Cụ thể là những
người giữ chức danh bí thư chi đoàn, phó bí thư, bí thư đoàn cấp cơ sở trở lên;
những người làm việc trong các cơ quan chuyên trách của Đoàn và trực tiếp làm
công tác đoàn, hội, đội, phong trào thanh thiếu nhi từ cấp huyện và tương đương
trở lên; trợ lý thanh niên, cán bộ ban thanh niên trong Quân đội nhân dân; uỷ
viên ban công tác thanh niên các cấp trong Công an nhân dân.
1.2.7. Khái niệm công tác cán bộ đoàn
Công tác cán bộ Đoàn là việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ Đoàn, trong đó bao gồm các khâu: xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, tuyển dụng,
quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển, điều động, quản lý,
khen thưởng, chính sách đãi ngộ cán bộ Đoàn, kể cả ở cấp Đoàn cơ sở… nhằm
phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước trong từng thời gian nhất
định. Nói cách khác, công tác cán bộ Đoàn là những công việc mà cấp ủy, đảng
bộ, chi bộ tiến hành nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở có chất lượng tốt
đảm bảo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, các nghị quyết, quyết định của cấp ủy các cấp một cách nghiêm túc
và đem lại hiệu quả thiết thực cho cơ sở. Có thể nói, ở đâu xây dựng được đội
ngũ cán bộ Đoàn ở cơ sở vững mạnh thì ở đó sẽ phát huy được tiềm năng của
thế hệ trẻ, qua đó để củng cố thêm nguồn cán bộ cho cơ sở. Bởi lẽ, thế hệ trẻ
chính là lực lượng không thể thay thế để kế cận các thế hệ đi trước. Sự nghiệp
cách mạng Việt Nam, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa có thành công hay không chính là phụ thuộc vào thế hệ trẻ trong
tương lai. Như vậy, có thể khẳng định công tác cán bộ Đoàn nói chung và công
tác cán bộ Đoàn cơ sở nói riêng có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại đất nước.
11
CHƯƠNG 2:
12
Có được kết quả như vậy, bên cạnh yếu tố khách quan, một trong yếu tố
hết sức quan trọng đó là yếu tố cán bộ, cán bộ là gốc của mọi hoạt động. Thực
tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ huyện Sóc Sơn từ huyện đến cơ sở chủ yếu được
tạo nguồn, trưởng thành từ công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi (80%
cán bộ trưởng thành từ cán bộ Đoàn).
Nhưng thực tế cũng cho thấy việc phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng,
chính quyền và các đoàn thể nhân dân còn có những điểm bất cập, chưa thực sự
đáp ứng được điều kiện thực tiễn địa phương khi có sự thay đổi.
Quá trình phát triển của Huyện đoàn Sóc Sơn gắn liền với sự phát triển
của huyện Sóc Sơn nói riêng và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung. Trong
những năm qua, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn đã tập trung chỉ đạo
phong trào, đầu tư mạnh về cả cơ sở vật chất và con người để đáp ứng nhu cầu
công tác thanh vận hiện nay.
Trải qua 10 kỳ Đại hội, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn đã có
nhiều cố gắng trong việc xây dựng tổ chức, đổi mới nội dung, hình thức hoạt
động; từng bước đáp ứng được nhu cầu hoạt động của thanh thiếu nhi trong tình
hình mới. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên
được đẩy mạnh, các phong trào hành động cách mạng được phát huy cao độ đã
khẳng định khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ cả nước nói chung và tuổi trẻ Sóc
Sơn nói riêng trong thời kỳ mới: “Thanh niên Việt Nam xung kích, sáng tạo vì
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; vì tương lai tươi sáng của
tuổi trẻ”.
