TÁC ĐỘNG CỦA KHU KINH TẾ VŨNG ÁNG TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT TẠI THỊ XÃ KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH - Pdf 33

MỤC LỤC
A – Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………...
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài…………………………….
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………...
4. Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu…………………………..
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học………………………….
7. Đóng góp (tính sáng tạo) của đề tài………………………………….
8. Cấu trúc của đề tài……………………………………………………
B – Phần nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài……………………………………
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu…………………………………..
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới………………………….
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước…………………………...
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về KKT Vũng Áng………………….
1.2. Một số khái niệm về nghề nghiệp………………………………….
1.2.1. Khái niệm về nghề nghiệp………………………………………..
1.2.2. Một số vấn đề cơ bản về nghề và sự lựa chọn nghề nghiệp…….
1.2.3. Định hướng nghề nghiệp của học sinh…………………………...
1.3. Cơ sở hình thành nhu cầu định hướng nghề………………………..
1.3.1. Mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và ………………………..
1.3.2. Cơ sở khoa học của hoạt động hướng nghiệp……………………
1.3.3. Một số quan điểm của Đảng và nhà nước ……………………….
1.3.4. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT………………………...
1.4. Một số nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong chọn nghề ……………
Chương 2. Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu……….
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu …………………………………..
2.1.1. Vài nét về thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh…………………….........
2.1.2. Vài nét về khu kinh tế Vũng Áng………………………………...
2.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu…………………………………...

10
11
13
13
13
14
16
17
18
21
23
27
30
34
34
34
37
44
44
45
46
49
52
52
52
62
76
78
78
80

119

A – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ năm 2006 khi Chính phủ quyết định thành lập Khu kinh tế Vũng Áng,
theo đề án “Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến
năm 2020”. Diện mạo quê hương Hà Tĩnh nói chung và mảnh đất phía Nam Kỳ
Anh nói riêng đã có bước phát triển vượt bậc. Khu kinh tế Vũng Áng với hạt
nhân phát triển là cụm cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương. Đây là khu
vực có vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu quốc tế, nằm trên hành lang của các
tuyến hàng hải quốc tế, là cửa ngõ ra biển của Lào và Thái Lan thông qua
QL12A, cảng Vũng Áng - Sơn Dương. Đồng thời, khu vực quy hoạch khu kinh
tế Vũng Áng có QL1A, xa lộ Bắc Nam đi qua (và tương lai sẽ đấu nối với đường
sắt Quốc gia). Đây cũng là khu vực có quỹ đất lớn, sản xuất nông nghiệp ít hiệu
quả, phù hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp và đô thị. Điều kiện tự
nhiên của khu vực Vũng Áng tương đối thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái,
nghỉ dưỡng. Việc xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng sẽ góp phần quan trọng thúc
đẩy tăng trưởng của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và tạo sự liên kết phát triển giữa các
tỉnh Duyên hải Bắc Trung bộ, đưa miền Trung hội nhập với sự phát triển của cả
nước. Trong những năm qua, khu vực Vũng Áng đã được sự quan tâm chỉ đạo
của các cấp chính quyền, bước đầu đã có những bước đi nhằm phát huy các tiềm
2


năng và lợi thế của khu vực này, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
vùng ven biển Việt Nam.
KKT Vũng Áng đã có nhiều đóng góp lớn cho tỉnh Hà Tĩnh. Cụ thể năm
2010 tổng thu ngân sách tại KKT Vũng Áng mới đạt 719 tỷ đồng nhưng đến
năm 2014 đã tăng lên hơn 8.000 tỷ đồng và năm 2015 ước đạt trên 10 nghìn tỷ
đồng... Trong những năm tới, thu ngân sách tại KKT Vũng Áng vẫn tiếp tục

* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết có tính chất qua lại giữa kinh tế và
giáo dục, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp. Đề tài mong muốn tìm ra những
yếu tố chi phối, tác động tới lựa chọn của học sinh THPT. Từ đó, khái quát và
tìm hiểu xu thế chung của giới trẻ trong việc lựa chọn ngành nghề của họ. Bên
cạnh đó, đề tài còn mong muốn tìm hiểu nhận thức của học sinh về nghề nghiệp
mà mình lựa chọn và muốn có được trong tương lai, nguyên nhân dẫn tới sự
nhận thức đó. Từ đó, có thể đưa ra cho học sinh THPT những biện pháp có khả
năng hữu ích, giúp họ định hướng cho bản thân trong việc lựa chọn những việc
làm nghề nghiệp thích hợp.
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua đề tài, chúng tôi muốn làm rõ thực trạng chọn ngành nghề trong
tương lai của học sinh THPT trên địa bàn thị xã Kỳ Anh. Thông qua đó chỉ ra
những điều bất cập, những vấn đề còn tồn tại, còn chưa phù hợp trong xu hướng
lựa chọn của họ. Ngoài ra, đề tài còn làm rõ nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng
tới sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh. Cùng với đó, chúng tôi cũng cố gắng
tìm hiểu và cung cấp một số thông tin về nhu cầu việc làm hiện tại và trong
khoảng 3 - 5 năm tới. Trên cơ sở đó để đưa ra những giải pháp mang tính thực
tiễn giúp cho các nhà quản lý có thêm những cơ sở khoa học, để hoạch định
chính sách cho phù hợp hơn với thực tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4


* Mục đích nghiên cứu:
- Mô tả thực trạng tình hình định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT ở
thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
- Ảnh hưởng của khu kinh tế Vũng Áng đến định hướng nghề nghiệp.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đưa ra một số kết luận và khuyến nghị
xung quanh vấn đề định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT trên địa bàn thị

Chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: các bài
báo, các đề tài nghiên cứu, khoá luận tốt nghiệp được đánh giá cao; các công
trình nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp, các thông tin về thị trường lao
động từ các doanh nghiệp lớn trên địa bàn và những tài liệu khác có liên quan
đến vấn đề này nhằm đưa ra những thông tin cần thiết phục vụ nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Bảng hỏi được xây dựng 1 cách logic, có nguyên tắc dựa theo nội dung
của đề tài nhằm thu nhận các thông tin đáp ứng yêu cầu đề tài.
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp này được thực hiện ở 1 số cá nhân nhằm thu thập thêm
thông tin và kiểm tra tính xác thực của bảng hỏi.
- Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp điều tra viết
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp thống kê toán học
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
* Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Có cần định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong trường THPT? (Tại
sao cần tổ chức định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong trường THPT?)
6


- Tình hình lao động và làm việc tại KKT Vũng Áng hiện nay như thế
nào? Xu hướng tuyển dụng lao động thời gian tới ra sao?
- Nhận thức của học sinh THPT về vấn đề hướng nghiệp như thế nào?
- Nhận thức của học sinh THPT trên địa bàn thị xã Kỳ Anh về KKT Vũng
Áng như thế nào?
- Những giải pháp nhằm nâng cao sự định hướng nghề nghiệp cho học

Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2. Một số khái niệm về nghề nghiệp
1.3. Cơ sở hình thành nhu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT
1.4. Một số nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh THPT
Chương 2. Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu
2.3. Cách thức tổ chức nghiên cứu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1. Khảo sát tình hình lao động việc làm tại KKT Vũng Áng
3.2. Khảo sát xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT trên địa
bàn thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
3.3. Đánh giá tác động của khu kinh tế Vũng Áng đối với việc lựa chọn
nghề nghiệp của học sinh THPT
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả định hướng nghề nghiệp cho học sinh
THPT trên địa bàn thị xã Kỳ Anh theo hướng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực
cho KKT Vũng Áng
.

