VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NHUNG
ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường THPT Lương Tài 1, tỉnh Bắc Ninh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NHUNG
ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường THPT Lương Tài 1, tỉnh Bắc Ninh)
Chuyên ngành : Xã Hội Học
Mã số: 60310301
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ NGỌC VĂN
Nguyễn Thị Nhung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................17
1.1. Các khái niệm công cụ .......................................................................................17
1.2. Chỉ báo đo lường biến phụ thuộc .......................................................................21
1.3. Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài ................................................................23
1.4. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ............................................................................27
CHƢƠNG 2 NHẬN THỨC VÀ XU HƢỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH THPT Ở NÔNG THÔN QUA KHẢO SÁT XÃ HỘI HỌC .....32
2.1. Nhận thức và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT ở nông thôn
hiện nay .....................................................................................................................32
2.2. Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT ........................................36
CHƢƠNG 3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC ĐỊNH HƢỚNG
NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT Ở NÔNG THÔN TẠI ĐỊA BÀN
KHẢO SÁT .............................................................................................................55
3.1. Đặc điểm cá nhân ...............................................................................................55
3.2. Gia đình ..............................................................................................................56
3.3. Nhà trường .........................................................................................................59
3.4. Bạn bè .................................................................................................................62
3.5. Truyền thông đại chúng ( Internet) ....................................................................65
3.6. Khó khăn học sinh THPT thường gặp trong việc định hướng nghề nghiệp ...............73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................81
Phỏng vấn sâu
Tr.:
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Mẫu nghiên cứu của học sinh THPT khối lớp học * Học lực * Giới tính ....29
Bảng 1.2. Bảng thành phần gia đình và kinh tế gia đình của học sinh THPT(%) ....30
Bảng 2.1. Thời điểm bắt đầu suy nghĩ về nghề nghiệp trong tương lai (%) .............34
Bảng 2.2. Dự định của học sinh THPT trong việc ĐHNN (%) ................................40
Bảng 2.3. Sự khác biệt về giới trong việc dự định lựa chọn nghề nghiệp trong tương
lai (%) ........................................................................................................................43
Bảng 2.4. Lý do định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT (%) ..........................45
Bảng 2.5. Khu vực làm việc mong muốn của học sinh THPT (%) ..........................47
Bảng 2.6. Tương quan về kinh tế gia đình trong việc mong muốn khu vực làm việc
của học sinh THPT (%) .............................................................................................50
Bảng 2.7. Tương quan nghề nghiệp của cha mẹ về việc định hướng vào khu vực làm
việc trong tương lai của học sinh THPT (%) ............................................................51
Bảng 2.8. Nhận thức của học sinh THPT về môi trường làm việc sau này (%) .......52
Bảng 3.1 Tương quan nghề nghiệp của cha mẹ tới việc định hướng nghề nghiệp cho
học sinh THPT (%) ...................................................................................................56
Bảng 3.2. Tác động của bạn bè đến việc ĐHNN của học sinh THPT (%) ...............64
Bảng 3.3. Thông tin mà internet cung cấp cho học sinh THPT (%) .........................67
Bảng 3.4. Tác động của INTERNET tới ĐHNN của học sinh THPT (%) ...............68
Bảng 3.5. Yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc ĐHNN của học sinh (%) ........................71
Bảng 3.6. Khó khăn của học sinh THPT trong việc định hướng nghề nghiệp (%) ......73
cống hiến và là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của mình. Còn đối với xã hội,
việc tạo ra một cơ cấu nghề nghiệp hợp lý, đáp ứng nhu cầu và chất lượng nguồn
nhân lực trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội là bài toán mà các nhà
hoạch định chính sách luôn phải tính đến.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế, nghề nghiệp trong xã hội có nhiều biến đổi. Một số ngành nghề trước
đây được xã hội coi trọng thì trong thời đại ngày nay nó dần mất đi chỗ đứng và
nhường chỗ cho những nghề và nhóm nghề mới. Vì vậy, việc lựa chọn nghề nghiệp
phù hợp với năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu của xã hội đang là vấn đề được
nhiều người quan tâm, đặc biệt là bộ phận học sinh THPT.