Từ những thành công của các phong trào hành động, số cơ sở Đoàn và
đoàn viên thanh niên không ngừng tăng lên. Đến tháng cuối năm 2014, Huyện
đoàn Sóc Sơn bao gồm 60 cơ sở Đoàn trực thuộc với 10.476 đoàn viên, 15.200
thanh niên, 48.000 thiếu nhi, trong đó trên 80% là thanh niên nông thôn. Đại bộ
- Cấp cơ sở Đoàn (Gồm Đoàn cơ sở và chi đoàn)
- Cấp huyện
* Cơ cấu tổ chức Huyện đoàn Sóc Sơnhiện nay
+ Ban Chấp hành: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn có 33 đồng
chí. BCH Huyện đoàn huyện Sóc Sơn có trách nhiệm và quyền hạn đó là: Quyết
định các vấn đề thuộc nguyên tắc Điều lệ Đoàn; quyết định quy chế làm việc,
quy chế thi đua khen thưởng và chương trình hoạt động của Ban Chấp hành;
quyết định chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ chương trình công tác lớn;
thông qua báo cáo định kỳ hang năm, 6 tháng về công tác Đoàn và phong trào
TTN của huyện; quyết định triệu tập Đại hội, Hội nghị đại biểu toàn huyện của
Đoàn, chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội và giới thiệu nhân sự tham gia BCH
14
khi đến nhiệm ký Đại hội; quyết định quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra
Huyện đoàn, quy chế làm việc của Hội đồng đội huyện; quyết định thành lập,
giả thể tổ chức Đoàn trực thuộc huyện; giới thiệu nhân sự đại diện cho Đoàn
TNCS Hồ chí Minh huyện ứng cử vào vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước.
+ Ban Thường vụ: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn có 11 đồng
chí có nhiệm vụ là thay mặt Ban Chấp hành lãnh đạo các cấp bộ Đoàn trong việc
thực hiện Nghị quyết của BCH giữa hai kỳ hội nghị BCH.
+01 Bí thư, 02 phó Bí thư Huyện đoàn là ủy viên Ban Thường vụ. Trong
đó, cơ cấu Bí thư Huyện đoàn là Chủ tịch Hội LHTN. 01 Phó bí thư Huyện đoàn
là Chủ tịch Hội đồng Đội, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Huyện đoàn. 01 Phó bí
thư Huyện đoàn phụ trách khối nông nghiệp, công tác học sinh, sinh viên.
* Hệ thống cơ sở Đoàn trực thuộc: 60 cơ sở, bao gồm:
- Đoàn cơ sở khối xã - thị trấn: 26 đơn vị.
- Đoàn cơ sở khối Công nhân viên chức - Lực lượng vũ trang: 19 đơn vị
- Đoàn cơ sở khối THPT - GDTX - DN: 15 đơn vị
THPT - GDTX
26
LLVT
21
- DN
13
008
15
2
59
26
20
13
2
59
26
19
15
009
010
011
012
013
(Nguồn: Số liệu thống kê của Cơ quan thường trực Huyện đoàn Sóc
Sơn)
•Thực trạng Cơ cấu tổ chức cơ quan thường trực Huyện đoàn:
- Thường trực Huyện đoàn gồm: 01 bí thư và 02 phó bí thư có trách nhiệm
và quyền hạn đó là điều hành bộ máy tham mưu, giúp việc ở cơ quan Huyện
đoàn đmả bảo yêu cầu hoạt động của BCH, BTV Huyện đoàn; xử lý công việc
hàng ngày theo sự ủy nhiệm của BTV và quy chế làm việc của cơ quan Huyện
đoàn; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung Hội nghị BTV Huyện đoàn; chỉ
đạo, điều hành, tổ chức công tác thông tin trong hệ thống phục vụ việc chỉ đạo
công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi toàn huyện; Chỉ đạo lập và điều
hành công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của cơ
quan Huyện đoàn; quyết định những vấn đề, công việc cần giải quyết ngay trong
trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của BTV Huyện đoàn khi trong BTV còn có
ý kiến khác nhau và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.
+ Bí thư Huyện đoàn: phụ trách chung.
+ Phó bí thư Thường trực Huyện đoàn: phụ trách công tác khối trường
THPT - GDTX - DN, khối CNVC- LLVT; công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn
và công tác Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
+ Phó bí thư: Phụ trách khối xã - thị trấn; khuyến nông thanh niên; công tác
văn phòng - tài chính.
Phó chủ nhiệm
2 Phó bí thư
ủy ban kiểm tra
2.2.2. Thực trạng nguồn lực cán bộ Đoàn cấp cơ sở khối xã, thị trấn.
2.2.2.1. Nhiệm vụ đôi với cán bộ Đoàn
- Đối với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, việc phân tích công việc trong
tổ chức tại cấp huyện, xã chỉ là do cảm tính chủ quan của các đồng chí trong cấp
ủy cảm nhận về việc cá nhân nào có tố chất công tác Đoàn.