8


B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Có thể nói những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có

Đối với vấn đề định hướng nghề nghiệp cho học sinh vốn đã được quan tâm
từ rất lâu. Điều đó được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ
các bộ ban ngành từ Trung ương đến địa phương. Nhất là trong giai đoạn hiện
nay, khi mà vấn đề “Dạy nghề” ngày càng được quan tâm, chú trọng hơn nhiều.
Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên
gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào
những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm
Tất Dong, PGS. Đặng Danh Ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ.
GS. Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho giáo dục
hướng nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực
tiễn cho giáo dục hướng nghiệp như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của
hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan
điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục
hướng nghiệp... Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách,
giáo trình của ông như bài: “hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí
Thanh Niên số 8 năm 1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề
nghiệp cho HS lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn
nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai”. Trong một
công trình nghiên cứu gần đây ông đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp
phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu
10


kinh tế”. Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp
CNH - HĐH, trong quá trình CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng
giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Xu hướng chọn
nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu
của công nghiệp.[5]
Ngoài ra còn có rất nhiều các đề tài luận văn tiến sỹ, thạc sỹ như: Phan
Thị Tố Oanh, Nghiên cứu nhận thức và dự định chọn nghề của học sinh THPT,

dục hướng nghiệp tại Việt Nam”, tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội
phối hợp với Viện nghiên cứu Nghiên cứu quốc gia về Lao động hướng nghiệp Cộng hòa Pháp ngày 11/01/2005, nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và
ngoài nước đã trình bày sâu sắc các nội dung, hướng đi cần thiết để thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về KKT Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh
Đối với KKT Vũng Áng, đây là một trung tâm mới về kinh tế ở khu vực
miền Trung Việt Nam. Nơi đây đã và đang là tâm điểm thu hút nguồn nhân lực
lao động lớn của cả nước, nộp ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng. Về KKT
Vũng Áng cũng đã có một số công trình nghiên cứu như:
Luận văn thạc sỹ của Lê Xuân Từ, Phát triển nguồn nhân lực cho KKT
Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh, Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2014; Khóa luận tốt
nghiệp, Trần Thúy Hằng, Tác động của KKT Vũng Áng đến sự phát triển KT –
XH trong quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH của tỉnh Hà Tĩnh trong giai
đoạn đến năm 2020, Học viện hành chính, năm 2014.
Cùng với đó là các bài báo phân tích về đặc điểm nổi bật của KKT Vũng
Áng như: Khu kinh tế động lực mang tên Vũng Áng (Thành Châu); Phát triển
KKT Vũng Áng vươn tầm quốc tế (Ngô Tuấn)…
Nhìn chung, về KKT Vũng Áng chưa có nhiều công trình, bài viết đáng kể,
đây là một vấn đề lớn, đòi hỏi các nhà khoa học tập trung nghiên cứu để giúp các
nhà quản lí hoạch định chính sách phù hợp với sự phát triển KT – XH của vùng.
1.2. Một số khái niệm về nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp
1.2.1. Khái niệm về nghề nghiệp
12


* Khái niệm về nghề nghiệp : Nghề nghiệp là một thuật ngữ để chỉ một
hình thức lao động trong xã hội, theo sự phân công lao động mà con người sử
dụng sức lao động của mình để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã
hội. Con người thông qua hành nghề để duy trì và phát triển cuộc sống cá nhân,
đồng thời góp phần xây dựng xã hội, đất nước. Và nghề nghiệp là sự tổ hợp

công mà còn gồm những phương tiện làm tăng năng lực nhận thức của con
người về các đặc điểm của đối tượng lao động, làm tăng sự tác động của con
người đến đối tượng đó. Như vậy, các công cụ đo lường, máy móc, cũng như
những quy tắc thực hành, lý luận cũng được xem là công cụ lao động.
- Điều kiện lao động: là những đặc điểm của môi trường tự nhiên và môi
trường XH mà trong đó công việc NN của con người được diễn ra.
- Sản phẩm lao động: là tất cả các giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà
quá trình lao động sản sinh ra.
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề:
- Sự phù hợp nghề
Việc chọn nghề là một việc không dễ dàng vì hoạt động này quyết định
tương lai và cuộc sống sau này. Với sự phát triển của khoa học, công nghệ thì
nghề nghiệp là một thế giới bao la, nhiều ngành nghề khác nhau vì thế việc lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp cho một người là điều không dễ dàng.
Khi chọn nghề, cần thiết phải biết nghề có yêu cầu như thế nào đối với
người lao động, người chọn nghề phải tự đánh giá những phẩm chất, tâm sinh lý
của bản thân có đáp ứng yêu cầu của nghề không. Để chọn được nghề đúng với
khả năng mình, cần phải xem có sự ăn khớp giữa “con người – nghề nghiệp”,
trong hướng nghiệp gọi là sự phù hợp nghề. Vì vậy, phù hợp nghề chính là sự
phù hợp tương hợp tương hỗ giữa con người cụ thể với công việc, với hoạt động
nghề nghiệp của người đó.
14