Nhưng trên thực tế cho thấy trong những năm gần đây nhiều sinh viên ra
trường không có việc làm hoặc phải đào tạo lại do thiếu kỹ năng nghề nghiệp. Những
cử nhân quay lại học nghề ngày càng trở nên phổ biến và đang là vấn đề nhức nhối
trong xã hội hiện nay. Theo thống kê, đến quý 2 năm 2016 cả nước có 1,1 triệu lao
động thất nghiệp mà bộ phận thanh niên từ 15- 24 tuổi chiếm 50,6% [38]. Trong đó
số lao động thất nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng gia tăng về số lao
động có trình độ đại học trở lên, quý 4 năm 2016 cả nước có 218,8 nghìn người có
trình độ đại học trở nên thất nghiệp [40]. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng
thất nghiệp của bộ phận thanh niên, sinh viên hiện nay, trong số đó phải kể đến do
thiếu định hướng nghề nghiệp hoặc lựa chọn nghề không phù hợp với năng lực, sở
thích, hoàn cảnh bản thân và không đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực mà xã hội
mong đợi. Thực tế này cho thấy việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, nhất là
học sinh nông thôn trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
1
Về vấn đề này, đã có một số tác giả đi trước đề cập đến cả trên bình diện lý
thuyết và thực tiễn. Tuy nhiên, trong một thập kỷ vừa qua do nhu cầu nguồn nhân
lực luôn vận động và biến đổi làm cho việc định hướng nghề nghiệp của học sinh,
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Định hướng nghề nghiệp nói chung và định hướng nghề nghiệp của học sinh
THPT nói riêng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước từ những góc nhìn khác nhau. Để có cái nhìn tổng thể về vấn đề được
nghiên cứu, tôi sẽ điểm qua một số kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước có
liên quan đến quá trình lựa chọn nghề nghiệp của học sinh.
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể nói những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ có từ
rất sớm. Ở Mỹ Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng
dẫn tư vấn nghề nghiệp. Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp”
(Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp,
tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả. Ông thực sự
mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học (Dẫn
theo Lê Thị Lan Phương, 2003, tr.10).
Một năm sau khi qua đời (1909) cuốn sách “Chọn lựa một nghề” của ông
được xuất bản. Cuốn sách này nói về phương pháp kết nối những đặc điểm tính
cách của một cá nhân với một nghề nghiệp. Ông đề cập đến ba nhân tố để chọn lựa
chính xác một nghề đó là :
1. Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão,
nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúc đẩy bạn
chọn nghề.
2. Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và
khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn
khác nhau của công việc.
3. Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế. Nhìn
chung, cuốn sách là công trình, nền tảng trình bày cơ sở tâm lý học của hướng
nghiệp và chọn nghề cũng như các tiêu chí về sự phù hợp nghề nghiệp của mỗi các
nhân để từ đó lựa chọn nghề cho phù hợp. Đây chính là một phát hiện mang ý nghĩa
lớn trong tác phẩm của ông (Dẫn theo Đào Lan Hương, 2009, tr.13).
Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Kim Qúy và Nguyễn Xuân Thức (2006)
trị và định hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên, nhằm chuẩn bị cho họ sẵn sàng
bước vào cuộc sống ( Dẫn theo Ngô Quỳnh Trang, 2011, tr.12).
Trong những năm trở lại đây, các nước Châu Á và Đông Nam Á đã có nhiều
cuộc hội thảo, tập huấn về vấn đề nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị, nhiều tài
liệu về giáo dục giá trị của các nước được công bố. Đáng chú ý là “Chương trình
4
giáo dục cho nữ giới Philippin” (1988) và tập tài liệu “Giá trị trong hành động” của
trung tâm canh tân và công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng giáo dục Đông
Nam Á, xuất bản 1992. Tài liệu này đã trình bày quan điểm, mục tiêu, chương trình và
cách đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng của các nước Indonesia,
Philippin, Singapo, Malaysia, Thái Lan (Dẫn theo Ngô Quỳnh Trang, 2011, tr.12).
Nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú và dự định nghề nghiệp của học sinh
của các tác giả: V.N.Supkin, V.P.Gribanov, X.N.Trixtaiakova, N.N.Dakharow,
M.V.Giuvanov, A.A.Baixburg, A.A.Barbinova đã phản ánh phần nào xu hướng nghề
nghiệp của học sinh ở các nước lúc bấy giờ. Các nghiên cứu ấy đã chỉ ra: hứng thú nghề
nghiệp có thể nảy sinh và phát triển ngay từ khi các em còn học ở trường phổ thông.