- Đối với Trung ương, phân tích công việc trong tổ chức Đoàn đã được
Trung ương đoàn cụ thể hóa thông qua tiêu chuẩn cán bộ Đoàn đ theo tinh thần
Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, cụ
thể là:
+ Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tuỵ phục vụ nhân
dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
17
+ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung
thực, không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức tập hợp,
gắn bó mật thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng và nhân dân.
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại
ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trưởng thành từ
phong trào Đoàn - Hội - Đội hoặc tham gia hoạt động phong trào thanh thiếu nhi
- Sử dụng hợp lý thời gian lao động: Tức là ở một khoảng thời gian nhất
định, việc sử dụng thời gian vào các công việc phải đạt được hiệu quả, mục tiêu
công việc đặt ra.
- Sử dụng hợp lý cường độ lao động: Đó là việc phân bổ công việc một
cách hợp lý, thời gian làm việc, công việc phải hoàn thành không quá nặng hay
nhẹ để sử dụng hiệu quả chất lượng công việc cũng như thời gian lao động.
- Sử dụng hợp lý năng suất lao động: Đây là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian. Do đó sử dụng hợp
lý năng suất lao động cũng là việc sử dụng thời gian hợp lý với các yếu tố khác
tối thiểu là để đạt được mục tiêu đặt ra.
Tuy nhiên, hiện nay trong các tổ chức Đoàn thanh niên, đặc biệt là ở khối
xã, thị trấn tại huyện Sóc Sơn hiện nay vẫn còn tình trạng sử dụng cán bộ Đoàn
như bộ phận phục vụ. Các công việc còn vụn vặt, không phải chức năng của
Đoàn nhưng lãnh đạo vẫn giao nhiệm vụ…
2.2.2.4. Trình độ nghiệp vụ nguồn nhân lực
Tại huyện Sóc Sơn, tổ chức Đoàn cấp xã đều được quan tâm đến công tác đào
tạo, hàng năm đều có các lớp tập huấn dành riêng cho cán bộ Đoàn - Đội các khối tại
huyện và Thành phố. Tuy nhiên nội dung tập huấn, đào tạo còn chưa sát thực và phù
hợp với thực tiễn, chưa đổi mới. Nội dung tập huấn chưa đáp ứng được nguyện vọng
của các cá nhân.
19
•Về trình độ lý luận chính trị
Hầu hết cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn có trình độ sơ cấp và trung
cấp LLCT. Đa số cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn là đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Hiện tại, đối với khối xã, thị trấn, trình độ chuyên môn của cán bộ đoàn
được thể hiện ở bảng sau:
Uỷ
viên
BTV
4
UV BCH
.
Tổng
Đ
2
5
04
1
24
2
8
0
1
0
9
5
7
1
0
4
9
C
cấp
3
4
LLCT
S
T
6
0
5
Đ
0
1
26
679
C
0
26
549
Trình độ
Nhìn chung, cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn hằng năm đều được
tham gia các khoá tập huấn về nghiệp vụ, kỹ năng công tác thanh niên. Tuy
nhiên, còn khá nhiều cán bộ Đoàn chưa được đào tạo về quản lý nhà nước và
chương trình chuyên viên cũng như về lý luận chính trị. Trong khi đó, những nội
dung gắn với hai chương trình này gần như bắt buộc phải có đối với cán bộ Đoàn.
Ngoài ra, những kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ Ngoài ra, những kiến thức
chuyên môn và nghiệp vụ quản lý cần thiết khác, cán bộ Đoàn của huyện cũng
chưa được đào tạo. Hạn chế lớn này đã dẫn tới sự yếu kém trong công tác lãnh đạo
chốt Đoàn khối xã, thị trấn (Bí thư, Phó bí thư đoàn xã, thị trấn) thì còn chịu ảnh
hưởng, tác động của nhiều yếu tố: mối quan hệ họ hàng với cấp ủy, tư tưởng
vùng miền, cục bộ, … dẫn đến việc bỏ phiếu để xin ý kiến và bầu chỉ mang tính
hình thức và chất lượng cán bộ Đoàn tại một số địa phương, đơn vị trên địa bàn
huyện không đáp ứng được những tiêu chuẩn theo quy định.