- Hứng thú nghề nghiệp
Hứng thú là định hướng nhận thức chủ động của con người đối với sự vật,
hiện tượng khách quan, thường gắn liền với thái độ ưu ái muốn nhận thức được
nó hoặc muốn thực hiện một hành động nào đó
Hứng thú với nghề này hay nghề khác được đặc trưng bởi sự hiểu biết bản
chất dấu hiệu của nghề, có hiểu biết về nghề thì mới yêu nghề và gắn bó lâu dài

Trong nhà trường, chủ thể trực tiếp định hướng tới nghề nghiệp là học
sinh, song với tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm, vốn sống và trình độ nhận thức xã
hội còn nhiều hạn hẹp, nên cần có sự trợ giúp của các lực lượng giáo dục. Hoạt
động định hướng nghề nghiệp của học sinh trở thành đối tượng lao động giáo
dục của thầy, cô giáo, của các tổ chức chính trị, xã hội trong trường nhằm giúp
cho quá trình định hướng nghề của học sinh diễn ra thuận lợi, đạt tới sự tương
hợp cần thiết giữa nguyện vọng cá nhân với yêu cầu của nghề trong những điều
kiện KT -XH cụ thể. Các lực lượng sư phạm trong trường trở thành chủ thể của
một hoạt động đặc thù - hoạt động hướng nghiệp - một trong những nhiệm vụ
giáo dục toàn diện đối với học sinh. Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, nhà
trường cần hiểu rõ đặc điểm định hướng nghề của HS với những yếu tố tạo thành
như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và quyết định nghề. Ngoài ra
những thay đổi về tình hình kinh tế - xã hội cũng tác động rất lớn đến việc định
hướng nghề nghiệp cho học sinh. Chính vì vậy giáo dục hướng nghiệp cần phải
có sự đón đầu để kịp thời tư vấn, định hướng tốt hơn.
1.3. Cơ sở hình thành nhu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT
1.3.1. Mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và phát triển nguồn nhân lực
Giáo dục là một trong những quá trình chủ yếu hình thành và phát triển
những phẩm chất, đạo đức, kiến thức, kỹ năng, khả năng hành động của con
người thông qua các dạng học tập của cá nhân trong mối quan hệ tương tác, hài
16


hoà với môi trường kinh tế - xã hội, tạo nguồn phát triển nhân lực, từ đó tạo nên
sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội. Xã hội ngày phát triển về kinh tế,
văn hoá khoa học, công nghệ thì càng có điều kiện để tổ chức nền giáo dục tiến
bộ toàn diện và đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy sự phát triển của bản thân
giáo dục. Mặt khác, giáo dục phát triển là một trong những điều kiện tiên quyết
cho tiến bộ kỹ thuật - khoa học. Ngày nay, hầu như đứng trên trường phái nào,
người ta cũng có cùng một quan niệm chung, cho rằng một chính sách phát triển