Học sinh THPT thường có dự định tiếp thu nền học vấn cao hơn, không thích đi làm
ngay. Những nghề học sinh dự định chọn rất khác nhau, tuỳ theo từng thời kỳ, đặc
điểm lứa tuổi và giới tính. Ví dụ, năm 1970, học sinh thường hứng thú với những
nghề thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất. Nhưng đến năm 1985, học sinh thành phố lại
hứng thú với những nghề thuộc lĩnh vực xã hội hơn các nghề khác. Học sinh nam
quan tâm nhiều đến lĩnh vực kỹ thuật, trong khi đó, học sinh nữ quan tâm nhiều đến
lĩnh vực y tế, giáo dục, nghệ thuật (Dẫn theo Nguyễn Thị Trường Hân, 2010, tr.9).
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp của các
nhà nghiên cứu nước ngoài mang giá trị thực tiễn cao để ứng dụng trong các trường
học và cộng đồng dân cư. Nghiên cứu đã chỉ ra được sự khác biệt trong việc định
hướng nghề nghiệp của các đối tượng học sinh là khác nhau, qua đó xây dựng được
bộ công cụ đo đạc và kiểm chứng phục vụ cho các nghiên cứu sau đi đúng hướng.
thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất
những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật
nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. Năm 2006 ông đã xuất bản cuốn sách:
“Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” cuốn
sách đã trình bày một cách có hệ thống về cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp,
vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT. Tác giả đã xác định nhu
cầu và động cơ lựa chọn nghề cần phải dựa trên 3 yếu tố cơ bản: hứng thú nghề_
nguyện vọng nghề_ năng lực nghề, đồng thời phân tích các thành phần cấu trúc nên
hệ thống hướng nghiệp cho thanh niên bao gồm 8 giai đoạn: khai sáng nghề, giáo
dục nghề, thông tin nghề, chuẩn đoán nghề, tư vấn nghề, lựa chọn nghề, tuyển chọn
nghề và thích ứng nghề [17, tr.25- 26]. Bên cạnh đó tác giả còn xác định chức năng,
nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp và cho rằng: “nhiệm vụ hướng nghiệp đối với
các em không chỉ dừng lại ở mức độ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết kỹ càng
6
hơn về nghề mà còn là quá trình xác lập những điều kiện hiện thực để đưa các em
vào hoạt động trong thế giới nghề nghiệp” [17, tr.70]. Việc xác định mục đích của
hoạt động hướng nghiệp được thực hiện ở các cấp từ Mầm non đến THCS và
THPT. Mỗi cấp học khác sẽ cung cấp cho học sinh những nhận định khác nhau về
nghề từ đó giúp cho các em có cái nhìn toàn diện hơn về nghề nghiệp trong xã hội.
Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
Trong thời gian gần đây giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam đang là chủ đề
rất được quan tâm. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp với nhiều
cách tiếp cận khác nhau điều đó đã tạo nên một giai đoạn mới với sự đa đạng trong
nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ của Trần Đình Chiến (2008) về “Xu hướng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” (khảo sát
THPT lớp 12 tại Phú Thọ) chỉ ra thực trạng về xu hướng nghề nghiệp của học sinh lớp
12 dưới sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Tác giả đã nhận thấy đa số học sinh
nghề, đa số thanh niên Việt Nam đã có một cách nhìn khá toàn diện, mặc dầu coi
trọng mặt kinh tế nhưng không xem thường các mặt đạo đức, văn hóa, nhân văn, chú
ý đến sự phát triển năng lực của bản thân trong tương lai [34, tr.34].
Xu hướng chọn nghề có vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh, thúc đẩy các
mặt hoạt động của các em học sinh. Nếu như ở cuối bậc trung học cơ sở, khi xu
hướng chọn nghề bắt đầu manh nha, thì ở cuối cấp học trung học phổ thông nó càng
rõ ràng cụ thể và ổn định. Kết quả nghên cứu của Huỳnh Văn Sơn (2003) cho thấy
90% học sinh THPT và 68% học sinh THCS sẽ tiếp tục học lên đại học cao đẳng.
Có 51,4% học sinh cho rằng, việc định hướng nghề nghiệp nên thực hiện ở giai
đoạn cuối cấp THCS [27, tr.130].
Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Hà và Hồ Ngọc Châm chỉ ra xu hướng lựa
chọn nghề nghiệp của học sinh từ năm 2000 tới 2013 có những xu hướng khác
nhau. Năm 2003 nhóm ngành được học sinh lựa chọn nhiều nhất là; phục vụ quản
lý, giáo viên, kỹ sư kỹ thuật và tài chính ngân hàng. Nhóm ngành ít được học sinh
lựa chọn: khoa học đời sống, luật sư, khoa học xã hội, bộ đội và cảnh sát. Những
năm 2005- 2006 các ngành tài chính ngân hàng, kinh tế được nhiều học sinh lựa
chọn. Đến năm 2013 học sinh lại chủ yếu chọn những ngành công an bộ đội, sư
phạm, nông lâm, y dược [11, tr. 23-24].
Về các yếu tố ảnh hưởng tới định hướng nghề nghiệp
Nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp, Trần Quốc Thành (2002) đề cập tới
các nhân tố ảnh hưởng tới sự định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh lớp 12
8
THPT ở một số tỉnh miền núi phía bắc [29, tr.15]. Kết quả nghiên cứu cho thấy: có
nhiều giá trị khác nhau chi phối xu hướng chọn nghề của học sinh như tác động của
nền kinh tế - xã hội, của điều kiện trao đổi thông tin ở từng địa bàn dân cư và có sự
khác biệt thứ bậc về định hướng giá trị nghề nghiệp. Những giá trị vật chất có xu
hướng được đề cao hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trong giai đoạn
hiện nay. Cụ thể, một số ngành kinh tế, kỹ thuật, công nghệ thông tin được các học
trình nghiên cứu này đã được thực hiện không chỉ trong nước mà còn được nghiên
cứu ở cả nước ngoài. Các công trình nghiên cứu đi trước đã cung cấp cho tác giả
thông tin hữu ích về các vấn đề liên quan tới định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Từ đó cung cấp nguồn tài liệu quý báu làm cơ sở để tác giả khai thác những khía
cạnh liên quan đến đề tài của mình. Mặt khác giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan
về tình hình nghiên cứu, xác định mục tiêu, đặt câu hỏi và nêu giả thuyết nghiên
cứu. Ngoài ra các công trình nghiên cứu đi trước giúp tác giả những cứ liệu để so
sánh, đối chiếu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu mới của đề tài.
Tuy nhiên mỗi đề tài sẽ tập chung vào một vấn đề, khía cạnh khác nhau. Có
nghiên cứu chỉ tập chung vào các yếu tố lựa chọn nghề nghiệp mà không quan tâm
tới vấn đề tư vấn hướng nghiệp của nhà trường, ngược lại có nghiên cứu lại tập
chung vào những xu hướng, mong muốn nghề nghiệp mà ít quan tâm tới yếu tố gia
đình thầy cô và bạn bè. Một số công trình nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp mới
chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng mà chưa áp dụng các biện pháp hướng
nghiệp cụ thể. Hơn nữa nghề nghiệp trong xã hội là luôn luôn biến đổi, ở mỗi giai
đoạn khác nhau sẽ có những xu hướng, mục tiêu lựa chọn nghề nghiệp của học sinh
là khác nhau. Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và và cơ cấu lao động ở từng vùng, từng địa phương và trong cả nước có sự
chuyển dịch kéo theo đó là sự thay đổi về xu hướng đối với các ngành nghề, giá trị
nghề mà học sinh hướng tới. Chính vì vậy vấn đề liên quan đến định hướng nghề
nghiệp cho học sinh THPT không bao giờ là vấn đề cũ nó luôn là vấn đề mà
không chỉ cá nhân, gia đình mà cả xã hội ngày càng quan tâm.