Trên thực tế, cán bộ Đoàn cấp xã, thị trấn vẫn được bầu cử nhưng
thường nhân sự đã có sự chỉ đạo và phải thông qua lãnh đạo cấp ủy cơ sở và
lãnh đạo Đoàn cấp huyện nên không đảm bảo tính khách quan và công bằng.
22
3.2. Tình hình quản lý nguồn nhân lực
Hàng năm, cấp ủy các cơ sở và Huyện đoàn Sóc Sơn đều có đánh giá, xếp
loại các cơ sở Đoàn trực thuộc và cá nhân các đồng chí cán bộ Đoàn chủ chốt.
Tuy nhiên, việc đánh giá, xếp loại chưa được khách quan, còn mang tính hình
thức, mặc dù đây cũng là một căn cứ để xét quy hoạch. Tâm lý nói tránh còn
nhiều và đặc biệt là tâm lý “giơ cao đánh sẽ” vẫn còn nặng nề trong tư tưởng của
người dân Sóc Sơn.
Việc sử dụng, đánh giá và luân chuyển đối với Bí thư, Phó bí thư Đoàn
các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sóc Sơn còn chưa thật xác đáng và phù hợp
với năng lực, trình độ.
Nội dung, chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của
khối xã, thị trấn là do Huyện đoàn chỉ đạo, có sự điều chỉnh và áp dụng đối với
thực tế mỗi địa phương cũng như nhiệm vụ chính trị của từng xã. Việc đánh giá,
xếp loại tổ chức Đoàn xã và cá nhân Bí thư,Phó bí thư Đoàn hằng năm (để xét
thi đua) là do Huyện đoàn. Tuy nhiên, đơn vị trực tiếp quản lý Bí thư, Phó bí thư
Đoàn xã là Đảng ủy xã. Việc đánh giá, xếp loại thi đua cuối năm cũng như quy
hoạch và luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp vị trí công việc của Bí thư
Đoàn xã sau khi hết tuổi công tác đều do Đảng ủy xã quyết định, không có thông
tin cũng như ý kiến nào từ phía Huyện đoàn.
20
4
của xã
1
20
3
2
1
0
20
5
3
1
1
20
quyền vận dụng theo Điều 23 trong Quy chế cán bộ Đoàn, trong đó có quy định
cụ thể như sau:
- Cán bộ đoàn có thời gian công tác đoàn, hội, đội từ 3 năm liên tục trở lên
và hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi thi tuyển công chức được cộng điểm ưu tiên.
- Độ tuổi đi học tại chức về lý luận chính trị đối với cán bộ đoàn có thể ít
hơn 5 tuổi so với các đối tuợng khác.
- Cán bộ đoàn thực hiện việc luân chuyển công tác được hưởng chế độ trợ
cấp và nhà ở công vụ theo quy định chung; được bảo lưu phụ cấp trong thời gian
luân chuyển.
24
- Cán bộ đoàn là đảng viên nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có khả năng,
triển vọng phát triển, đã qua rèn luyện, thử thách trong thực tiễn công tác đoàn,
hội, đội, phong trào thanh thiếu nhi, được xem xét giới thiệu để bầu vào cấp uỷ
đảng. Bí thư, phó bí thư đoàn từ cấp cơ sở trở lên, đạt tiêu chuẩn cấp uỷ viên thì
được cơ cấu để bầu vào cấp uỷ đảng cùng cấp.
Đối với chức danh Bí thư Đoàn xã được tính là cán bộ chuyên trách cấp
xã và hưởng các chế độ như công chức cấp xã theo pháp lệnh cán bộ công chức.
Đối với chức danh Phó bí thư Đoàn xã thì được hưởng theo chế độ là cán
bộ không chuyên trách cấp xã.
3.4. Những điểm mạnh cơ bản
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước đã tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ rèn luyện, cống hiến và trưởng thành như: ra Luật
Thanh niên; Đảng cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25 - NQ/TW của
BCH Trung ương Đảng khoá X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước”; Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế cán bộ Đoàn trong đó chỉ rõ những
quy định trong công tác tổ chức cán bộ Đoàn. Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng luôn có