(Thực chất đó là kiến thức trình độ lành nghề, năng lực của toàn bộ cuộc sống
con người hiện có và tiềm năng trong một cộng đồng nhất định). Những dấu hiệu
đặc trưng của nguồn nhân lực theo quan niệm này là:
+ Về số lượng, đó là số người có sức khoẻ sẽ bổ sung vào lực lượng lao động.
+ Về chất lượng, đó là trình độ văn hoá, kỹ năng lao động được chuẩn bị,
mức độ được chuẩn bị về phẩm chất đặc điểm, nghề nghiệp, tâm thế sẵn sàng
tham gia lao động vì lợi ích cá nhân, gia đình và xã hội; mức độ được chuẩn bị
về năng lực tổ chức quản lý, tư duy kinh tế, tư duy kinh tế có thể hợp tác lao
động hiệu quả, thích ứng kịp thời với sự thay đổi yêu cầu lao động xã hội.
- Do những đặc trưng trên của nguồn nhân lực, có thể thấy rằng phát triển
nguồn nhân lực là nâng cao năng lực của con người để họ tham gia một cách có
hiệu quả vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Đó chính là quá trình tạo lập và sử
dụng năng lực của con người vì sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo cách hiểu
như vậy thì các tiêu chí đánh giá sự phát triển nguồn nhân lực là: Mức tăng năng
suất lao động, mức độ tham gia lao động của nguồn nhân lực (tỷ lệ thất nghiệp);
kết cấu lao động, kết cấu ngành nghề trong xã hội, mức thu nhập, khả năng thích
ứng với thị trường lao động hiện đại (Human Resource).
- Các yếu tố tác động đến đầu tư phát triển nguồn nhân lực là:
18


+ Trình độ phát triển kinh tế (quy mô tăng trưởng; cơ cấu kinh tế; phát
triển nguồn nhân lực; khả năng tiết kiệm và đầu tư; tình trạng kỹ thuật lao động;
hệ thống kết cấu hạ tầng; thu nhập và đời sống dân cư...). Các yếu tố kinh tế vĩ
mô, thị trường, chính sách ... và đặc biệt là sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
+ Trình độ phát triển giáo dục và đào tạo (quy mô giáo dục và đào tạo, tỷ
lệ trẻ trong độ tuổi đến trường, hệ thống cơ sở vật chất, hiệu quả trong và ngoài
của giáo dục và đào tạo). Điều này phụ thuộc vào quan niệm về lợi ích của đầu
tư phát triển nguồn nhân lực (sự khác nhau trong đánh giá dựa trên sự khác biệt
về lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa người ra quyết đầu tư và người được

tin, con người cơ chế có thể thực hiện mục tiêu.
- Kế hoạch hoá phát triển giáo dục được định hướng thông qua chính sách,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trên cơ sở thị trường lao động
và đòi hỏi của nhân dân về phát triển giáo dục - đào tạo.
1.3.2. Cơ sở khoa học của hoạt động hướng nghiệp
* Cơ sở tâm lý học
Mục đích của hướng nghiệp là tạo được sự phù hợp nghề của từng con
người cụ thể trong tương lai. Trên góc độ tâm lý là tìm hiểu mối tương quan giữa
đặc điểm nhân cách với các yêu cầu của nghề nào đó để tìm sự phù hợp giữa tính
cách và nghề nghiệp. Sự phù hợp nghề của một người nào đó bao giờ cũng thể
hiện ở hai phương diện đó là năng lực và phẩm chất lao động. Năng lực và phẩm
chất lao động luôn thống nhất và chuyển hóa cho nhau, vì thế nếu thiếu một
trong hai thành phần thì không thể cho là phù hợp nghề. Về mặt hướng nghiệp,
các nhà tâm lý cho rằng nhân cách bao gồm 4 cấu trúc sau :
- Xu hướng nghề nghiệp: gồm hứng thú nghề nghiệp, lý tưởng nghề
nghiệp, khuynh hướng nghề nghiệp … Xu hướng nghề nghiệp đóng vai trò là
động cơ chọn nghề, vì thế trong hướng nghiệp cần phải coi trọng giáo dục xu
hướng nghề nghiệp cho học sinh.
20


- Kinh nghiệm nghề nghiệp: xét về mặt lao động nghề nghiệp thì kinh
nghiệm nghề nghiệp là những tri thức về quá trình công nghệ, tổ chức lao động
khoa học, quản lý công nghệ, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thói quen
lao động.
- Đặc điểm của quá trình phản ảnh tâm lý: đây là những đặc điểm của quá trình
cảm giác, tri giác, tư duy trừu tượng, trí nhớ… giúp việc thực hành nghề thuận lợi.
- Đặc điểm về khí chất, giới tính, lứa tuổi, bệnh lý : là những đặc tính chịu
ức chế sinh vật của con người. Do đó, khi tư vấn chọn nghề cần lưu ý đến tính
khí giới tính, tuổi tác, sức khỏe của từng đối tượng.