Bên cạnh đó có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng
lại ở một số khía cạnh về định hướng giá trị nghề nghiệp, tác động của cha mẹ tới
việc định hướng nghề cho con, xu hướng lựa chọn nghề hoặc nhấn mạnh tới các yếu
tố gia đình, bạn bè thầy cô mà chưa nhấn mạnh tới yếu tố truyền thông đại chúng
đặc biệt là tác động của mạng xã hội (internet) tới việc định hướng nghề nghiệp của
học sinh đặc biệt học sinh THPT ở nông thôn hiện nay. Do vậy, trên cơ sở tiếp thu
những thành tựu của những nghiên cứu trước đồng thời bằng lý luận và thực hiện quá
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là:“Định hướng nghề nghiệp của học
sinh THPT ở nông thôn hiện nay”, đề tài tập trung vào nghiên cứu nhận thức, xu
hướng và các nhân tố ảnh hưởng tới việc ĐHNN cho học sinh THPT ở nông thôn
11
hiện nay. Để làm rõ hơn, ĐHNN của học sinh THPT trên các phương diện nhận
thức về nghề nghiệp của các em hiện nay như thế nào, các em hướng tới chọn
những ngành nghề nào, vì sao các em chọn nghề này mà không chọn nghề kia. Các
yếu tố ảnh hưởng tới việc định hướng nghề nghiệp, internet tác động và ảnh hưởng
thế nào tới việc chọn nghề của các em học sinh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Học sinh THPT tại trường THPT Lương Tài 1 gồm học sinh lớp 10, lớp
11và lớp 12.
- Phụ huynh học sinh có con em đang là học sinh lớp 10, 11, 12 đang học tập
tại trường THPT Lương Tài 1.
- Giáo viên đang giảng dạy tại trường THPT Lương Tài 1.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường THPT Lương Tài 1.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04 đến tháng 6 năm 2017.
- Phạm vi nội dung: Đề tài hướng tới nội dung cơ bản là:
+) Nhận thức của các em học sinh về định hướng nghề nghiệp.
+) Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT hiện nay.
+) Những nhân tố ảnh hưởng đến việc định hướng nghề nghiệp.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài vận dụng quan điểm hệ thống- cấu trúc làm cơ sở, phương pháp luận
chung cho toàn bộ nghiên cứu. Quan điểm hệ thống- cấu trúc yêu cầu phải xem xét
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tiến hành điều
tra 300 phiếu nhằm thu thập các thông tin mang tính định lượng. Mẫu được chọn
dựa trên cơ sở một số tiêu chí như: cơ cấu giới tính, cơ cấu năm học và được chọn
bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
là việc chọn mẫu một các thuần túy lấy một cách ngẫu nhiên trong một tổng thể và
các đơn vị chọn mẫu có khả năng như nhau khi tham gia lựa chọn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là đi sâu vào tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của
học sinh, các thầy cô và các bậc cha mẹ ở nông thôn nhằm bổ sung, giải thích thêm
cho số liệu nghiên cứu định lượng hoặc thông tin mà định lượng không khảo sát hết.
Các câu hỏi được thực hiện trong phỏng vấn sâu thường là các câu hỏi mở để thông
tin thu thập được hiệu quả hơn.
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu khách thể nghiên cứu là các em học sinh bao
gồm 6 học sinh nam và 6 học sinh nữ THPT để tìm hiểu về việc định hướng nghề
nghiệp của các em. Ngoài ra còn phỏng vấn sâu 6 phụ huynh học sinh dưới hình
13
thức trò chuyện, xoanh quanh chủ đề định hướng nghề nghiệp cho con em mình.
Phỏng vấn sâu 3 thầy cô giáo, 1 hiệu phó trong nhà trường tập trung vào công tác
định hướng nghề nghiệp và hướng nghiệp cho học sinh. Thông tin thu được từ các
cuộc phỏng vấn sẽ dùng phân tích định tính trong bài viết để làm rõ hơn nguyên
nhân sâu xa của thực trạng, xu hướng cùng các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn
nghề nghiệp của các em học sinh trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập bằng phiếu điều tra bảng hỏi sẽ được kiểm tra, loại
bỏ phiếu kém chất lượng và tiến hành xử lý phiếu bằng phần mềm SPSS.
Phỏng vấn sâu sau khi được tiến hành giữa các em học sinh, phụ huynh học
sinh và một số giáo viên trong trường, kết quả phỏng vấn sẽ cung cấp thêm thông
tin định tính và được thực hiện để đối chiếu và kiểm tra chéo các thông tin về việc
- Khối lớp 10, 11, 12
- Nhận thức về định
đại hóa
- Đặc điểm cá nhân
hướng nghề nghiệp
- Kinh tế thị trường
- Gia đình (cha mẹ)
- Xu hướng nghề nghiệp
- Toàn cầu hóa và hội
- Nhà trường
nhập quốc tế
- Bạn bè
- Mạng xã hội
- Internet
15