* Những yêu cầu cơ bản đối với công tác hướng nghiệp.
- Giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương
hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng
nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao
động sản xuất.
- Trên cơ sở của sự hiểu biết nghề nghiệp và nền kinh tế quốc dân, của địa
phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh, biết đối chiếu với sự phát
triển, năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khoẻ của bản thân để điều
chỉnh động cơ lựa chọn nghề.
- Tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ
xã hội và ý thức cầu tiến bộ của học sinh để các em tích cực tham gia vào các
hình thức lao động kỹ thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ
lao động, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó kết luận về sự
phù hợp nghề nghiệp của bản thân.
- Phải làm cho mỗi học sinh có được tính chủ động trong lựu chọn nghề,
có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình.
22


Như vậy, yêu cầu của công tác hướng nghiệp chính là kích thích phát triển
hứng thú lao động nghề nghiệp của học sinh, uốn nắn sự phát triển hứng thú đó
cho phù hợp với sự phát triển sản xuất của địa phương và đất nước. Công tác
hướng nghiệp còn cần thiết phải hình thành những năng lực lao động - kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh, tạo cho các em điều kiện cơ bản để quyết định chọn
nghề, hơn thế nữa hướng nghiệp được coi như một hoạt động điều chỉnh động cơ
chọn nghề của thế hệ trẻ, sao cho mỗi thanh niên học sinh có được tâm lý sẵn
sàng lao động, thoả mãn với sự lựa chọn nghề nghiệp của mình, hăng hái bước
vào cuộc sống lao động hiện nay.
* Phương hướng thực hiện công tác hướng nghiệp
Các văn bản của Nhà nước đã để cập tới phương hướng thực hiện công tác
hướng nghiệp trước mắt và lâu dài là theo sát đường lối kinh tế của Đảng phù

+ Nội dung vừa mang tính cơ bản, tinh giản, thiết thực, vừa có tính chất
"chìa khoá" để tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh được các nội dung khác và
khả năng phát triển sâu hơn, rộng hơn ngành nghề đã học.
+ Nội dung phải đủ mềm dẻo (có phần cứng và phần mềm), có sự phân
hoá phù hợp với năng lực, sở trường của họ sinh, tăng thời lượng thực hành, vận
dụng tri thức, kỹ năng để giải quyết các vấn đề thực tiễn, đặc biệt chú ý tới năng
lực khai thác thông tin để biến các nguồn thông tin thành tri thức.
+ Làm cho học sinh biết tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ
tiên tiến của nhân loại, đồng thời phải biết phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc
bằng việc phát triển các nghề truyền thống ở địa phương và đất nước.
+ Xác định rõ hướng nghiệp là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục
nghề nghiệp. Giáo dục phổ thông dưới góc độ hướng nghiệp là để tạo nền tảng
phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Thay
đổi nội dung, giáo trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông phải chú ý đến hướng
nghiệp, dành tỷ lệ số giờ cho hướng nghiệp một cách hợp lý và thích ứng hơn.
24


+ Đảm bảo được sự cân đối giữa tri thức văn hoá khoa học và kỹ thuật – công
nghệ - hướng nghiệp. Tạo điều kiện cho học sinh nhanh chóng tiếp cận với nghề
nghiệp, đặc biệt là nghề trong định hướng phát triển cửa địa phương và đất nước.
+ Đảm bảo được sự cân đối của mối quan hệ khoa học và kỹ thuật, truyền
thống và hiện đại, cá nhân và cộng đồng, dân tộc và quốc tế
+ Đảm bảo cho người lao động tương lai hội nhập vào xã hội thông tin, do đó
yêu cầu về kỹ thuật, kỹ năng nghề phải đạt trình độ tương đương khu vực và thế giới.
+ Theo hướng phát triển liên tục, tạo điều kiện cho học sinh có thể học tập
suất đời để nâng cao trình độ và hoàn thiện nhân cách người lao động trong nền
sản xuất hiện đại.
+ Công tác hướng nghiệp phải cung cấp cho học sinh sự hiểu biết về hệ
thống nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt đối với những nghề phổ biến và quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status